Friday, 22 March 2013

Quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị


Tớ viết cái title này mà không có ngoặc kép chắc làm một số đồng chí tưởng tớ đang dọn đường phấn đấu vào đảng thì sướng quá (tiện đây nói thêm là tớ đã có một thời gian làm việc ở các cơ quan doanh nghiệp nhà nước trước khi lên đường bôn ba tìm đường cứu nước. Bản chất tớ tốt thế mà chưa bao giờ được cấp ủy nơi công tác nào tỏ nhã ý rủ tớ vào đảng. Thậm chí ngay từ cái việc đơn giản nhất, dễ nhất là rủ/cho đi học cảm tình đảng cũng không đến lượt tớ, thế mới cay cú. Chịu chả hiểu tại sao. Trả nhẽ lại đút lót mấy chỉ vàng để được đi học cảm tình đảng à?).

Hôm nay đọc báo chơi chợt thấy cái title này, và nhớ lại là đã không ít lần đọc/nghe được cái cụm từ này ở nhiều nơi, từ nhiều cái mồm già trẻ, to nhỏ, xấu vừa vừa, thậm xấu... đủ cả. Chợt phì cười khi chịu khó ngồi diễn giải ngữ nghĩa của nó (hóa ra lâu nay tớ cũng ngu, đọc/nghe mà cho đến bây giờ mới bật cười lên được).

Với ngữ cảnh và nghĩa đen của cụm từ trên thì có thể hiểu trước nay và có lẽ cả sau này, cả  cái gọi là “Hệ thống chính trị” và các tổ chức/cá nhân trong lòng nó đều KHÔNG quyết tâm làm việc (trong một số lĩnh vực/vấn đề liên quan).

Có thể hiểu hóa ra từ trước đến nay cả cái hệ thống này đều ĐỨNG NGOÀI cuộc (trong một số lĩnh vực/vấn đề liên quan).

Có thể hiểu hóa ra từ trước đến nay mới chỉ có “hệ thống PHI chính trị” là có “quyết tâm”, có “vào cuộc”, có làm việc (trong một số lĩnh vực/vấn đề liên quan).
Vậy cái “hệ thống chính trị” là cái gì mà được quyền LỜ VỜ (dùng tạm từ này để đối nghĩa với QUYẾT TÂM) làm việc hoặc KHÔNG (thèm) vào cuộc nhỉ? Nếu nó là một hệ thống không ăn lương của dân để tồn tại và làm việc thì dễ hiểu vì ... thiếu động lực (bát cơm/sổ hưu) để làm việc. Nhưng nếu vậy thì tại sao phải/cơ sở nào để quyết tâm lôi/buộc nó vào cuộc, hoặc buộc/làm cho nó phải quyết tâm vào cuộc? Vào cuộc rồi liệu nó có quyết tâm làm việc (như ý muốn) được không khi mà nó không có bát cơm/sổ hưu treo trước mũi làm động lực?

Nếu nói hệ thống chính trị này là hệ thống ăn lương của dân, làm việc cho dân, quản lý/lãnh đạo/dắt mũi dân thì ai cho nó cái quyền ăn lương mà KHÔNG (QUYẾT TÂM) làm việc, KHÔNG VÀO CUỘC? Ai phải chịu trách nhiệm cho tình trạng này? Cái gì làm nó phải quyết tâm vào cuộc?
Nếu hệ thống chính trị này có ăn lương và phải (quyết tâm) làm việc, thì lại phát sinh thêm vấn đề rắc rối là thế thì lúc đó cái hệ thống PHI chính trị kia (chắc là có ăn lương của dân vì phải làm việc khi hệ thống chính trị đứng ngoài cuộc, không thèm quyết tâm làm việc) vất đi đâu, để làm gì, vì nó vẫn đang làm việc cơ mà? Thế thì lại suy ra tiếp rằng cái hệ thống PHI chính trị này có ăn lương của dân mà KHÔNG làm được việc, không đáp ứng được nhu/yêu cầu của dân. Vậy thì giải tán quách cho rồi, đỡ tốn tiền dân.

