Saturday, 20 April 2013

Đi tìm nguồn gốc tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người cao của Việt Nam (Bài đăng trên Doanh nhân Sài Gòn online)

http://doanhnhansaigon.vn/online/tin-tuc/kinh-te/2013/04/1073365/thu-nhap-binh-quan-dau-nguoi-viet-nam-tang-than-ky/
------------------------------

Gần đây có người chỉ ra rằng thực ra thời gian cần thiết để lấp đầy khoảng cách về thu nhập bình quân đầu người (TNBQĐN) giữa Việt Nam và các nước trong khu vực  không thực sự lớn như vẫn được biết đến (chẳng hạn WB cho rằng cần 145 năm để Việt Nam đuổi kịp Singapore), nếu trong tính toán chúng ta sử dụng tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam và các nước này trong giai đoạn 1990-2010 (như nêu ở Bảng 1, nguồn: WB),  thay vì dùng giai đoạn 2001-2007 như WB đã tính toán.

Bảng 1: Tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người của một số nước Đông Nam Á
(Đôla Mỹ)
Theo tỷ giá hiện tại
Theo sức mua ngang giá (PPP)
 
1990
2010
Tăng (lần)
1990
2010
Tăng (lần)
Việt Nam
98
1.224
12,5
654
3.185
4,9
Singapore
11.841
41.987
3,5
18.225
57.791
3,2
Indonesia
620
2.950
4,8
1.450
4.304
3,0
Thái Lan
1.495
4.613
3,1
2.841
8.500
3,0

Theo Bảng 1 thì TNBQĐN của Việt Nam tăng tới 12,5 lần trong 1900-2010, bỏ xa các nước khác trong bảng. Trong khi đó, trong 20 năm này GDP thực của Việt Nam (tính bằng đồng theo giá cố định) chỉ tăng ở mức 4,4 lần (với tốc độ tăng trưởng GDP thực trung bình – CAGR of real GDP – là 7,4%/năm). Vì mức tăng dân số trong 20 năm này là 1,3 lần nên rốt cuộc mức tăng TNBQĐN tính bằng đồng theo giá cố định chỉ còn 3,4 lần (=4,4/1,3).
Vì thế mức tăng TNBQĐN tới 12,5 lần trong vòng 20 năm là một mức tăng “thần kỳ”. Vậy sự thần kỳ này do đâu mà có?

Trong bài này ta sẽ “dựng lại” cách tính TNBQĐN để tìm câu trả lời. TNBQĐN tính bằng đôla Mỹ theo giá hiện tại (như Bảng 1) được tính theo công thức sau:
Mức tăng GDP tính bằng đôla Mỹ theo giá hiện tại = (Mức tăng GDP thực) X (Mức tăng chỉ số giảm phát GDP) / (Mức tăng tỷ giá tiền đồng) (1)

Mức tăng TNBQĐN = (Mức tăng GDP tính bằng đôla Mỹ theo giá hiện tại) / (Mức tăng dân số) (2)
Chỉ số giảm phát GDP (GDP deflator) của Việt Nam tăng tới 11,3 lần trong thời kỳ 1990-2010. Như nói ở trên, trong cùng thời kỳ này, GDP thực tăng 4,4 lần và dân số tăng 1,3 lần. Ngoài ra, tỷ giá tiền đồng tăng 3 lần trong cùng thời kỳ (số liệu search trên internet).

Đưa các số liệu này vào các công thức (1) và (2), ta có mức tăng GDP tính bằng đôla Mỹ theo giá hiện tại là 16,6 lần, và mức tăng TNBQĐN là 12,7 lần, rất sát với mức mà WB tính như ở Bảng 1 (khác biệt có thể chỉ do làm tròn số). Điều có ý nghĩa hơn là ta đã thấy được dấu vết dẫn đến sự tăng trưởng “thần kỳ” của TNBQĐN của Việt Nam. Đó chẳng qua là do chỉ số giảm phát GDP của Việt Nam tăng quá nhanh (bởi lạm phát cao), tới 11,3 lần trong 20 năm, làm cho GDP tính bằng đồng theo giá hiện tại tăng tới 49,7 lần, trong khi tỷ giá tiền đồng tăng chậm hơn nhiều, 3 lần, trong 20 năm.
Nói cách khác, chính lạm phát cao trong khi tiền đồng bị phá giá với tốc độ nhỏ hơn nhiều (tức tiền đồng lên giá thực rất mạnh) là nguyên nhân chính làm cho GDP bình quân đầu người tính bằng đôla Mỹ/người ở Việt Nam đã tăng một cách thần kỳ.

Với phát hiện này, ta có thể thấy rằng so sánh thu nhập bình quân đầu người tính bằng đôla Mỹ theo giá hiện tại, và dự tính mức tăng của nó giữa các nước khác nhau để thấy được khoảng cách tụt hậu giữa các nước thực ra sẽ không mang lại kết quả có ý nghĩa lắm, khi tốc độ lạm phát và phá giá bản tệ không được tính đến (controlled). Nếu chỉ đơn giản vậy thì con đường ngắn nhất để những nước tụt hậu như Việt Nam rút ngắn khoảng cách về thu nhập bình quân sẽ là việc tạo ra lạm phát cao trong khi áp dụng một tỷ giá chính thức (nhấn mạnh) ổn định trong nhiều năm. Với cách thức này, thậm chí Việt Nam có khi chỉ cần chừng chục năm để đuổi kịp Singapore, chứ không phải là 158 năm hay 45 năm như người ta chỉ ra!

Do nhược điểm lớn của việc tính/so sánh thu nhập bình quân đầu người dựa vào GDP tính bằng đôla Mỹ theo giá hiện hành, WB và các tổ chức thế giới mới phải đưa thêm tính toán áp dụng PPP như trong Bảng 1. Và theo bảng này thì PPP trên đầu người của Việt Nam chỉ tăng 4,9 lần trong 20 năm, không quá khác biệt so với khi tính theo tốc độ tăng trưởng GDP thực tính gộp trong 20 năm này (4,4 lần).

Với các tính toán dựa vào tốc độ tăng trưởng GDP thực hay PPP như thế này thì sẽ chẳng còn phép thần kỳ nào cho Việt Nam, và còn khá/rất lâu Việt Nam mới đuổi kịp Indonesia, chưa nói đến Thái Lan, càng không dám nói gì đến Singapore.*

------------------------------------
* Lưu ý: theo công thức tính tăng trưởng gộp, CAGR, với tốc độ tăng trưởng bình quân của GDP thực hay PPP là 7,2%/năm thì GDP thực hay PPP sẽ tăng gấp đôi cứ sau mỗi 10 năm.

Trong giai đoạn 1990-2010, tăng trưởng PPP/người của Việt Nam (số liệu Bảng 1) là 8,3%/năm. Giả sử mọi yếu tố khác không thay đổi, cho dù có sử dụng tốc độ tăng trưởng của giai đoạn 1990-2010 thì PPP/người của Việt Nam sẽ tăng 24,3 lần sau 40 năm nữa. Với PPP/người của Việt Nam vào năm 2010 là 3.185 USD thì sau 40 năm nữa PPP đầu người của Việt Nam sẽ = 3.185 X 24,3 = 77.395 USD.

Giả sử Indonesia, Thái Lan và Singapore sẽ tiếp tục có tốc độ tăng trưởng PPP/ nữa như Bảng 1 người trong vòng 40 năm (mọi yếu tố khác không thay đổi/không xét đến) thì mức PPP/người của các nước này lần lượt sẽ như ở Bảng dưới đây:

 
Tăng trưởng PPP/người/năm (1990-2010)
PPP/người đến 2020 (USD)
PPP/người đến 2030 (USD)
PPP/người đến 2040 (USD)
PPP/người đến 2050 (USD)
Việt Nam
8.2%
7.029
15.511
34.230
75.539
Singapore
5.9%
102.910
183.254
326.324
581.093
Indonesia
5.6%
7.415
12.775
22.010
37.921
Thái Lan
5.6%
14.703
25.431
43.989
76.088

Như vậy, nhanh thì cũng phải hơn chục năm nữa Việt Nam mới đuổi kịp Indonesia và hơn 20 năm nữa mới đuổi kịp Thái Lan. Còn Singapore thì... hãy đợi đấy!

