Monday, 28 September 2015

Trả lời bạn đọc về việc NHNN hạ lãi suất tiền gửi USD

Đồng chí em hôm trước hỏi tớ mấy câu sau (phần in nghiêng).


Hi anh, sáng nay mở mắt dậy thấy Ngân hàng nhà nước bất ngờ giảm lãi suất USD áp dụng từ 28/9

- Lãi suất gửi USD với tổ chức còn 0% (mức cũ 0.25%)

- Lãi suất tiền gửi của cá nhân là 0.25% (mức cũ 0.75%)


Theo em, đây là nỗ lực cuối cùng của NHNN nhằm kéo dài thời gian phá giá VND (Chẳng hiểu vì sao chưa chịu phá đi chứ để càng cuối năm áp lực càng lớn trừ lý do bộ sậu trên đó quá ngoan cố) tuy nhiên theo em nghĩ giảm lãi suất USD hiện tại không giúp ích gì được cho NHNN vì:


- Lãi suất huy động USD hiện tại của cá ngân hàng thương mại Việt Nam tầm 2-3%, cho dù NHNN có giảm trần lãi suất đi chăng nữa thì các ngân hàng thương mại vẫn khó có thể giảm lãi suất USD nhằm tránh cho USD tiết kiệm chạy khỏi hệ thống ngân hàng.

Tớ: Cái này thì tớ không bình luận được vì tớ không rõ nhu cầu cần USD của các ngân hàng lớn như thế nào để họ có thể nhắm mắt lách luật. Nhưng tớ nghĩ rằng khi có nhu cầu thì các ngân hàng sẽ sẵn sàng và dễ dàng lách luật để huy động cho đủ.


- Thứ hai, cho dù có giảm lãi suất huy động USD thì cũng không làm cho USD mất sức hấp dẫn tại VIệt Nam, vẫn không tránh khỏi tình trạng găm giữ.

Tớ: Đúng rồi, kỳ vọng VND bị phá giá bao nhiêu % mới là cái quan trọng để người ta nắm giữ USD. Chẳng hạn nếu VND bị kỳ vọng phá 3% nữa thì nhà đầu tư sẵn sàng vay VND với lãi suất ví dụ 2%/tháng mua USD rồi gửi tạm vào ngân hàng với lãi suất 0% đợi 1 tháng sau VND bị phá 3% thì bán ra, trả nợ vay và vẫn còn lãi được 1% nữa. Trong trường hợp này, lãi suất USD cao hay thấp hơn 0,5% chẳng hạn cũng không ảnh hưởng gì đến quyết định nắm giữ USD cả.

Vấn đề em boăn khoăn là liệu trong bối cảnh Fed sắp nâng lãi suất, đồng USD đang lên giá, mà VIệt Nam lại đi ngược hạ lãi suất USD thì có thể tạo ra cú sốc nào, hệ lụy nào cho nền kinh tế không ?

Tớ: Tình cờ là sáng nay lúc em hỏi thì tớ đã viết xong bài trên CafeF về chuyện này, em ngó  câu trả lời trên đó nhé.

Sau động thái hạ lãi suất này nhằm níu kéo tỷ giá, liệu NHNN còn quân bài nào khác có thể dùng không trước khi buộc phải buông tỷ giá ra. (trong tháng 9 đã bán hơn 2 tỷ USD cho các Ngân hàng thương mại rồi, cộng với hơn 4 tỷ trong tháng 8 thì chắc dự trữ ngoại hối đã về gần mức 30 tỷ )

Tớ: Tớ cũng nói trên CafeF rồi, rằng tác động của việc hạ lãi suất USD đợt này sẽ có hạn vì mức hạ là khiêm tốn, và không còn room để hạ nữa. Nói cách khác, NHNN chỉ còn mỗi phương pháp là siết chặt cung cầu bằng biện pháp hành chính (capital control), nhưng hiệu quả thế nào thì bản thân NHNN đã rõ mãi rồi.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).