À mà viết đến đây tớ chợt hiểu ra rằng rất có thể cái nước mình nó có 2 hệ thống. Một cái là “hệ thống PHI chính trị”, rất có thể là hệ thống hạ cấp hơn, dùng để làm những việc vớ vẩn, tầm thấp. Với cái tầm này thì loại hình và chất lượng công việc là điều không bao giờ nên/được đặt ra. Hệ thống thứ hai là “hệ thống chính trị” cao cấp hơn, chuyên để làm những việc ở tầm cao hơn, làm những việc mà hệ thống PHI chính trị không làm được, còn thông thường thì không thèm làm việc, có làm thì lờ vờ gọi là có, có làm thì chỉ mân mó bên ngoài chứ không thèm vào hẳn bên trong. Thế thì các đồng chí cứ/hãy hi vọng dầm dề rằng một ngày đẹp trời nào đó cái hệ thống chính trị này tự dưng sung lên, tự giác và quyết tâm, “quyết liệt” vào cuộc (thêm một từ thời thượng nữa). May nhờ rủi chịu nhé.

Nhưng nói gì thì nói, tớ cũng chịu chẳng hiểu tại sao lại phải có/cần đến sự tồn tại của cả 2 hệ thống này, cũng như chức năng và nhiệm vụ của chúng. Thôi thì cứ quy cho “lỗi hệ thống” là xong, hoặc “đặc thù” của Việt Nam cho đỡ đau đầu thắc mắc lôi thôi.

Thursday, 21 March 2013

Ghi nhanh (bổ sung)

3. Quên không nói đến chuyện đánh thuế lên tiền gửi tiết kiệm. Nhìn chung dư luận “chửi” cái đề xuất này không ra gì với lập luận nào là thế là đánh thuế 2 lần, nào là những người hưu trí sống bằng tiết kiệm thì thiệt thòi quá, nào là kinh tế còn khó khăn, thu nhập dân cư còn thấp nên đánh thuế thế là tận thu, không thể/nên so sánh với nước ngoài nơi có bảo hiểm xã hội tốt, nào là dân sẽ rút tiền ra đầu tư vào vàng, ngoại tệ v.v… Có người còn đi xa hơn khi liên hệ với việc tương tự xảy ra ở Sip để đe Việt Nam.
Thực ra, cũng như đã có người chỉ ra, gửi tiết kiệm cũng là một kênh đầu tư có thu nhập và lợi nhuận. Vậy theo nguyên tắc thì mọi nguồn thu nhập đều bị/phải đánh thuế, kể cả từ tiền gửi tiết kiệm. Và chuyện này không chỉ xảy ở Việt Nam mà còn ít nhất theo tớ biết là ở Sing. Bản thân tớ trước đây đã được ngân hàng gửi thống kê cuối năm báo là trong năm qua đã có bao tiền lãi làm cơ sở để cá nhân khai báo với Cục Thuế khi khai tổng mức thu nhập trong năm. Nhưng gần đây thì không thấy còn nhận được cái thống kê kiểu này từ ngân hàng nữa (có lẽ do tớ nghèo, tiền gửi ở ngân hàng chưa hết tháng đã bị rút gần hết, chẳng được mấy xu tiền lãi nên các ngân hàng chán không buồn gửi nữa chăng?) nên tớ mới không phải khai báo tiền lãi tiết kiệm vào tổng thu nhập hàng năm.
Thứ hai, thực ra cái đề xuất đánh thuế tiền tiết kiệm trên nếu về bản chất là đề xuất đánh thuế trên tiền lãi thì hòan toàn chấp nhận được. Ở đây chẳng có gì liên quan đến nghèo khổ, khó khăn, hưu trí, làm ăn trì trệ, thu nhập dân cư còn thấp v.v... như người ta vẫn nại ra. Những vấn đề này sẽ là vô nghĩa nếu sự đánh thuế được tính trên tổng thu nhập của cá nhân hàng năm và có sự liên thông giữa tiền lãi với tổng thu nhập như tớ nói ở trên như với Sing. Hiển nhiên khi đó nếu là hưu trí (thiếu gì hưu trí giàu?), người nghèo sống bằng ít tiền lãi tiết kiệm thì đâu có bị sứt mẻ đồng lãi nào nếu tổng thu nhập cả năm/tháng dưới mức tối thiểu đánh thuế. Còn nếu “chẳng may” có bị đánh thuế thì chứng tỏ những đối tượng đó không còn bị/được gọi là người thu nhập thấp nữa thì việc bị đánh thuế lên tiền lãi là hiển nhiên còn gì? Và theo cơ chế đánh thuế kiểu này thì cũng chẳng còn lo chuyện lách luật bằng việc tách nhỏ các khỏan gửi, vì cuối cùng thì mọi thứ vẫn phản ánh ở tổng thu nhập khai với Cục/Sở thuế, chẳng thoát đi đâu được.
Còn những cái chuyện như dân rút tiền ra không gửi nữa, ngân hàng sẽ phải tính lãi cho vay cao lên để bù đắp chi phí vay cao khi người gửi tiền đòi lãi cao để bù đắp thuế, hoặc chuyện bất ổn như xảy ra ở Sip v.v… là những nỗi lo theo kiểu đếm cua trong lỗ vì thị trường sẽ điều chỉnh tất cả những mối quan hệ/quyền lợi này, và mọi sự ban đầu bao giờ cũng có xáo trộn nhưng rồi mọi thứ sẽ dần đi vào nền nếp thành thói quen. Nói đâu xa, trước đây chưa lâu lắm, làm gì mấy ai quen/thích với khái niệm bị đánh thuế thu nhập đâu mà nay thì chuyện này đã thành hiển nhiên rồi. Nếu cứ lo thế thì sẽ chẳng bao giờ nhà nước thu được một đồng thuế thu nhập nào vì cho rằng sẽ nổ ra bạo loạn do dân chúng phản đối sự “bóc lột” này ư?