Friday, 19 April 2013

Bình luận nhanh về chuyện đồng chí Đặng Thị Hoàng Yến và ITA

Đọc Thông điệp của đồng chí Yến trong Báo cáo thường niên của ITA tớ thấy hơi chán/tiếc cho đồng chí này. Nếu ở cương vị là một cổ đông của ITA thì tớ chẳng khoái gì những dòng "tâm tư" trong thông điệp của đồng chí này, vốn dành cho những người là cổ đông như tớ, một tí nào cả. Những gì tớ được nghe về đồng chí này và những vấn đề mà đồng chí ấy nêu trong Thông điệp của mình dường như có liên quan với nhau.

Cái cách đưa ra thông điệp dường như lại biến vấn đề cá nhân của mình thành vấn đề chung của ITA. Mặc dù là Chủ tịch của ITA nhưng đồng chí Yến rõ ràng không phải là chủ nhân duy nhất của ITA, mà còn có những người là cổ đông như tớ, vốn có thể chẳng ưa gì đồng chí Yến và/hoặc những vấn đề của cá nhân đồng chí ấy, cũng như không quan tâm đến cuộc tranh chấp giữa đồng chí Yến với một thế lực nào đó (có vẻ rất mạnh, qua lời bộc bạch trong Thông điệp).

Hoặc cũng có thể đối với những cổ đông như tớ, tớ chẳng phiền lòng chút nào về thế lực nào đó thâu tóm ITA vì biết đâu thế lực đó mạnh thì sau khi thâu tóm sẽ làm ITA tốt hơn, mang lại nhiều lợi ích cho ITA hơn v.v... Tức là cá nhân tớ sẽ có lợi hơn là để ITA dưới quyền chủ tịch của đồng chí Yến. Do đó, có khi tớ lại mong muốn ITA được thâu tóm bởi thế lực đó, và mong đồng chí Yến sớm ra đi.

Tóm lại, Thông điệp là một sai lầm chiến lược, thậm chí có tác dụng ngược khi kích thích sự say máu/trả thù của thế lực thù địch, gây (thêm) chán ghét/xét lại/chia rẽ trong nội bộ ITA, hạ thấp (thêm) hình ảnh cá nhân đồng chí Yến khi nhập nhằng chuyện chung riêng.

Wednesday, 17 April 2013

Phiếm về cuộc chiến giữa đồng chí TS Alan Phan và Câu lạc bộ bất động sản (CLBBDS)

Cho đến hôm nay tớ mới chịu khó ngồi đọc từ đầu đến cuối 15 câu hỏi của CLBBDS, thư trả lời của đồng chí Alan, và một số thông tin liên quan vì thấy có một số điều đáng nói.

Trước tiên, phải nói là tớ đã tình cờ gặp, đúng hơn là nhìn thấy đồng chí Alan từ cự ly khoảng 5m, trên chuyến bay từ Đà Lạt về Sài Gòn hồi đầu tháng này. Đó là một ông già thấp bé, hom hem, không gây được sự chú ý của những người đứng chen chân ngay bên cạnh trên lối đi chật hẹp của máy bay đang đợi cho hành khách xuống, mặc dù chắc hình ảnh của đồng chí Alan chắc hiện nay phổ biến ở Việt Nam không kém các nguyên thủ quốc gia tại xứ sở này. Định ra chào hỏi, xin làm quen nhưng tớ lại thôi vì cũng chẳng để làm gì.

Tớ đưa chuyện nhìn thấy này ra đây cũng một phần vì liên hệ đến một bức trảnh minh họa trong một bài viết của ai đó, hình như của đồng chí GS Nguyễn Văn Tuấn, về chuyện tranh luận. Bức tranh vẽ hình 2 con tôm, một con tôm hùm to lớn, gân guốc, lực lưỡng và một con tôm riu, đứng ở 2 cái bục diễn thuyết đối mặt với nhau, với một câu nói của con tôm hùm hình như liên quan đếǹ hình thể còi cọc của con tôm đối thủ chứ không phải là lập luận của con tôm riu này.

Trong cuộc chiến giữa đồng chí Alan và CLBBDS, “cán cân thể hình” rõ ràng lệch hẳn về bên CLBBDS khi họ áp đảo về số lượng, với những gương mặt trẻ trung hơn, hồng hào béo tốt, túi thậm chí chắc cũng nặng hơn và mồm thì cũng to hơn ông già Alan hom hem, yếu ớt. Chợt tớ thấy thương ông già Alan khi tự nhiên vướng vào một cuộc chiến bất cân sức khi gần như phải thân già một mình một ngựa, tuy có sự cổ vũ nhiệt liệt của khá đông quan sát viên, nhưng phần lớn chắc là dân thường. Do rất thường có ý kiến đi ngược lại với số đông nên tớ cũng không ít lần rơi vào tình cảnh gần giống thế này (khác chăng là ở quy mô của cuộc chiến và sự đơn độc đến ái ngại của tớ trong các cuộc chiến đó), bởi thế̀ rất đồng cảm và có thể hình dung đồng chí Alan đã và sẽ có những giây phút tâm lý bị tra tấn như mình đã trải qua.

Nếu đồng chí nào quan tâm hẳn còn nhớ tớ đã từng viết khá nhiều về chứng khoán Việt Nam hồi những năm 2006-08. Có những bài như bài này  [1] đã tạo ra một cơn giận dữ trong cộng đồng dân chơi/đầu tư chứng khoán, với những lời công kích, mạt sát (vào cá nhân tớ, tất nhiên) trên một số diễn đàn, kiểu như thế này vì chúng đã “trót” góp phần làm cho giá chứng khoán đảo chiều gây phương hại đến quyền lợi của giới đầu tư chứng khoán.

Một số người khác thì cũng đặt thẳng vấn đề phải chăng tớ có động cơ đen tối là dọn đường để giới đầu tư chứng khoán nước ngoài (Nhật) nhảy vào hốt xác chết khi giá chứng khoán đã tụt giảm. Hoặc trong cuộc tranh luận về chuyện cắt giảm lãi suất trước đây (tớ cũng lại hầu như đơn độc), một số đồng chí phê bình viên thậm chí còn đi xa đến mức cho rằng tớ kêu gọi thận trọng với cắt giảm lãi suất là vì tớ làm cho ngân hàng, muốn giữ lãi suất cao để có lợi cho ngành! Thật là sự trùng hợp thú vị khi tớ đọc được bài này của đồng chí Cường, Chủ tịch CLBBDS khi nghi ngờ rằng đồng chí Alan cũng đang dọn đường, theo đơn đặt hàng cho giới cá mập nước ngoài!

Một sự trùng hợp thú vị khác là tớ cũng bị một số đồng chí trong dư luận đập tơi tả vì can tội không có chuyên môn về chứng khoán/tài chính (căn cứ vào đề tài luận văn tiến sĩ của tớ) mà lại bàn về chứng khoán cứ như đúng rồi. Chuyện xảy ra với đồng chí Alan cũng tương tự khi một số đồng chí cộm cán như Đoàn Nguyên Đức hay CLBBDS đặt vấn đề đồng chí Alan đã hiểu biết như thế nào, đến đâu về thị trường bất động sản Việt Nam mà phán lung tung thế.

Ở một khía cạnh khác, tớ cũng từng bị vướng vào cuộc tranh luận trên Dân Luận hồi này năm trước, liên quan đến câu nói mà đồng chí Phó chủ nhiệm văn phòng quốc hội Nguyễn Sĩ Dũng trích dẫn (“Nhà nước chỉ được phép làm những gì pháp luật cho phép”). Trong cuộc tranh luận mà tớ hoàn toàn đơn thương độc mã chống lại cả một dàn hỏa công hùng mạnh của đối phương này, tớ đã phải cố gắng tối đa giữ mình bình tĩnh, không mất/suy sụp tinh thần để có những hành động, phát ngôn ngu xuẩn, đặc biệt là khi ngay cả những người thân thiết với mình đã gần như quay lưng lại với mình chỉ vì họ ủng hộ, bênh vực đồng chí Dũng. Điều đáng nói là phe đối phương chắc đa phần là trí thức xịn, ở nước ngoài, mà cuối cùng một số người cũng dùng đến cái võ đánh dưới thắt lưng với tớ.

