Tuesday, 29 September 2020

Thẳng thắn đương đầu với nợ xấu (Bài đăng trên CafeF, 29/9/2020, bản gốc)

https://cafef.vn/thang-than-duong-dau-voi-no-xau-20200929071059443.chn

Bất chấp đại dịch, kết quả kinh doanh nửa đầu năm của nhiều ngân hàng thương mại vẫn rất khả quan, với nhiều ngân hàng thậm chí báo cáo mức tăng trưởng lợi nhuận hai con số. Tuy vậy, điều này là không đáng ngạc nhiên bởi nó có được là một phần quan trọng nhờ vào Thông tư 01 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành giữa tháng 2 cho phép các ngân hàng cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng của dịch.

Do dịch bệnh đã quay lại hồi tháng 7 và nền kinh tế tiếp tục khó khăn, nợ xấu thực tế được dự báo sẽ tiếp tục tăng mạnh. Trước tình hình này, Thông tư 01 đang được xem xét sửa đổi để  cho phép cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ đủ tiêu chuẩn đối với các khoản giải ngân từ ngày 23-1-2020 đến ngày 24-4-2020.

Nếu được thông qua, thông tư sửa đổi của Thông tư 01 sẽ tiếp tục làm nợ xấu trong toàn hệ thống ngân hàng đỡ xấu, lợi nhuận ngành ngân hàng tiếp tục đẹp hơn thực tế. Quan trọng hơn, nhờ giải pháp kỹ thuật này mà ngân hàng vẫn tiếp tục được phép  đẩy mạnh cho vay mà không bị trói buộc quá chặt bởi nợ xấu và những yếu tố liên quan như trích lập dự phòng, tỷ lệ vốn tối thiểu v.v... vốn đã trở nên xấu đi nhiều nếu nợ xấu không được (gia hạn) cơ cấu. Điều này được kỳ vọng sẽ giúp phục hồi tăng trưởng kinh tế nói chung và làm lợi cho ngành ngân hàng nói riêng.

Tuy nhiên, cuộc vui nào rồi cũng sẽ đến lúc tàn. Thông tư 01 dù có được sửa đổi thêm một hoặc vài lần nữa thì chắc chắn sẽ phải đến lúc không thể, không còn lý do để sửa đổi nó, để nó hết hiệu lực. Lúc đó, nợ xấu sẽ buộc phải nổi lên với quy mô vượt xa so với con số “đẹp” báo cáo trước đó. Các ngân hàng lúc này sẽ đột ngột phải đối mặt với khối nợ xấu đồ sộ này để rồi rơi vào tình trạng xấu không kém gì khi phải đương đầu ngay với các khoản nợ xấu tăng đột ngột do hậu quả của đại dịch trước đó.

Nói cách khác, việc cho phép che giấu nợ xấu chỉ giúp trì hoãn thời điểm chịu đau đớn, chứ không chữa được cơn đau chắc chắn sẽ xảy ra. Dẫu cũng có ngân hàng chủ động trích lập dự phòng, tích cực xử lý nợ xấu ngay cả trong thời gian được phép giấu nợ xấu, nhưng đây chỉ là thiểu số. Điều này một phần bởi quy mô và tiềm lực xử lý nợ xấu là khác nhau, chênh lệch đáng kể giữa các ngân hàng và nhóm ngân hàng. Mặt khác, vì phải (chạy theo) bảo đảm thành tích kinh doanh (chịu ảnh hưởng cửa tính nhiệm kỳ) nên các ngân hàng theo lẽ thường sẽ có xu hướng giấu nợ nhiều nhất có thể, nhất là khi được phép, nên dù có chủ động và tích cực đến mấy thì vẫn sẽ có một phần lớn nợ xấu được giấu đi, cả hợp pháp và bất hợp pháp (bằng các thủ thuật). 

Do vậy, nếu cân nhắc thiệt hơn, câu hỏi đặt ra là có nên tiếp tục sửa đổi Thông tư 01 để cho phép nợ xấu – vốn chắc chắn sẽ tiếp tục tăng mạnh bởi sự quay lại của dịch – được che giấu theo kiểu “giấu bụi dưới thảm”?