Ghi nhanh


1.       Mấy hôm nay dư luận được dịp hỉ hả về chuyện cá nhân vừa được cho phép vay vốn từ nước ngoài. Đa phần tán thành vì cho rằng những việc liên quan thì trước nay người ta vẫn làm, chỉ khác là phải làm chui, nhiều rủi ro (nhất là khi xảy ra tranh chấp), còn nay thì được trực tiếp làm, hợp pháp làm. Nhà nước thì có thêm ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối và “phát triển kinh tế” (sao người ta không nghĩ đến lúc ngoại tệ chảy ngược ra nhỉ, như trong cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á năm 1997?).

Cũng có một số người thì quan ngại với những rủi ro, chủ yếu là “tăng gánh nặng nợ quốc gia” (ơ hay, thế nào là “nợ quốc gia”?). Lại có người phản biện nỗi lo này bằng cách vạch ra rằng đây là nợ tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm nên không thống kê vào nợ quốc gia. Đơn giản thế sao? Thế đến lúc người ta (ào ạt) phải thu xếp trả nợ và phải tìm mọi cách để có được ngoại tệ để trả nợ ra nước ngoài thì ai là người gánh chịu hậu quả cuối cùng? Không ai? Không phải nhà nước? Đúng là nhà nước, mà đúng hơn là NHNN vì chí ít ở Việt Nam thì “mọi con đường ngoại tệ đều dẫn đến NHNN”! Có lẽ người ta không đủ chiều sâu kiến thức để liên hệ đến cái gọi là “bộ ba bất khả thi” và hậu quả có liên quan của việc tự do hóa lưu chuyển vốn (trong trường hợp này ở Việt Nam là tự do hóa dòng vốn chảy ra nước ngoài) lên chính sách tỷ giá và lãi suất, để từ đó phải bớt hân hoan, ca ngợi sự “cởi trói” chính sách này trong khi NHNN vẫn phải đang vật lộn với bài toán tỷ giá và lãi suất ở Việt Nam hiện nay và cho nhiều năm sau.

Tờ VEF lại còn đi xa hơn khi nêu ra những rủi ro liên quan như người Việt Nam sẽ bị lừa khi vay nước ngoài. Thế liệu người ta có nên lo ngại, thương xót cho những nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán hay vàng ở Việt Nam không? Cùng một logic thế mà!