Quay trở lại với đồng chí Alan và CLBBDS. Câu hỏi của giới bất động sản là căn cứ vào đâu mà đồng chí Alan lại kết luận rằng (nếu để rơi tự do) giá nhà sẽ giảm thêm 30%-50%, và không giải cứu thì địa ốc sẽ đi lên sau 4-5 năm, rồi thì nếu giá bất động sản giảm 50% nữa thì có bằng giá thành xây dựng hay không v.v... Tớ dám chắc rằng khi nói như vậy thì đồng chí Alan cũng chỉ là nói mò, theo cảm tính. Nếu nói khác đi thì đồng chí Alan chắc chắn đang tự lừa dối mình (hay bạn đọc cũng đang tự lừa dối mình khi bảo vệ ý kiến của Alan). Chưa nói thêm rằng cả đồng chí Alan và CLBBDS đang cãi nhau về những con số vô nghĩa. 30%-50% là so với mức nào, ở thời điểm nào, tính từ khi nào?

Nhưng vấn đề quan trọng không phải là con số cụ thể, tuyệt đối, mà là xu hướng. Cũng giống như tớ trong các bài viết về chứng khoán Việt Nam thời hoàng kim (2006-07), tớ thường chỉ có thể đưa ra phân tích và nhận định rằng chứng khoán đang phát triển bong bóng và sự sụp đổ của nó là không thể tránh khỏi trong thời gian tới (bao lâu và đến đâu thì tớ chịu). Trên góc độ này, đồng chí Alan đã rất đúng, nhưng … không có gì đáng khâm phục cả! Vì xu hướng của thị trường bất động sản ắt phải như vậy (đi xuống, có thể rất mạnh, khi không có sự can thiệp của nhà nước, rồi lại phục hồi sau một số năm). Giá như cách đây mấy năm, thời tiền hoàng kim của bất động sản, đồng chí Alan đưa ra được dự đoán và nhận định rằng thị trường bất động sản sẽ lên cơn sốt, đạt đỉnh điểm vào năm 201x rồi sau đó sẽ tụt dốc thảm hại thậm chí đến mức y% (so với thời điểm 20zz) thì lúc này nhìn nhận lại chúng ta mới có thể tung hô đồng chí Alan như một nhà tiên tri/kinh tế học đại tài. Bằng không, những gì mà đồng chí Alan đưa ra bây giờ cũng nói dựa vào hiện trạng thị trường, theo cảm tính, theo xu thế đương nhiên sẽ phải xảy ra.

Định nói lan man thêm nhưng quyết định dừng ở đây, phần vì đang viết trong giờ làm việc, phần vì phong cách viết của đồng chí Alan màu mè, hoa mỹ, trơn tuồn tuột, khó lôi ra được điểm nào đó để bình luận, trái ngược với cung cách/phong cách của giới bất động sản thường thô thiển, lý luận tầm thường, cắc cớ, không có mấy giá tri đáng̣ để bình luận.

Các đồng chí bạn đọc thử giúp tớ lôi ra một số điểm liên quan đến đồng chí Alan và giới bất động sản đáng để bình luận với!
----------------------------
[1] Tình cờ trong lúc search lại bài này, tớ tìm được bài có nhiều nét tương đồng của đồng chí Hiệu Minh ở link này: http://hieuminh.org/2011/05/24/chung-khoan-va-cho-nhat/

Tuesday, 16 April 2013

Gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng không giải cứu bất động sản thì “hỗ trợ” cái gì?

Trong bài báo này trên VnMedia, đồng chí Thống đốc Bình biện bạch như thế này: “Gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng đưa ra để nhằm hỗ trợ cho người thu nhập thấp vay vốn mua nhà. Ngân hàng nhà nước không đặt vấn đề đưa ra gói này để cứu bất động sản hay hỗ trợ một phần cho doanh nghiệp bất động sản”.

 Nói như thế xong, ở đoạn sau, đồng chí Thống đốc lại giải thích thêm cho rõ: “Gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng mà Chính phủ dự kiến sẽ đưa ra trong thời gian tới nhằm mục đích mang lại sự bình ổn của thị trường bất động sản, nó sẽ có tác động lan tỏa tốt với nền kinh tế. Gói hỗ trợ này hướng tới người sử dụng, đối tượng mua nhà, trong đó ưu tiên số một là những đối tượng chính sách xã hội và người thu nhập thấp”.

 Đồng chí Bình còn chỉ thị mang tính định hướng cho thị trường bất động sản như sau: “Ngoài những hỗ trợ về chính sách, tài chính, cần phải đảm bảo nguồn cung phù hợp với đối tượng mua nhà. Nếu không có nguồn cung thì phải chuyển đổi công năng một số dự án sang cho phù hợp với nhu cầu. Vì vậy, cũng cần phải hỗ trợ các doanh nghiệp làm nhà chuyển sang phân khúc này”.

 Tớ có thể̉ bình luận ngay ở đây rằng tại sao NHNN, chính phủ lại đặt ra vấn đề “hỗ trợ” người thu nhập thấp vay vốn mua nhà lúc này? Sao không phải là một năm, hai năm, hoặc thậm chí là 10 năm trước đây? Phải chăng đột nhiên NHNN/chính phủ động lòng thương xót dân nghèo không có nhà ở? Hơ hơ, tớ chẳng dám lạc quan đến thế đâu!

 Tiếp theo, cần phân tích cái gọi là “nhằm mục đích mang lại sự bình ổn của thị trường bất động sản” mà đồng chí Bình nói ở trên. Nói như vậy có nghĩa là thị trường bất động sản hiện tại đang “không bình ổn”. Mà thực tế xem ra có vẻ như vậy thật. Vậy thị trường bất động sản đang “không bình ổn” như thế nào? Phải chăng đó là sự rơi giá mạnh của bất động sản, sự ế chỏng của các dự án bất động sản bất chấp các biện pháp “tháo gỡ” của cả giới chủ đầu tư xây dựng bất động sản và Chính phủ/NHNN? Nếu vậy có thể rút ra là thị trường bất động sản hiện nay đang bất lợi cho giới chủ đầu tư xây dựng bất động sản và nhóm bè cánh thân hữu, có liên quan. Suy ra tiếp, mọi hình thức can thiệp vào thị trường bất động sản lúc này làm tăng nhu cầu bất động sản đều trực tiếp hay gián tiếp mang lại lợi ích cho các nhóm lợi ích này. Mà như thế cũng có nghĩa là việc tung ra gói “hỗ trợ” 30.000 tỷ thực ra là, trước tiên, làm lợi cho các nhóm lợi ích này, chứ không thể nói một cách bạt mạng là không phải hỗ trợ cho doanh nghiệp bất động sản.

 Có thể NHNN hay ai đó vẫn còn cố gắng biện bạch rằng gói “hỗ trợ” cũng làm lợi cho người mua nhà có thu nhập thấp để lấy lại tí điểm trong con mắt dư luận. Tớ khẳng định luôn rằng không nhất thiết như vậy. Về nguyên tắc, như đã nói ở trên, khi tung ra gói “hỗ trơ” thì giá nhà nói chung, nhà ở “xã hội” nói riêng sẽ ngừng/bớt rơi thêm. Mà như vậy thì cho dù có được vay vốn ưu đãi từ gói “hỗ trợ” này để mua nhà thì người thu nhập thấp vẫn vô hình trung bị/được mua nhà đắt hơn cái mức có thể có. Và vì gói “hỗ trợ” chỉ như một giọt nước trong cơn khát nguồn cầu của giới chủ bất động sản nên không ai có thể khẳng định rằng sau khi tung gói này ra thì giá bất động sản nói chung và giá nhà “xã hội” nói riêng sẽ không giảm đi nữa. Liên hệ với thị trường chứng khoán, tớ mượn câu nói của ai đó: “cổ phiếu ngược đãi” khi nói về việc cổ đông “được” mua cổ phiếu ưu đãi để rồi sau một thời gian phải chứng kiến giá cổ phiếu ưu đãi của mình sụt giảm thê thảm để mô tả viễn cảnh người thu nhập thấp mua nhà xã hội hiện nay sẽ “được” thấy giá căn nhà của mình đang từ, ví dụ, 14 triệu/m2 rơi xuống còn 12 triệu/m2 sau, ví dụ, 6 tháng mua nhà, trong khi gánh nợ vẫn được tính theo giá 14 triệu/m2.