Nếu ngân hàng tiếp tục giấu nợ để tăng cường cho vay doanh nghiệp và nền kinh tế thì không thể phủ định được khả năng doanh nghiệp và nền kinh tế sẽ phục hồi nhanh hơn và nợ xấu ngân hàng nhờ đó cũng sẽ được xử lý nhanh hơn. Nhưng quá trình theo lý thuyết này có thể sẽ tốn rất nhiều thời gian.

Công cuộc xử lý nợ xấu tích tụ từ những năm đầu thập kỷ này đã chật vật diễn ra trong nhiều năm cho đến khi có các giải pháp xử lý mạnh tay hơn như theo Nghị quyết 42 của Quốc hội và Đề án 1058 của Chính phủ, chưa kể sự ra đời trước đó của VAMC thì tình hình mới phần nào được cải thiện nhanh chóng hơn cho đến khi một lần nữa nền kinh tế lại rơi vào khó khăn do đại dịch năm nay.

Vấn đề là việc thực hiện Nghị quyết 42 ngay trong thời bình thường đã và đang gặp nhiều trở ngại, nhất là những vướng mắc pháp lý liên quan đến việc xử lý tài sản bảo đảm, bất chấp nhiều trong số những trở ngại này đã được xác định để có hướng giải quyết. Trên thực tế, để xử lý được những vướng mắc pháp lý này thì phải sửa đổi đồng bộ nhiều luật như Luật Nhà ở, Luật Đầu tư, Nghị quyết 42 v.v... Điều chắc chắn là để cho đến khi không còn vướng mắc nữa thì bản thân những luật sửa đổi này cũng sẽ phải được sửa đổi thêm một đôi lần nữa như một thực tế thường thấy ở Việt Nam, tức là sẽ cần thêm không ít năm nữa.

Với thời gian dự kiến kéo dài để xử lý đống nợ xấu dồn lại sau đại dịch, triển vọng xử lý nợ xấu sẽ trở nên bất trắc hơn nếu đột nhiên nền kinh tế trong nước và thế giới lại phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng mới, là điều không thể nói trước được, tương tự như việc đột ngột xảy ra dịch Covid-19 giữa lúc Việt Nam đang quyết tâm đạt mục tiêu xử lý căn bản, triệt để nợ xấu và các tổ chức tín dụng yếu kém trong giai đoạn 2016-2020 như đã đề ra. Lúc đó, sẽ lại có trì hoãn, gia hạn, và sửa đổi, cũng như các biện pháp mua thời gian giống và khác trong quá khứ và hiện tại, để rồi ngành ngân hàng tiếp tục ngụp lặn trong mớ rối ren không lối thoát.

Trên hết, việc giấu, làm đẹp nợ xấu cần được đi kèm với những giải pháp không được khuyến khích như chậm/trì hoãn áp dụng các chuẩn mực mới của quốc tế đã được nhiều nước áp dụng, ví dụ như tiêu chuẩn kế toán quốc tế IFRS 9 (trong khi Việt Nam vẫn áp dụng chuẩn kế toán VAS của riêng mình). Việc chậm chễ này sẽ để lại những hậu quả tương tự như việc chậm chễ áp dụng các chuẩn mực an toàn của Basel II và cao hơn.

Vì vậy, với triển vọng bất trắc trong xử lý nợ xấu khi được che giấu như trên, cần xem lại chủ trương sửa đổi, gia hạn Thông tư 01 hay những giải pháp tương tự trong tương lai mỗi khi nền kinh tế đối mặt với một cú số nào đó. Sự (bắt buộc phải) thẳng thắn đối mặt với nợ xấu ngay khi chúng phát sinh sẽ không chỉ tăng thêm tính minh bạch, lành mạnh của hệ thống mà còn giúp cho các ngân hàng có thêm động lực để xử lý nợ xấu sớm trong khả năng có thể.

Quá trình xử lý sớm và triệt để nợ xấu tất nhiên sẽ gây ra những hậu quả lập tức cho doanh nghiệp, ngân hàng và cả nền kinh tế. Nhưng điều này cũng là điều không thể tránh khỏi bởi hậu quả này không xảy ra sớm thì cũng xảy ra muộn mà hầu như không có phép màu nào giúp chúng ta tránh được.

Và trên hết, không nên đánh đổi sự lành mạnh, an toàn của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế trong dài hạn lấy một vài điểm phần trăm tăng trưởng trong ngắn hạn. 

No comments:

Post a comment

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).