Riêng tớ thì chẳng có tí mảy may phản ứng với cái sự “cởi trói” này vì biết thừa rằng còn lâu cái viễn cảnh này mới thành hiện thực được. Chắc chắn việc vay mượn, chuyển tiền ra nước ngoài sẽ không dễ dàng như trên giấy tờ vì hầu như mọi quy định đều được “thòng” thêm mệnh đề “theo quy định của pháp luật” hoặc “theo quy định của Thủ tướng” hoặc “theo quy định của NHNN” hoặc “được phép” của những nơi/cái/người này v.v... Cái cơ chế này về bản chất vẫn sẽ là cơ chế “xin cho”, ad hoc, tùy tiện, tạo điều kiện cho tham nhũng và bất minh bạch có lợi cho một số người/nhóm nào đó có quyền lực hoặc có quan hệ, và gây khó cho những đối tượng khác. Ngoài ra, Chính phủ và NHNN đương nhiên (có lúc sẽ phải) biết đến rủi ro/nếm mùi cay đắng của việc tự do hóa lưu chuyển vốn như thế này trong khi trong tay chẳng có mấy công cụ và khả năng kiểm soát tình hình. Với thực tế như thế thì thượng sách vẫn là nói một đằng làm một nẻo, cho phép trên giấy tờ còn thực tế thì tùy xét! Tóm lại mọi việc vẫn sẽ như cũ.
2. Mấy hôm trước tớ vừa “độc mồm” nhắc đến chuyện các đồng chí chuyên gia phản đối phá giá VND thì cứ xui Chính phủ dùng các công cụ trợ giá, trợ cấp để kích thích xuất khẩu thủy sản. Thì mấy hôm nay dư luận lại được hâm nóng với cái tin Mỹ trừng phạt các nhà xuất khẩu cá (gì nhỉ?) của Việt Nam. Vẫn như thường lệ, hết người này đến hội nọ, tổ chức kia lên tiếng phản đối quyết định “bất công” này của Mỹ. Chẳng có mấy người nghĩ sâu xa hơn một chút tại sao lại có những cái loại quyết định “bất công” thế này đối với Việt Nam và khả năng kiện thắng Mỹ là hầu như không có. Cũng chẳng có ai để ý đến chi tiết (đăng trên báo Việt Nam hẳn hoi nhé) là có bao nhiêu doanh nghiệp Mỹ và/hoặc sản lượng cá nuôi ở Mỹ đã ra đi vì những nhà xuất khẩu Việt Nam (tớ quên mất con số cụ thể rồi). Trước đây tớ có viết một bài về chuyện này, dẫn lại mấy cái ví dụ bao nhiêu doanh nghiệp may mặc ở Mỹ đã phải đóng cửa nhường thị trường cho hàng may mặc của Việt Nam và các nước tương tự, để rồi nhiều người Mỹ thất nghiệp. Nếu kêu gọi Mỹ thông cảm, thương xót, nhân quyền hơn khi xem xét đến Việt Nam thì ai sẽ là người thương xót, thông cảm cho các doanh nghiệp, công dân Mỹ mất việc vì những trò thương mại gian lận này? Dám làm thì dám chịu thôi, đừng kêu ai. Và cũng mong là qua những ví dụ này để những người hoạch định chính sách biết phải làm gì cho đúng.

Thursday, 14 March 2013

Có nên phá giá VND không? (Bài đăng trên TBKTSG)


Đây là bản gốc. Bản đăng trên TBKTSG số ra 14/3/2013 đã bị cắt bớt một vài đoạn.
http://www.thesaigontimes.vn/Home/taichinh/nganhang/93029/Co-nen-pha-gia-tien-dong-khong?.html
--------------------------------------------------
(TBKTSG) - LTS: Đã có nhiều ý kiến khác nhau về việc điều chỉnh hay giữ nguyên tỷ giá kèm theo là những phân tích tác động lên nền kinh tế. Số báo tuần này, TBKTSG giới thiệu một ý kiến nữa, với một số góc nhìn mới hơn để bạn đọc tham khảo.

Gần đây chuyện có nên phá giá VND lại có dịp làm nóng dư luận với bên phản đối phá giá nắm phần áp đảo tuyệt đối với rất nhiều lý lẽ nghe hết sức thuyết phục so với bên ủng hộ phá giá vốn đã ít lại chỉ đưa ra được một (số) ít lý lẽ chưa đủ sức nặng, chủ yếu là dựa trên chuyện xuất khẩu sẽ tăng lên. Trong bài viết này chúng ta sẽ vạch ra các sai lầm và/hoặc chưa hoàn toàn chính xác trong các lập luận của bên phản đối, đồng thời bổ sung thêm một số lý do làm tăng sức nặng cho bên ủng hộ.
Thứ nhất, bên phản đối cho rằng điều chỉnh tỷ giá (phá giá) sẽ làm gia tăng lạm phát và cản trở những nỗ lực ổn định kinh tế vĩ mô.