 Bởi thế, nếu thực sự “vì dân” như cái chiêu bài hay được mang ra sử dụng này thì thay vì tung ra gói “hỗ trợ”, NHNN/Chính phủ nên khoanh tay ngồi im, chẳng cần làm cái gì cả, để chò giá bất động sản tiếp tục rơi thêm đến một mức nào đó mà người thu nhập thấp thấy quả thật là giá nhà đã rất phù hợp, “nhao nhao” lên tiếng xin vay vốn “hỗ trợ” để mua nhà. Lúc đó NHNN mới nên tung ra gói “hỗ trợ”, nếu xét thấy mình nên đóng thêm vai làm từ thiện, cứu khổ cứu nạn dân nghèo, chứ không phải chỉ đóng khung trong vai trò là một ngân hàng trung ương.

 Nếu làm khác đi, tung gói “hỗ trợ” ra bây giờ thì không thể nói khơi khơi rằng nó là vì dân (thu nhập thấp), mà phải thừa nhận cho rõ rằng nó nhằm cứu giới chủ bất động sản trước hết. Tất nhiên, sau đó thì nó có tác dụng đến đâu, cho ai nữa, thế́ nào v.v… là chuyện khác.

 Cái cách đồng chí Bình chỉ đạo: “… cần phải đảm bảo nguồn cung phù hợp với đối tượng mua nhà. Nếu không có nguồn cung thì phải chuyển đổi công năng một số dự án sang cho phù hợp với nhu cầu. Vì vậy, cũng cần phải hỗ trợ các doanh nghiệp làm nhà chuyển sang phân khúc này”, thực chất là đã bật đèn xanh cứu giới chủ bất động sản. Đưa ra gói “hỗ trợ” trong lúc thị trường chưa có (đủ) nguồn cung nhà xã hội thì có nghĩa là đồng chí Bình lại khuyến khích các doanh nghiệp bất động sản nhảy vào xây (thêm) nhà xã hội. Việc này khó/không thể xảy ra, đơn giản vì doanh nghiệp bất động sản giờ đã cạn (nguồn) vốn và không chắc đã bán được sản phẩm khi làm xong, khi mà các sản phẩm khác (nhà ở thương mại) đang thừa đầy rẫy, chưa bán được. Vậy thì chỉ còn khả năng là nhân chuyện này, các doanh nghiệp bất động sản được bật đèn xanh, được Chính phủ (gián tiếp) hỗ trợ cho việc chuyển đổi nhà thương mại thành nhà xã hội nhằm thực hiện cái chủ trương “nhân đạo”, người nghèo có nhà, nói trên, đúng như đồng chí Bình đã chỉ đạo.

 Nói cách khác, đây mới là “tim đen” của những người chủ trương tung gói “hỗ trợ” cho vay mua nhà dưới chiêu bài giúp người thu nhập thấp có nhà trong thời điểm này.  Trong bài báo trên còn có đoạn: “Đại diện Bộ Xây dựng cho biết, gói tín dụng 30.000 tỷ đồng được đưa ra căn cứ nghị quyết 02/NQ -CP. Đây là chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm hỗ trợ về nhà ở cho các đối tượng thu nhập thấp, cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản hiện nay. Ngân hàng nhà nước sẽ cấp cho 5 ngân hàng thương mại nhà nước để cho các đối tượng thu nhập thấp vay vốn thông qua hình thức tái cấp vốn. Vì vậy, ngân hàng nhà nước sẽ giám sát, thẩm định rất kỹ. Song song, Bộ Xây dựng cũng là đơn vị xem xét, đề xuất duyệt các doanh nghiệp đủ điều kiện được vay. Do vậy, sẽ không dễ dàng để xảy ra việc các ngân hàng cho vay không đúng đối tượng, mục đích”.

Với câu: “…tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản hiện nay”, rõ ràng ít nhất thì Bộ Xây dựng đã thừa nhận rằng̀ gói “hỗ trợ” là nhằm cứu thị trường bất động sản, tức là cứu giới chủ đầu tư. Thế thì tốt nhất là NHNN đừng có ngụy biện nữa.

Cũng nhân đây tớ nhắc nhở các đồng chí ở mấy cái Bộ này rằng đừng có khẳng định rằng việc cho vay này sẽ đúng đối tượng, vì cái kiểu phát biểu này đầy rẫy hồi năm 2008 khi Chính phủ tung ra gói hỗ trợ lãi suất để rồi kết cục thế nào thì tớ miễn phải nhắc lại.

Thursday, 4 April 2013

Lại nói chuyện liên quan đến tỷ giá VND

Tớ đã định viết về chuyện này từ mấy tuần trước nhưng rồi bận nên quên béng mất. Nhân đọc bài “GDP Việt Nam thua Singapore 45 hay 158 năm” (hình như còn có tên khác là “Sự thật về…”), mặc dù đã viết về chủ đề này đôi lần nhưng thấy vẫn cần phải viết thêm đôi chút, từ một góc độ khác.

Tác giả sử dụng số liệu GDP trên đầu người danh nghĩa trong giai đoạn 1990-2010 để chứng minh rằng với mức tăng tới 12,5 lần, Việt Nam không mất đến hàng trăm năm để đuổi kịp Singapore.
Tớ cũng hơi sửng sốt trước mức tăng này và cách lập luận của tác giả. Đầu tiên tớ google lại số liệu để so sánh, đối chiếu với số liệu của tác giả, thì thấy con số GDP trên đầu người danh nghĩa năm 1990 của Việt Nam (tính bằng USD theo current prices) không thống nhất lắm, chênh lệch nhau khá nhiều, làm cho mức tăng trong 20 năm này không đến mức độ thần tốc như vậy. Nhưng tớ không muốn comment vấn đề bằng cách vạch ra sự khác biệt số liệu, mà chấp nhận rằng đây là con số có thực.

Vậy điều gì làm Việt Nam tăng trưởng thần tốc như vậy nếu biết rằng tốc độ tăng GDP tính bằng VND theo giá so sánh/cố định (GDP at constant VND prices, real GDP) chỉ là khoảng 7%-8%/năm trong giai đoạn này, trong khi tốc độ tăng dân số cũng vào khoảng hơn 2%/năm (làm cho tốc độ tăng GDP trên đầu người nhỏ hơn 5-6%/năm)?
Vì số liệu tác giả sử dụng là GDP danh nghĩa tính bằng USD theo giá hiện hành trên đầu người (đề nguồn từ WB) nên để có được số liệu này thì tớ đoán rằng/có thể đương nhiên là WB phải dùng GDP danh nghĩa bằng VND theo giá hiện hành (GDP at current VND prices) chia cho tỷ giá VND hiện hành để ra được GDP danh nghĩa bằng USD theo giá hiện hành (GDP at current USD prices), rồi từ đó chia tiếp cho dân số từng năm để ra được con số 98 USD/người vào năm 1990 và 1.224 USD/người vào năm 2010.

GDP at current USD prices = GDP at current VND prices/VND exchange rate (1)
GDP per capita = GDP at current USD prices/population (2)

Đến đây ta có thể thấy dấu vết dẫn đến sự thần kỳ Thánh Gióng này. Đó là tỷ giá VND và GDP deflator tại Việt Nam. GDP deflator của Việt Nam tăng từ mức 31,79 năm 1990 lên 359,12 năm 2010 (tức tăng 11,3 lần).
GDP deflator =  GDP at current VND prices/GDP at constant VND prices x 100  (3)

Trong khi đó, tỷ giá VND tăng từ 6,482 lên 19,505 trong cùng thời kỳ, tức tăng có 3 lần (số liệu tớ nhặt từ google).
Tớ chưa search được real GDP growth rate của Việt Nam trong 20 năm này nên tạm giả sử rằng nó đạt mức trên 7%/năm một chút. Sau 20 năm, real GDP của Việt Nam sẽ tăng khoảng 4 lần hoặc hơn một chút. Với GDP deflator tăng 11,3 lần, theo (3), ta có GDP at current VND prices (nominal GDP) của Việt Nam đã tăng khoảng 45 lần trong 20 năm.

