Thursday, 29 May 2014

Bài này có một số ý nghĩa thực tiễn

Đọc bài này tớ thấy nó có một số ý nghĩa về chính sách khá quan trọng. Tuy nhiên, ở đây tớ không xét đến tính đúng đắn về mặt kỹ thuật (chẳng hạn chất lượng và vấn đề kỹ thuật của chuỗi thời gian các số liệu, quan hệ qua lại giữa các biến giải thích v.v...) mà không rõ các tác giả đã xử lý thế nào.

1. Như tớ đã phang các đồng chí nhiều lần rằng, ít nhất ở Việt Nam, lạm phát là cái có trước, gây ảnh hưởng lên tỷ giá (nhiều và trước), chứ không phải ngược lại. Bởi vậy, để ổn định tỷ giá thì phải ổn định/hạ thấp lạm phát trước đã, chứ không phải làm ngược lại là để chống lạm phát thì phải tập trung ổn định tỷ giá. Rất nhiều đồng chí to có, nhỏ có, đều một mực khẳng định phải ổn định tỷ giá để ổn định vĩ mô (tức lạm phát) làm tớ uất quá mà nói lại không xuể.

Trong bài này, các tác giả cũng đã đặt vấn đề một cách đúng đắn rằng: "Trong nhiều nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, cần ổn định tỷ giá để kiểm soát lạm phát. Tuy nhiên, một số trong các nhân tố ảnh hưởng lớn đến tỷ giá hối đoái lại chính là lạm phát. Ví dụ, khi nguy cơ lạm phát tăng cao niềm tin vào đồng nội tệ giảm, người dân sẽ chuyển sang dự trữ vàng và ngoại tệ mạnh, khi đó nhu cầu bán nội tệ và mua ngoại tệ tăng cao làm cho tỷ giá biến động, trong trường hợp này cho thấy lạm phát là nguyên nhân và biến động tỷ giá là kết quả. Trong một số trường hợp, các quốc gia áp dụng cùng một chính sách tỷ giá hối đoái nhưng lại cho ra mức lạm phát khác nhau. Hoặc tại một số quốc gia, chính sách tỷ giá thay đổi nhưng mức lạm phát vẫn tăng cao."

Kết quả tính toán của các tác giả cũng cho thấy nhân tố tác động mạnh nhất đến tỷ giá là lạm phát (nhưng phải thừa nhận ở đây rằng không thấy các tác giả nêu rằng họ có tính toán được biến nào là nguyên nhân của biến nào - lạm phát gây ra phá/mất giá VND hay ngược lại?).

2. Các tác giả tính ra rằng dự trữ ngoại tệ có quan hệ ngược với tỷ giá. Điều này là hoàn toàn hợp lý, đúng như các tác giả đã đặt vấn đề ban đầu. Ý nghĩa của điều này là việc mua vào ngoại tệ tăng dự trữ ngoại hối thực ra đang là một cách thức để NHNN phá giá VND (so với việc để tỷ giá danh nghĩa giảm đi - VND lên giá danh nghĩa) trong bối cảnh luồng ngoại tệ (may mắn) đã và đang đổ vào VN nhiều hơn mức bình thường trong 2 năm qua. Nói cách khác cho dễ hiểu hơn là nếu NHNN không can thiệp như vừa qua (mua ngoại tệ, bán VND) thì tỷ giá có thể đã giảm đi, ví dụ, còn 18-19000 VND/USD so với mức >21000VND/USD như hiện nay. Cho nên, về mặt này, nếu cứ phát biểu rằng VN kiên quyết không phá giá là một phát biểu của "trí thức 1/2 mùa" (Lưu ý tớ giành bản quyền cho câu nói này đấy nhé, các đồng chí có dùng thì phải.xin phép tớ đấy nhé!).

Một hàm ý khác của điều này là thực ra việc tăng dự trữ ngoại hối như vừa qua không phải là thành công của NHNN, mà chỉ là sự kết hợp thuần túy, đương nhiên của 2 yếu tố (một khách quan, một chủ quan): vốn ngoại tệ đổ mạnh vào VN, và chính sách giữ cho VND (ít nhất là) không lên giá (danh nghĩa) với USD để hạn chế tác động tiêu cực lên cán cân thương mại. Cho nên, quỹ dự trữ ngoại hối phình to lên như hiện nay chỉ là sản phẩm tất yếu của sự kết hợp này, chứ không cho thấy bất cứ một thành công hay tài giỏi gì của NHNN cả.

3. Nhưng nói gì thì nói, tớ cực kỳ thất vọng với phần khuyến nghị của bài nghiên cứu này. Tớ vừa chẳng hiểu các tác giả muốn nói gì, vừa buồn cười vì các tác giả lại bê nguyên những chủ trương với khuyến nghị chung chung/tù mù của bản thân NHNN cũng như của nhiều người khác. Tại sao không đưa ra những khuyến nghị đơn giản/dễ hiểu có liên quan trực tiếp đến chủ đề của bài, chẳng hạn như để ổn định tỷ giá thì phải ổn định/hạ lạm phát?

Dù sao thì tớ cũng hoan nghênh nhiệt liệt những nỗ lực của giới nghiên cứu trong nước dùng kinh tế lượng để kiểm định các lý thuyết ở Việt Nam như thế này. Bước tiếp theo là phải làm sao mà viết được bằng tiếng Anh và xuất bản trên các tạp chí học thuật nước ngoài, mặc dù tớ biết rõ rằng chẳng dễ thế vì chắc chắn các nghiên cứu này còn rất nhiều vấn đề về phương pháp và nội dung, chẳng hạn như trong bài này mà tớ vừa nêu ra. Quan trọng hơn, nếu chỉ dừng lại ở mức độ như bài này thì cũng sẽ khó được chấp nhận vì không có yếu tố mới mẻ/có giá trị gia tăng về phương pháp, kỹ thuật, mục tiêu, hàm ý.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).