Có thể nói đây là một trong những lý do chính được bên phản đối đưa ra làm hậu thuẫn cho việc không nên phá giá. Theo cách hiểu trên thì tỷ giá gây ra lạm phát và vì thể để chống lạm phát cần phải ổn định tỷ giá. Nhưng trên thực tế, đa phần áp lực đẩy tỷ giá tăng (nội tệ mất giá) là xuất phát từ lạm phát. Và lạm phát thì lại thường là kết quả trực tiếp và chủ yếu của chính sách tiền tệ nới lỏng gây ra. Vì thế, có thể nói hành động ổn định tỷ giá để kiềm chế lạm phát như vậy về bản chất là vừa không trị đúng nguồn gốc căn bệnh lạm phát là do cung tiền tăng, lại vừa tốn kém một cách vô ích vì phải dùng quỹ dự trữ ngoại hối để can thiệp bình ổn tỷ giá mà rốt cuộc vẫn phải phá giá (như nói thêm dưới đây).
Thứ hai, bên phản đối lo ngại rằng nếu điều chỉnh VND 3%-4% hàng năm như theo đề xuất của một số người sẽ làm gia tăng kỳ vọng tỷ giá và phá vỡ những nỗ lực của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong việc bình ổn tỷ giá và tâm lý thị trường; niềm tin đối với giá trị VND dễ bị mài mòn.

Cần thấy rằng trên bề mặt thì lời tuyên bố giữ ổn định tỷ giá của NHNN có vẻ như sẽ tạo lập được niềm tin cho thị trường khi môi trường kinh doanh bớt đi một yếu tố bất trắc. Nhưng cái thiện ý này của NHNN lại khuyến khích các doanh nghiệp đi vay bằng ngoại tệ để sản xuất kinh doanh với lợi rõ ràng là lãi suất đi vay ngoại tệ thấp hơn hẳn rất nhiều so với VND, trong khi đáng chú ý là nhiều trong số họ có doanh thu bằng VND. Tình trạng bất đối xứng đồng tiền (currency mismatch) như vậy sẽ gây thêm áp lực rất lớn cho NHNN trong việc cố gắng thực hiện mục tiêu ổn định tỷ giá, đặc biệt khi thời hạn trả nợ các khoản vay ngoại tệ đến dồn dập vào thời điểm nào đó (cuối năm).
Ngoài ra, niềm tin đối với VND và tâm lý thị trường chỉ có thể ổn định một cách vững chắc khi có thêm những điều kiện kinh tế vĩ mô vững chắc, là những điều kiện làm hậu thuẫn cho tỷ giá VND ổn định. Những điều kiện đó bao gồm (nhưng không chỉ giới hạn ở) chính sách tiền tệ thận trọng (không bơm tiền quá liều), lạm phát (trước đó) không quá lớn, cán cân thương mại/vốn thăng bằng/thặng dư, dự trữ ngoại tệ đủ lớn, NHTW độc lập tương đối với Chính phủ và không bị áp lực phải in tiền tài trợ cho thâm hụt ngân sách, tỷ giá trước đó đã được biến động linh hoạt và NHTW không cam kết ổn định tỷ giá thái quá và bằng mọi giá, lưu chuyển vốn vào ra khỏi Việt Nam bị kiểm soát chặt chẽ, xuất khẩu không bị áp lực phải tăng trưởng mạnh (trong đó có nhờ đến phá giá) nhằm bù đắp cho nhu cầu thị trường nội địa suy giảm (như hiện nay) làm tăng trưởng kinh tế và việc làm bị tụt xuống dưới mức tiềm năng v.v.. Dễ thấy là nhiều trong số những điều kiện nền tảng này đã và đang không được đảm bảo ở Việt Nam. Một khi các điều kiện này đã bị vi phạm thì việc ổn định tỷ giá bất chấp các nền tảng yếu ớt sẽ chỉ mang tính nhất thời, ngắn hạn và sớm muộn NHNN cũng phải “buông” ra một cách mạnh mẽ, như hồi năm 2011.

Thị trường biết rõ điều này và chính vì thế nên mọi sự “kiên định” thái quá của NHNN trong việc níu kéo tỷ giá chỉ làm tăng thêm kỳ vọng phá giá và đầu cơ USD. Kỳ vọng này lại càng làm trầm trọng thêm áp lực phá giá VND, đẩy nhanh thời điểm phải phá giá đến sớm hơn. Và một khi đã xảy ra thì mức độ phá giá phải lớn hơn mức cần có để phục hồi lại các nền tảng ổn định tỷ giá trở lại.
Nói cách khác, ổn định tỷ giá bất chấp các nền tảng lung lay như hiện nay sẽ mang đến nhiều thiệt hại hơn để đổi lấy cái gọi là niềm tin, vốn mông lung, có điều kiện, và rất mong manh trong hoàn cảnh hiện tại.