Lắp mức tăng exchange rate và nominal GDP vào (1), ta có mức tăng của GDP at current USD prices của Việt Nam trong 20 năm là khoảng 45/3=15 lần. Nếu trừ đi tốc độ tăng dân số thì ta có mức tăng GDP per capita theo (3) không quá sai lạc so với con số 12,5 lần của WB.

Như vậy có thể nói rằng “kỳ tích” tăng trưởng ngoạn mục làm GDP trên đầu người tính theo USD danh nghĩa ở Việt Nam (12,5 lần) chẳng qua đa phần là do tỷ giá bị kìm nén, tăng chậm hơn lạm phát rất nhiều.
Suy ra tiếp, con đường ngắn nhất để Việt Nam tiếp tục đạt được “kỳ tích” trong 20-50 năm tới nhằm đuổi kịp Singapore là NHNN ban hành và cho áp dụng một tỷ giá chính thức “dẫm chân tại chỗ” như hiện tại, trong khi tiếp tục cấp tập bơm tiền làm cho lạm phát nhảy vọt lên vài chục %/năm, đảm bảo không quá 10 năm sau Việt Nam sẽ vượt mọi quốc gia khác trên thế giới về quy mô GDP và GDP trên đầu người mà không cần phải lao tâm khổ tứ tìm cách/mô hình tăng trưởng này khác làm gì.

(Nói nhỏ, vì thế mà WB hay các tổ chức thế giới mới phải áp dụng PPP, và theo bảng số liệu trong bài gốc công bố thì PPP trên đầu người của Việt Nam chỉ tăng chưa đến 5 lần trong 20 năm, khá sát với khi tính theo tốc độ tăng trưởng real GDP tính gộp trong 20 năm này. Với cách tính gộp này thì, như tớ đã nói ở các bài trước, còn khướt Việt Nam mới đuổi kịp Indonesia, chưa nói đến Thái Lan, Malaysia, càng không dám nói gì đến Singapore).

Tuesday, 2 April 2013

Miền Bắc, miền Nam

Cả mấy tháng nay nói toàn chuyện đao to búa lớn (toàn chuyện phang) nên hôm nay tớ đổi món tí. Chẳng là giờ tớ đang nằm trong một khách sạn tại Đà Lạt gõ những dòng này, sau mấy hôm vừa ở Sài Gòn lên. Tớ vào/đi Sài Gòn đến chuyến đi vừa rồi tổng cộng là 5 lần, trong đó có 4 lần đi công tác từ Hà Nội vào hoặc từ Sing về. Ngoài Sài Gòn, tớ chẳng biết đến tỉnh miền Nam nào khác (miền Trung cũng không khá hơn. Miền Bắc thì khá hơn rõ rệt). Nên chuyến đi này tớ lên lịch đi mấy tour đến mấy tỉnh xung quanh SG (nhưng chủ yếu đi tour, cưỡi ngựa xem hoa) sau khi từ Đà Lạt về.

Đối với tớ, miền Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng xa lạ như ở nước ngoài, đặc biệt là những lần đến đầu tiên. Xa lạ từ ngôn ngữ, phong tục, món ăn, môi trường, khí hậu, con người, nếp sống v.v... Những ấn tượng lần đầu đến SG (năm 1992) gồm:
* Đi bộ dọc con đường nối đến cảng gì đó xe container chạy đầy mà không thấy có bụi như Hà Nội (nên nhớ là Hà Nội theo tớ lúc đó cũng không có nhiều bụi như bây giờ).
* Khí hậu khá ôn hòa. Tớ ở trong nhà nghỉ của công ty, lúc đó chỉ có cái quạt cây, nằm ngủ giữa trưa mà không thấy oi bức như mùa hè HN (hình như lúc đó là tháng 9-10 gì đó).
* Ngôn ngữ mặc dù cũng là tiếng Việt nhưng đối với tớ nhiều lúc chẳng khác mấy tớ đang nghe tiếng Anh (đương nhiên tiếng Anh lúc đó của tớ rất "lởm khởm" - không biết cái từ này bây giờ có còn được dùng hay không nhỉ?).
* Giao tiếp, nói năng rõ ràng trong SG hơn hẳn HN, đặc biệt là các em gái! Tớ còn nhớ rõ, tớ và một người họ hàng nữa vào một tiệm cafe/ăn uống gì đó. Cô chủ đang ngồi bên trong, thấy bọn tớ vào đang lựa chọn chỗ ngồi, nói luôn: "Trời, hai anh đẹp giai quá!" theo giọng SG. Người họ hàng của tớ thì đương nhiên là đẹp giai, nên theo logic thì là cô chủ này nói thật (về tớ, tất nhiên!). Vừa nói thật, vừa nói ngọt, đó là lý do tớ khoái và nhớ đến tận giờ! Chuyện này tớ còn được trải nghiệm một đôi lần ở cơ quan nơi tớ đến làm việc nên tớ càng thêm khoái các cô SG (là về cách nói thôi nhé, chứ hồi đó tớ chưa đủ thời gian và cơ hội gặp/thấy cô nào hấp dẫn). Còn đàn ông SG thì cũng phải công nhận là cách nói năng của họ lễ phép, lịch sự hơn dân ngoài Bắc, mà bằng chứng mới nhất là sáng nay từ khách sạn ra sân bay Tân Sơn Nhất, tớ bắt taxi của một cậu sau hỏi ra mới biết là người SG ở quận 7, cứ một điều chú, hai điều con, giọng rất lễ phép. Đến lúc được tip thêm ít tiền lẻ, cậu ta cảm ơn rất chân thành làm tớ cũng cảm động.
* Ăn uống thì thành thực mà nói tớ chẳng có ấn tượng gì, cũng có thể tớ ăn cơm rau mẹ nấu quen rồi, ít ăn ngoài nên khẩu vị không có khả năng thưởng thức món lạ.

Lần này có thời gian lưu trú và la cà phố phường hơn nên thấy đường phố và văn minh đô thị, giao thông ở SG tốt hơn HN khá nhiều.

Gặp mấy người bạn của vợ định cư ở thành phố này có đến 20 năm có lẻ, làm ăn phát đạt từ mức vừa phải trở lên, hỏi thì ai cũng nói không có ý định quay ra HN nữa. Có người thì nói rằng cá tính không phù hợp với môi trường ở HN nên thậm chí thất nghiệp, buộc phải vào SG rồi thành nghiệp. Ai cũng rủ về SG làm ăn sinh sống vì chỉ có SG mới có môi trường gần với nước ngoài nhất. Tớ nghe thì cũng ừ ừ, gật gật nhưng tự nghĩ là thường có phải ai cũng chủ động chọn được nơi mình sinh ra, lớn lên, học hành rồi làm ăn đâu, và chọn được rồi chắc đâu đã tối ưu.

Thôi thì SG, HN hay một nơi nào đó trong hay ngoài Việt Nam, luôn tự an ủi đấy là số phận, dù thích hay không.

Friday, 29 March 2013

Tiếp tục trao đổi chuyện có nên phá giá tiền đồng (Bài đăng trên TBKTSG online)

http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/93790/Tiep-tuc-trao-doi-chuyen-co-nen-pha-gia-tien-dong.html

(TBKTSG Online) - Trên TBKTSG số ra ngày 21-3 có bài viết “Chưa phải lúc phá giá tiền đồng” của tác giả Tấn Đức phản biện lại bài viết “Có nên phá giá tiền đồng không?” của tôi đăng trên TBKTSG số ra ngày 14-3-2013. Nhận thấy bài viết của tác giả có một số luận điểm chưa ổn nên tôi muốn mang ra mổ xẻ trong bài này để tiện cho độc giả hiểu rõ thêm vấn đề.

1. Tác giả viết: “Quan điểm chính của bên ủng hộ (chuyện phá giá) cho rằng, tiền đồng đã mất giá nhiều do lạm phát trong những năm qua nên cần phá giá để kích thích xuất khẩu...”

