Sunday, 27 September 2020

Dự thảo Nghị định về công bố thông tin của DNNN: Biết nhưng vẫn... chưa biết làm thế nào! (Bài đăng trên TBKTSG, 27/9/2020, bản gốc)

https://www.thesaigontimes.vn/308566/du-thao-nghi-dinh-ve-cong-bo-thong-tin-cua-dnnn-biet-nhung-van-chua-biet-lam-the-nao.html


Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang lấy ý kiến góp ý cho dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định việc công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước (DNNN); xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước (sau đây gọi tắt là dự thảo nghị định). Mục đích dự thảo nghị định như bộ này cho biết là để thay thế Nghị định số 81/2015/NĐ-CP quy định về việc công bố thông tin của DNNN.

Với mục đích là để thay thế Nghị định 81, đương nhiên dự thảo nghị định cần thiết phải chỉ ra những hạn chế, khiếm khuyết của Nghị định 81 rồi đưa ra những quy định và điều khoản trong dự thảo nghị định để sửa chữa, khắc phục những hạn chế và khiếm khuyết của Nghị định 81. Đáng tiếc là Bộ Kế hoạch và Đầu tư mới chỉ thực hiện được phần nào vế đầu – chỉ ra những hạn chế, khiếm khuyết của Nghị định 81, mà chưa/không thực hiện được vế sau – đưa ra những quy định và điều khoản trong dự thảo nghị định để sửa chữa, khắc phục những hạn chế và khiếm khuyết của Nghị định 81.

Cụ thể, trong Tờ trình về dự thảo nghị định, Bộ Kế hoạch và đầu tư chỉ ra năm hạn chế trong hoạt động công bố thông tin của DNNN, gồm: (1) Việc công bố thông tin còn mang tính hình thức, chưa được thực hiện nghiêm túc; (2) Vẫn có doanh nghiệp chưa thực hiện công bố thông tin theo quy định; (3) Thời gian thực hiện công bố thông tin còn chậm so với quy định; (4) Cơ quan đại diện chủ sở hữu chưa thực hiện đầy đủ công bố thông tin của doanh nghiệp do mình làm đại diện chủ sở hữu; và (5) Nghị định số 81/2015/NĐ-CP chưa có quy định cụ thể về việc công bố thông tin qua mạng điện tử của doanh nghiệp.

Các hạn chế từ số 1 đến số 4 trên có thể tóm tắt, phân loại lại thành sự thiếu năng lực, vô trách nhiệm, chây ỳ, coi thường pháp luật... của các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định 81, từ cấp doanh nghiệp đến cơ quan đại diện chủ  sở hữu và cả Bộ Kế hoạch và Đầu tư với tư cách là đầu mối phối hợp, theo dõi và đôn đốc việc công bố thông tin của DNNN. Những “hạn chế” này còn gián tiếp cho thấy khiếm khuyết của Chính phủ khi để xảy ra tình trạng này kéo dài trong nhiều năm mà không có những biện pháp chế tài khắc phục và ngăn chặn, ngoài những giải pháp như “sẽ (quyết liệt) xử lý người đứng đầu...” (mà không thấy người đứng đầu nào, dù ở cấp thấp, bị xử lý cả).

Đã nhận thức rõ những “hạn chế” trên nhưng trong dự thảo nghị định hầu như không có bất cứ quy định hay điều khoản bổ sung gì để khắc phục được tình trạng chây ỳ, vô pháp nói trên. Ngay bản thân điều khoản về xử lý vi phạm về công bố thông tin trong dự thảo nghị định (điều 19), đây hầu như là “bê nguyên” từ điều 23 của Nghị định 81.

Để gọi là cho có thì ít nhất dự thảo nghị định cũng phải có quy định về ai, cấp cao nhất nào là người cuối cùng phải chịu trách nhiệm (và có chế tài tương ứng) khi để xảy ra những vi phạm “bền vững” trong công tác công bố thông tin DNNN từ năm này qua năm khác mà vốn cho đến nay chưa thấy ai bị làm sao.

Với hạn chế số 5, thực chất đây chỉ là sự thoái việc của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Thay vì như trước đây doanh nghiệp gửi thông tin đến bộ này để bộ này tập hợp rồi đưa lên Cổng thông tin doanh nghiệp do họ quản lý thì nay, trong dự thảo nghị định, họ không còn phải trực tiếp làm việc này nữa mà sẽ do doanh nghiệp tự thực hiện. Sự “phân cấp” trách nhiệm này đương nhiên sẽ làm giảm ý nghĩa, vai trò và sự cần thiết của bộ này liên quan đến việc công bố thông tin DNNN.

Ngoài những điểm đáng chú ý nêu trên, hầu như không có một sự thay đổi đáng kể nào trong dự thảo nghị định so với Nghị định 81 theo hướng cải cách và nâng cao chất lượng công bố thông tin của DNNN. Nói cách khác, yếu kém, tồn tại thì đã rõ, đã biết nhưng các nhà làm luật, không biết vì yếu năng lực hay vì một trở ngại vô hình nào đó, lại không/chưa biết làm thế nào để dẹp bỏ những yếu kém, tồn tại này bằng luật pháp. Do đó, nếu dự thảo nghị định được chính thức thông qua thì điều chắc chắn có thể nhìn thấy sẽ là sự tiếp tục chây ỳ, có cũng như không trong công bố thông tin của DNNN như suốt 5 năm qua kể từ khi Nghị định 81 ra đời.

Do vậy, như được nêu trong tờ trình dự thảo nghị định, nếu muốn thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ triển khai Nghị quyết số 60/2018/QH14 ngày 15/6/2018 của Quốc hội về tiếp tục hoàn thiện và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hoá DNNN thì Bộ Kế hoạch và Đầu tư và ở cấp cao hơn là Chính phủ cần phải làm nhiều hơn việc sửa chữa câu chữ và những tiểu tiết như trong dự thảo nghị định.

No comments:

Post a comment

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).