Thứ ba: bên phản đối cho rằng việc điều chỉnh tỷ giá sẽ làm tăng mức độ nợ công của nền kinh tế.
Đây là một sai lầm rất phổ biến trong mọi giới ở Việt Nam. Như trong bài viết sau trên VEF,
http://vef.vn/2011-11-05-nen-doi-xu-nhu-the-nao-voi-ty-gia-usd-

tác giả đã chỉ ra rằng để ổn định tỷ giá nhằm tránh tăng gánh nặng trả nợ công của Việt Nam quy ra theo VND thì NHNN phải trả giá thay Chính phủ bằng việc sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối của mình. Tức là thiệt hại do tăng nợ công lẽ ra Chính phủ phải gánh thì nay gánh nặng này lại được đẩy sang NHNN, gánh nặng nợ chỉ đổi từ vai phải sang vai trái của quốc gia. Khi ổn định tỷ giá bằng quỹ dự trữ ngoại hối (tài sản công) thì chỉ có khu vực doanh nghiệp và cá nhân là được lợi hoàn toàn vì họ được “bù lỗ”, “trợ cấp” bằng tài sản công. Việc này càng khuyến khích doanh nghiệp và tư nhân vay nợ nước ngoài, như đã nói ở điểm thứ hai
Thứ tư: bên phản đối cho rằng phá giá không nhất thiết làm tăng xuất khẩu, cải thiện cán cân thương mại. Lý do họ đưa ra là do tỷ trọng nhập khẩu trong sản xuất trong nước và xuất khẩu quá lớn, bởi thế khi phá giá sẽ làm giá cả hàng nhập khẩu tăng và nhập siêu trầm trọng quay trở lại.

Bên phản đối đã bỏ qua/nhầm lẫn một tác dụng rất quan trọng của phá giá là kích thích tăng lượng xuất khẩu (vì làm giảm giá hàng xuất khẩu quy ra USD từ đó làm tăng tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam trên thị trường quốc tế), và đồng thời giảm lượng nhập khẩu (vì làm tăng tương đối giá hàng nhập khẩu quy ra VND so với hàng hóa tương ứng sản xuất trong nước). Doanh số tăng từ khối lượng xuất khẩu tăng thường sẽ lớn hơn phần doanh số sụt giảm do giá xuất khẩu của Việt Nam giảm một chút so với đối thủ khác.
Còn nhập khẩu, đồng ý rằng giá tính ra VND có tăng lên, nhưng giá nhập khẩu bằng USD thì không đổi trước và sau khi phá giá VND. Nhưng vì lượng nhập khẩu phải giảm đi, nên doanh số nhập khẩu tính bằng USD sẽ giảm đi. Kết hợp với doanh số xuất khẩu tăng lên, doanh số nhập khẩu giảm đi sẽ càng làm cho cán cân thương mại được cải thiện và thậm chí thặng dư, hậu thuẫn cho sự ổn định vững chắc của tỷ giá VND. 

Thứ năm: bên phản đối cho rằng nếu phá giá VND thì niềm tin và dòng vốn đầu tư nước ngoài có thể bị ảnh hưởng, bởi họ bị “móc túi” khi rót vốn vào Việt Nam (do tỷ giá tăng nên giảm lợi nhuận ra nước ngoài).
Niềm tin chỉ là một khái niệm tương đối. Nhà đầu tư còn mất niềm tin hơn nữa khi NHNN trước đó còn khăng khăng tuyên bố “kiên định” với ổn định tỷ giá thì đùng một cái sau vài ngày, vài tuần, vài tháng lại phải phá giá (mạnh) khi không thể đỡ được với áp lực thị trường. Ngược lại, niềm tin sẽ có nhiều hơn một cách tương đối nếu nhà đầu tư được nghe NHNN tuyên bố rằng tỷ giá sẽ linh hoạt biến động (không quá mạnh). Trên hết, ngày này hầu như chẳng có mấy nước có chính sách tiền tệ độc lập lại cố định tỷ giá nội tệ với USD cả và chuyện phá giá thì ngay cả những nền kinh tế phát triển các NHTW vẫn thỉnh thoảng can thiệp phá giá nội tệ (một cách bất ngờ). Nếu lập luận như trên thì hóa ra các nhà đầu tư nước ngoài xa lánh hầu hết các thị trường đầu tư trên thế giới ư?