“Tiền đồng đã mất giá nhiều” thì sao lại phải tiếp tục phá giá? Chưa kể, tác giả trích dẫn sai ý kiến của bên ủng hộ. Bên ủng hộ, ít nhất là tôi, không nói rằng “tiền đồng đã mất giá nhiều do lạm phát”, vì như thế là sai về thuật ngữ. Cần nói chính xác rằng “tiền đồng đã lên giá thực (nhiều) so với đô la Mỹ do lạm phát ở Việt Nam cao hơn lạm phát ở Mỹ”.

2. Tác giả viết: “(Bên ủng hộ cho rằng) lạm phát đang ở mức thấp, cán cân thương mại hiện nay đang có thặng dư. Đó là cơ hội tốt để phá giá tiền đồng”.

Bên ủng hộ ít nhất là có tôi không nói rằng cán cân thương mại đang thặng dư là cơ hội tốt để phá giá (bản thân tôi cũng không nói rằng lạm phát thấp là cơ hội tốt để phá giá). Ngược lại, (theo lý thuyết và thực tế) phá giá là để cải thiện cán cân thương mại, làm cho nó từ thâm hụt sang thặng dư. Phát biểu trên chỉ là ý kiến chủ quan của tác giả áp đặt vào cho bên ủng hộ, chứ không phải là ý kiến của những người ủng hộ phá giá như tôi.

Như vậy, lập luận sau đó của tác giả về chuyện tính bền vững của xuất siêu là lạc đề, vì xuất siêu không phải là cái cớ để những người như tôi kêu gọi phá giá. Ngược lại, tôi cũng đồng ý với tác giả rằng xuất siêu của Việt Nam như hiện nay là không bền vững. Nói cách khác, rất có khả năng xuất siêu như hiện tại sẽ nhanh chóng chuyển sang nhập siêu, như đang cho thấy từ con số thống kê xuất nhập khẩu trong tháng 3 này. Cộng thêm với quá khứ nhập siêu kinh niên trong nhiều năm, nhiều tháng qua, việc kêu gọi phá giá của bên ủng hộ để cải thiện cán cân thương mại là hoàn toàn hợp lý, hợp logic.

Nếu muốn phản biện, xin tác giả hãy chứng minh rằng phá giá không giúp cải thiện cán cân thương mại (tức không giúp đạt được xuất siêu), là điều mà bên ủng hộ như tôi đã chỉ ra. Cũng vì đặt vấn đề sai (biến ý kiến của tác giả thành ý kiến của đối phương) nên lập luận của tác giả để chứng minh rằng xuất siêu hiện nay là không bền vững là lạc đề, mặc dù, xin nói lại, tôi cũng ủng hộ lập luận này (xuất siêu hiện nay là không bền vững) của tác giả, đơn giản vì tiền đồng vẫn lên giá thực quá nhiều so với đô la Mỹ nên trước sau nhập siêu cũng sẽ quay trở lại và Việt Nam sẽ phải phá giá (hay nói theo ngôn ngữ thường dùng của NHNN là “điều chỉnh” tỷ giá).

3. Tác giả viết: “NHNN có đang chịu áp lực phải bơm ngoại tệ ra để ổn định tỷ giá không? Câu trả lời là không”.

Ít nhất là có tôi bên ủng hộ không nói rằng hiện nay NHNN đang chịu áp lực bơm ngoại tệ để ổn định tỷ giá, mặc dù trên thực tế nhiều khi một trong những động cơ để phá giá là việc ngân hàng trung ương bất lực trong việc can thiệp vào thị trường ngoại hối để ổn định tỷ giá, như ở Việt Nam thời gian qua và các nước khác (Đông Nam Á trong cuộc khủng hoảng tài chính khu vực). Nhưng cũng như tác giả đã nhận định, tình trạng NHNN phải mua vào đô la Mỹ như vừa qua có thể không kéo dài khi nhu cầu đô la Mỹ tăng lên. Như vậy, đến lúc NHNN phải chuyển sang trạng thái ngược lại là bán đô la Mỹ ra để giảm áp lực phá giá tiền đồng thì lời kêu gọi phá giá của chúng tôi là hợp lý phải không, thưa tác giả?

Nói cách khác, nếu muốn phản đối ý kiến của chúng tôi, tác giả cần phải làm ngược lại, là chứng minh rằng phá giá tiền đồng không giúp làm giảm áp lực bơm ngoại tệ của NHNN ra thị trường để ổn định tỷ giá, chứ không phải là đi chứng minh rằng hiện nay NHNN đang phải mua vào đô la Mỹ nên không cần phá giá như tác giả đã làm trong bài viết của mình (tức là tác giả tiếp tục lạc đề).

4. Tác giả dùng số liệu xuất nhập khẩu để chứng minh rằng khi phá giá thì sẽ làm giá cả hàng hóa nhập khẩu tăng lên, nhất là xăng dầu, điện... làm tăng nguy cơ đẩy lạm phát lên. Đương nhiên lập luận này của tác giả là đúng, và không ai, ít nhất là tôi, phủ nhận rằng khi phá giá sẽ làm tăng áp lực lạm phát (thực ra tác giả không cần thiết phải mất công tìm và nêu ra chi tiết số liệu xuất nhập khẩu để chứng minh điều này, vì đó là điều hiển nhiên). Nhưng như tôi đã nói trong bài viết trước, áp lực phải phá giá thường đến từ lạm phát tăng, mà đến lượt nó lại do chính sách tiền tệ nới lỏng.

Một trong những lý do mà chúng tôi ủng hộ chuyện phá giá là, như đã nói ở trên, tiền đồng đã lên giá thực so với đô la Mỹ là hậu quả (phần lớn) của chính sách tiền tệ nới lỏng gây lạm phát cao ở Việt Nam trong suốt mấy năm qua so với lạm phát ở Mỹ. Vì vậy, việc phá giá tiền đồng, nếu có, chỉ là hậu quả (bắt buộc phải làm, phải gánh chịu), chứ không phải là nguyên nhân (gây ra lạm phát). Quan trọng hơn, nếu muốn giảm áp lực lạm phát ở Việt Nam từ việc “nhập khẩu lạm phát” qua kênh nhập khẩu thì NHNN hoàn toàn có thể dùng chính sách tiền tệ thắt chặt hơn để trung hòa áp lực gia tăng lạm hát đến từ phá giá. Như vậy cũng có nghĩa là phá giá không nhất thiết làm tăng nguy cơ lạm phát, như tác giả và những người phản đối đã và đang lập luận!

Hơn nữa, tác giả sai lầm khi cho rằng vì doanh nghiệp xuất khẩu có độ phụ thuộc lớn vào nguyên vật liệu nhập khẩu nên khi phá giá, lợi nhuận chẳng còn bao nhiêu. Hãy xem ví dụ sau. Giả sử giá xuất khẩu mặt hàng nào đó của Việt Nam là 100 đô la Mỹ/cái, nguyên vật liệu nhập về để sản xuất hàng đó là 90 đô la Mỹ/cái. Giả sử tiếp đồng Việt Nam bị phá giá từ 20.000 đồng/đô la Mỹ lên thành 21.000 đồng/đô la Mỹ, đồng thời giả sử rằng giá bán của hàng đó và giá nguyên vật liệu sản xuất hàng đó trên thị trường quốc tế (thị trường xuất khẩu) là không đổi, vẫn tương ứng là 100 đô la Mỹ và 90 đô la Mỹ, sau khi phá giá đồng Việt Nam. Lúc này, doanh nghiệp xuất khẩu và thu về được 100 x 21.000 = 2,1 triệu đồng; tức là 100.000 đồng lớn hơn so với trước khi phá giá. Mặt khác, chi phí nguyên vật liệu sau khi phá giá tăng lên 90 x (21.000 – 20.000) = 90.000 đồng. So với mức chênh 100.000 đồng doanh thu nhờ tăng tỷ giá, mức tăng chi phí nguyên vật liệu này vẫn nhỏ hơn. Suy ra là phá giá thì doanh nghiệp xuất khẩu vẫn có lợi hơn.

Tác giả cho rằng chi phí trong nước cũng tăng lên nên rốt cuộc “kết quả còn lại sẽ chẳng còn được bao nhiêu”. Rất tiếc, chi phí trong nước nếu có tăng lên do phá giá (lưu ý là không nhất thiết xảy ra, như nói ở trên khi NHNN thắt chặt hơn chính sách tiền tệ) thì chỉ đến một thời gian sau khi phá giá, chứ không thể song hành với hành động phá giá của NHNN, nên tại thời điểm phá giá thì nhà xuất khẩu và chuỗi cung ứng có liên quan vẫn được hưởng lợi.

Và một điều đặc biệt quan trọng nữa, như tôi đã đề cập đến trong bài trước, mà tác giả và nhiều người phản đối vẫn bỏ qua đó là chuyện doanh nghiệp xuất khẩu thay thế (một phần) đầu vào nhập khẩu bằng hàng sản xuất trong nước để giảm chi phí khi phá giá làm cho giá của đầu vào nhập khẩu tính theo đồng Việt Nam tăng lên, trở nên kém cạnh tranh hơn so với cũng hàng đó nhưng sản xuất trong nước. Một ví dụ có thể thấy là sản xuất và xuất khẩu hàng điện tử. Thay vì như trước đây doanh nghiệp xuất khẩu phải nhập khẩu một chi tiết nào đó, chẳng hạn, con vít (giá 1 đô la Mỹ, tương đương với 20.000 đồng, so với con vít cùng loại và chất lượng tương đương sản xuất tại Việt Nam với giá đắt hơn một chút, ví dụ 20.500 đồng), thì nay doanh nghiệp xuất khẩu có thể mua cũng con vít đó sản xuất trong nước với giá rẻ hơn sau khi tiền đồng bị phá giá ví dụ, từ 20.000 đồng/đô la Mỹ lên thành 21.000. Như thế có nghĩa là khi phá giá thì rất có thể hàm lượng hàng nhập khẩu trong hàng xuất khẩu giảm đi, trung hòa được áp lực “nhập khẩu lạm phát” do tăng tỷ giá, nếu có.

Suy rộng ra cho cả nền kinh tế, khi hàng hóa sản xuất trong nước trở nên cạnh tranh hơn sau khi phá giá thì hàng nhập khẩu sẽ “lép vế” hơn, đồng nghĩa với tổng doanh số nhập khẩu vào Việt Nam (tính bằng đô la Mỹ) ít đi và áp lực “nhập khẩu lạm phát” vì thế mà giảm đi. Nói cách khác, cứ cho là áp lực lạm phát sẽ gia tăng từ những mặt hàng nhập khẩu chiến lược như xăng dầu nhưng vì những mặt hàng nhập khẩu khác sẽ ít đi nên rốt cuộc sẽ trung hòa được áp lực đến từ xăng dầu.

Đến đây có thể kết luận lại rằng lập luận của tác giả rằng chỉ có ngành xuất khẩu tài nguyên là được hưởng lợi từ phá giá là không đúng.

5. Tác giả phủ nhận rằng “phá giá tiền đồng để tăng sức cạnh tranh thị trường trong nước cho doanh nghiệp nội địa”. Tác giả lập luận rằng “hầu hết sản phẩm tiêu dùng Việt Nam nhập khẩu là từ Trung Quốc”, mà Việt Nam không thể cạnh tranh được với họ về giá nên dù giá hàng Trung Quốc nhập về Việt Nam có đắt lên 9-10% thì cũng “chưa biết sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước có cải thiện được hay không, nhưng chắc chắn rằng số nợ họ đã vay để mua máy móc thiết bị thì tăng ngay lập tức”.

Thứ nhất, cần phải khẳng định ở đây, hoàn toàn theo logic, khi hàng nhập khẩu, dù là từ Trung Quốc, đã tăng giá lên (so với trước khi phá giá tiền đồng) thì xét về mặt tương đối, sức cạnh tranh của chúng phải giảm đi so với hàng trong nước, nếu mọi yếu tố khác không thay đổi. Tức là sức cạnh tranh của hàng trong nước sẽ được cải thiện, và vì thế tác giả không thể nói chung chung là “chưa biết sức cạnh tranh có cải thiện được hay không”.

Thứ hai, về chuyện doanh nghiệp vay nợ để mua máy móc nên khi phá giá thì số nợ sẽ tăng lên. Chuyện này lại quay trở về lập luận của tôi ở trong bài trước là NHNN sẽ phải “bù lỗ”, “trợ giá” cho doanh nghiệp, cho tư nhân bằng quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia nhằm ổn định tỷ giá, không tăng gánh nặng nợ cho những đối tượng này. Nếu tác giả đồng ý rằng NHNN không nên mang của công ra làm lợi cho một số đối tượng nhất định thì tác giả đã tự phủ nhận ý kiến của mình.

Thứ ba, như đã nói ở trên, khi phá giá, doanh nghiệp sẽ bớt đi động cơ dùng máy móc nhập khẩu, thay bằng máy móc trong nước. Đành rằng không phải máy móc nào cũng mua được trong nước, nhưng cho dù chỉ có một phần có thể thay thế được thì cũng có nghĩa là cả nền kinh tế được hưởng lợi hơn (một cách tương đối) vì bán được nhiều hàng nội địa hơn, bớt nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu, giảm nhập siêu (nếu có), từ đó giảm áp lực lên tỷ giá.

6. Tác giả phủ nhận khi (NHNN khẳng định) không phá giá thì doanh nghiệp sẽ quay sang vay mượn bằng ngoại tệ nhiều hơn, làm tăng sức ép buộc NHNN phải bơm ngoại tệ để ổn định tỷ giá.

Thực ra tác giả diễn giải sai ý của (chúng) tôi. (Chúng) tôi cho rằng sự khẳng định của NHNN rằng tỷ giá ổn định sẽ khuyến khích doanh nghiệp đi vay bằng ngoại tệ (từ nước ngoài) với lãi suất thấp hơn, tạo ra rủi ro liên quan đến sự bất cân xứng đồng tiền (currency mismatch), khi mà nhiều doanh nghiệp này có nguồn thu chủ yếu bằng tiền đồng. Điều này sẽ làm trầm trọng tình trạng đô la hóa, là điều hẳn nhiên không nói thì tác giả cũng đồng ý là điều tuyệt đối cần tránh. Chưa kể, nhu cầu mua ngoại tệ để trả nợ vay nước ngoài/trong nước thường có tính chu kỳ hoặc dồn vào một vài thời điểm nào đó trong năm, hoặc những lúc có biến cố xảy ra làm tăng tâm lý mua vét ngoại tệ để phòng ngừa và chờ đến lúc phải trả nợ v.v... tất cả đều làm tăng gánh nặng can thiệp bán ra ngoại tệ của NHNN nhằm thỏa mãn nhu cầu dồn dập của thị trường trong những thời điểm như thế. Nếu không may mà năng lực can thiệp ổn định thị trường của NHNN không đủ mạnh thì sẽ xảy ra những bất ổn khó lường từ chuyện này. Tác giả cần chứng mình rằng những luận điểm này của (chúng) tôi là sai, chứ không phải như đã làm ở trong bài của mình.

7. Cuối cùng, tác giả đề cập chuyện phá giá sẽ làm suy giảm lòng tin của dân và tình hình có thể thoát khỏi vòng kiểm soát.

Như tác giả cũng đồng ý rằng niềm tin vốn rất mong manh. Vì vậy, nếu làm ngược lại, cam kết kiên quyết không phá giá nhưng do thực tế đòi hỏi phải phá giá và đến một lúc nào đó không cưỡng lại được với sức ép của thị trường, NHNN buộc phải phá giá, lúc đó niềm tin còn suy giảm hơn nhiều, và đúng là hoàn toàn có thể gây ra hoảng loạn khi tình hình không kiểm soát được, như đã từng thấy ở trên thế giới. Nói cách khác, chừng nào mà NHNN cam kết và trên thực tế sẽ không phá giá với bất cứ lý do gì, trong hoàn cảnh nào thì chừng đó niềm tin sẽ còn, và sẽ được củng cố. Nhưng câu hỏi là liệu NHNN có làm được như nói được không? Nếu tác giả không tin tưởng lắm vào khả năng này thì tốt nhất là, làm như tôi khuyến cáo trong bài trước, đừng khẳng định cái gì, và hãy để chính sách tỷ giá của mình bất định với thị trường.