Còn chuyện nhà đầu tư bị “móc túi” khi VND bị phá giá. Có thể vậy, đặc biệt với những nhà đầu tư ngắn hạn vào các sản phẩm tài chính, tìm cách ăn chênh lệch lãi suất. Nhưng loại nhà đầu tư này và dòng vốn mà họ mang vào (FII) thực ra là điều không nên/không được khuyến khích ở nhiều nơi trên thế giới. Chuyện VND thỉnh thoảng bị phá giá đột ngột lại làm họ nản chí, chỉ còn lại những người muốn đầu tư dài hạn (FDI). Theo đúng quy luật thị trường công bằng, muốn đánh nhanh thắng nhanh thì phải chịu rủi ro đến nhanh và nhiều.
Xét thêm về dòng vốn FDI, có hai loại FDI chính có thể được lợi, bị hại rõ ràng khi VND thỉnh thoảng bị phá giá (lưu ý rằng vì là FDI nên ở đây ta chỉ xét đến việc xảy ra trong ít nhất là trung hạn, chứ không chỉ là vài tháng, 1 năm như với FII). Với dòng FDI vào sản xuất để thay thế cho hàng nhập khẩu (tức là hướng vào thị trường trong nước), do nguồn thu của nhà đầu tư này chủ yếu là VND thì đương nhiên là sẽ bị thiệt khi chuyển doanh thu VND ra USD để thanh toán đơn nhập khẩu và chuyển lợi nhuận về quê nhà. Nhưng đây chỉ là hậu quả tức thời diễn ra trong và sau một thời gian ngắn sau khi phá giá VND. Còn về dài hạn hơn, phá giá VND làm nhập khẩu giảm sút vì bớt tính cạnh tranh với hàng sản xuất trong nước, nên các chủ đầu tư FDI hướng nội này được hưởng lợi nhờ thị trường mở rộng, đồng nghĩa với lợi nhuận VND thu được tăng lên, và như thế có nghĩa là lợi nhuận quy ra USD không nhất thiết giảm đi, mặc dù tỷ giá đã tăng.

Ngược lại, đối với FDI hướng xuất khẩu thì có thể thấy cái lợi rõ hơn chủ yếu nhờ tăng được lượng xuất khẩu do có giá bán tính theo USD cạnh tranh hơn, từ đó có thể đảm bảo lợi nhuận chuyển về nước không bị ảnh hưởng do phá giá. Không phải ngẫu nhiên nhà đầu tư FDI hướng xuất khẩu thường chọn những nước có chi phí và giá thành sản xuất hạ để đầu tư, trong đó việc phá giá của nước sở tại để hạ chi phí sản xuất tính theo USD là một biện pháp thực tiễn.
Thứ sáu: bên phản đối cho rằng khi phá giá VND, tác động ngược là nhập khẩu lạm phát. Nguy cơ lạm phát cao trở lại sẽ có thêm “cú hích”. Để chống lạm phát cao, một giải pháp kinh điển và quen thuộc tại Việt Nam những năm qua là tăng lãi suất, làm tổn hại đến quá trình phục hồi kinh tế.

Với lập luận trên, lật ngược lại, nếu cương quyết không phá giá thì, ngoài biện pháp hành chính vốn không mấy hữu hiệu, NHNN thường phải tăng cầu VND tương đối so với USD, thông qua hoặc bơm thêm USD ra, hoặc ngừng mua vào USD, hoặc rút bớt VND về. Vì cầu VND tăng tương đối nên lãi suất VND sẽ có xu hướng tăng lên nhưng chính trong quá trình NHNN “kiên định” không phá giá VND, chứ không phải là khi chủ động phá giá VND. Nói cách khác, việc lãi suất VND tăng là việc có khả năng xảy ra ngay khi NHNN cố tình không phá giá VND.