Wednesday, 27 March 2013

Bình luận nhanh về bài: "Thay đổi tỷ giá có nên?"

Bài: "Thay đổi tỷ giá có nên?" của Bùi Trinh, Nguyễn Việt Phong trên TBKTSG tại đây

Hôm nay tớ lọ mọ tìm ra được bài này, thấy sai nhiều quá và vì nó được đăng trên TBKTSG nên quyết định lôi ra để phang.

Sai 1: Vẫn cái luận điệu vì mức phụ thuộc nhập khẩu lớn nên càng xuất khẩu thì càng tăng nhập khẩu nên không nên phá giá.
Xuất khẩu tăng thì nhập khẩu cũng tăng là đương nhiên rồi, khỏi cần phải chứng minh. Nhưng xét về mức tuyệt đối và tốc độ tăng thì chắc chắn nhập siêu, nếu có, sẽ giảm. Đây mới là cái điều quan trọng, đáng nói. Và vì thế nên phá giá nếu VND đã lên giá thực so với USD.

Sai 2: Bài viết có trích dẫn tính toán nào đó của TCTK rằng phá giá x% thì lạm phát sẽ tăng y%, để rồi lý luận rằng phá giá sẽ làm tăng chi phí đầu vào, tăng lạm phát, là điều cần tránh.
Sai/không nhất thiết đúng vì muốn cho cái tính toán của mình thuyết phục thì TCTK hoặc mấy đồng chí tác giả này phải chứng minh/giải trình được rằng mối quan hệ nhân quả giữa lạm phát và tỷ giá sẽ theo chiều tỷ giá gây tác động lên lạm phát, chứ không phải ngược lại, theo mô hình Inflation = f(Exchange rate), trong đó tỷ giá là biến giải thích còn lạm phát là biến phụ thuộc. Đương nhiên, nếu đúng như thế này thì khi cho chạy mô hình này chắc chắn sẽ ra được kết quả là tỷ giá tăng 1 điểm % thì lạm phát sẽ tăng x điểm %, theo quan hệ tuyến tính, Inflation = a + b*Exchange rate, chẳng có gì bất ngờ, khó hiểu cả.
Nhưng cái mô hình trên hoàn toàn có thể sai về bản chất. Tớ cho rằng, như đã nói ở bài viết trước, quan hện nhân quả là theo chiều ngược lại, tức lạm phát có trước, gây áp lực lên tỷ giá để rồi phải phá giá. Lạm phát thấp, thâm hụt thương mại thấp, kinh tế tăng trưởng khả quan... thì ai tự nhiên đi phá giá làm gì nếu không muốn hứng chịu sự trả đũa thương mại của các nước đối tác?
Ngoài ra, nếu có muốn tinh vi dùng mô hình này kia cho sang thì phải làm cho đến nơi đến chốn. Tức là chí ít thì phải xem xét đưa thêm vào mô hình các biến giải thích có liên quan, ví dụ như cung tiền M2, thâm hụt thương mại, các biến cố kinh tế, chính trị có ảnh hưởng v.v... Cũng còn chưa kể đến các yếu tố kỹ thuật, ví dụ số lượng observations cần  thiết trong chuỗi dữ liệu, vấn đề về unit root của chuỗi số liệu sử dụng (time series), phải lọc/chế biến các dữ liệu mà thông thường các đồng chí amateur rất dễ bỏ qua/không đếm xỉa đến.
Vì không được đọc cụ thể nên tớ không dám hồ đồ nói gì thêm, nhưng rất nghi ngờ rằng TCTK và các tác giả đã làm/giải quyết xuất sắc các vấn đề mà tớ mới chỉ nêu sơ sơ qua như vậy. Tớ nghi ngờ không phải là không có lý khi mà tớ không lạ gì trình độ lý luận và khả năng áp dụng kinh tế lượng của các học giả/chuyên gia Việt Nam (nói thêm là tớ đã "vinh dự" được đọc phản biện cho một số tạp chí nước ngoài về một số bài gửi đăng của các tác giả Việt Nam). Trên hết, nếu làm tốt như vậy thì TCTK và các tác giả hoàn toàn có khả năng và nên gửi công trình nghiên cứu của mình đi đăng tải ở các tạp chí học thuật quốc tế. Xin đừng nói là không cần/không thèm làm thế nhé!
Chuyện ngoài lề một tí. Tớ vẫn nhớ lời của mấy ông giáo sư hồi còn đi học, khi thấy tớ "khoe chữ" bằng cách triệt để áp dụng kinh tế lượng trong các nghiên cứu của mình, đại loại rằng quan trọng hơn việc áp dụng kinh tế lượng, mô hình toán này kia thì phải hiểu bản chất của vấn đề trước đã.

Sai/bất hợp lý 3: Lại nhắc đến nợ công và cho rằng phá giá sẽ làm tăng áp lực trả nợ vay của chính phủ và doanh nghiệp.
Tớ đồng ý rằng phá giá thì gánh nặng trả nợ quy ra VND sẽ phình to lên cho mọi đối tượng có vay nợ nước ngoài. Nhưng như tớ đã nói ở các bài trước, liệu có nên chấp nhận để NHNN gánh hết hậu quả của việc đảm bảo rằng tỷ giá không tăng để gánh nặng nợ kể cả của khối doanh nghiệp và tư nhân không tăng lên không?

Sai 4: Lại chuyện tác động lan tỏa, khi tỷ giá tăng thì sẽ tác động tiêu cực đến tiêu dùng cuối cùng, tích lũy, xuất khẩu ở mức tương ứng là x lần, y lần và z lần.
Chịu chẳng hiểu cái quan hệ tuyến tính này moi ở đâu ra. Ít nhất thì đối với xuất khẩu, như đã nói, khi phá giá thì chỉ có làm lợi cho nó, chứ không thể gây hại được. Tương tự, khi xuất khẩu đã tăng thì rất có thể tích lũy cũng sẽ tăng vì nhà xuất khẩu và chuỗi cung ứng trong nước được hưởng lợi và do đó có thêm điều kiện để tăng tích lũy. Cũng tương tự, khi thu nhập từ xuất khẩu tăng thì sẽ có thể dẫn đến tiêu dùng cuối cùng cũng tăng, đơn giản vì người ta kiếm được nhiều tiền hơn thì sẽ có xu hướng chi tiêu nhiều hơn. Chỉ nói sơ qua thế thôi để thấy cái lỗ hổng to đùng trong cách lập luận, triển khai vấn đề của nhóm tác giả.

Sai 5: Nhóm tác giả lấy chỉ số giá nhập khẩu trong 3 năm 2010-12 thấp hơn chỉ số giảm phát GDP để cho rằng chỉ số giá nhập khẩu là một trong những yếu tố giúp hạ nhiệt lạm phát.
Chuyện này chung quy lại quay lại chuyện phá giá thì sẽ làm tăng giá hàng nhập khẩu và vì thế làm tăng lạm phát, bởi vậy phải kiềm chế giá nhập khẩu bằng cách không tăng tỷ giá, là cái chuyện tớ đã phang rồi.
Nói thêm, tại sao nhóm tác giả chỉ lấy có 3 năm này? Có thời kỳ nào mà chỉ số giá nhập khẩu lại tăng nhanh hơn chỉ số giảm phát GDP không? Trên hết, tớ chịu chẳng hiểu logic của mối liên hệ này. Nếu chỉ để chứng minh là hễ cứ kìm giữ được giá nhập khẩu thì lạm phát sẽ không tăng thì cần gì phải nêu ra mối liên hệ này?

Tóm lại, bài viết này rất yếu về lý luận và cách thức chứng minh vấn đề. Nó chỉ hơn những bài khác, ví dụ như các bài của tớ chẳng hạn, ở chỗ nó nêu ra, trích dẫn rất nhiều con số của cái TCTK hoặc của các tác giả, là những người làm thống kê để làm hậu thuẫn. Nhưng tiếc rằng bản thân những con số này lại chứa đựng những câu hỏi to tướng không có lời giải vì tính tù mù của chúng.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).