Ngược lại, khi NHNN chủ động phá giá VND thì NHNN sẽ tăng cung VND tương đối so với USD. Tăng cung VND sẽ dẫn đến hậu quả là lãi suất sẽ (có xu hướng) giảm, chứ không phải là lãi suất tăng như bên phản đối lo ngại. Tất nhiên, sau tăng cung VND thì áp lực lạm phát sẽ tăng lên, nhưng đây là quá trình xảy ra sau đó, với một độ trễ nào đó (mà người ta cho là 3 tháng, 6 tháng gì đó), chứ không phải là xảy ra ngay. Và khi lạm phát đã tăng lên thì cũng cần phải có một độ trễ nữa thì mới dẫn đến lãi suất được điều chỉnh tăng lên. Nói cách khác, nền kinh tế vẫn được hưởng lợi ngay từ việc lập lại cán cân thương mại và lãi suất hạ đi trước khi nó (lãi suất) có dịp tăng lại (và cũng cần thêm một thời gian nữa, nếu có tăng) thông qua áp lực tăng lạm phát.
Thứ bảy (có liên quan đến phá giá VND): Nhiều chuyên gia cho rằng lãi suất ở Việt Nam cao (gần) nhất thế giới thì hàng hóa sản suất ở Việt Nam không thể cạnh tranh được với các nước khác (vì đầu vào là lãi suất làm tăng chi phí sản suất ở Việt Nam).

Cần xem lại lập luận này. Lãi suất cao thường xảy ra trong tình trạng có lạm phát cao. Trong hoàn cảnh này, tỷ giá luôn có xu hướng bị điều chỉnh tăng lên (VND bị phá giá, nếu tỷ giá đã bị kìm trong một thời gian nào đó). Khi tỷ giá đã tăng thì tức là giá hàng sản xuất tại Việt Nam bằng VND tuy có thể tăng (do lãi suất tăng) nhưng tính theo USD không nhất thiết sẽ tăng theo, tùy thuộc vào mức độ phá giá VND. Mà như thế cũng tức là hàng hóa sản xuất tại Việt Nam vẫn có cơ hội cạnh tranh được với hàng hóa sản xuất tại nước ngoài, nếu không mù quáng kìm hãm tỷ giá. Ngược lại, nếu mù quáng kìm hãm tỷ giá (danh nghĩa) thì đương nhiên là hàng hóa Việt Nam mất tính cạnh tranh vì giá thành của chúng tính bằng USD đã tăng do giá thành tính bằng VND cũng tăng sau khi tăng lãi suất đi vay bằng VND, còn tỷ giá thì không đổi.
Kết luận lại, có nhiều lý do hợp lý hơn để NHNN phải xem xét đến việc tiến hành phá giá VND hơn là “kiên định” với ổn định tỷ giá trong hoàn cảnh hiện nay. Trên hết, không phải ngẫu nhiên nhiên mà chính phủ các nước trên thế giới đều tìm cách hạ giá nội tệ để kích thích tăng trưởng kinh tế và việc làm, như đang chứng kiến hiện nay. Nếu có/biết phải phá giá thì cần tránh mọi tuyên bố như kiểu hoặc kiên quyết ổn định tỷ giá, hoặc sẽ phá giá (hay điều chỉnh) trong khoảng, ví dụ, 3%-4%/năm. Một lập trường tỷ giá bất định đối với thị trường, như cung cách thường làm ở các NHTW trên thế giới là điều khôn ngoan hơn, xét trên mọi lẽ.

Tuesday, 12 March 2013

Trả lời tiếp bạn đọc


Đồng chí hôm trước lại tiếp tục hỏi tớ chuyện sau.

-------------------------------------------------

Nhân việc hôm qua đọc 1 bài viết sau của 1 "đồng chí" (tạm coi là thuộc thành phần lề trái), như sau:

Multiplier Effect trong nền KT VC bị xơ cứng:
http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/...244617ca34.chn

Vòng quay Cung Tiền bị chậm hẳn lại, "tiền ở đâu, để đó" không động đậy tới 1 lần/năm!

Mà GDP = MS x VM, trong đó MS = Money Supply (cung tiền); VM = Velocity of Money (tốc độ xoay chuyển tiền tệ).

VM xuống thấp, thì GDP phải xuống thấp theo, trừ khi MS tăng cao hơn VM.

Nay Việt Cộng tự há miệng mắc quai: Cùng lúc họ nói VM xuống, cùng lúc họ nói GDP tăng.

Tức là họ công nhận MS (in tiền ra) tăng cực mạnh, để cho dù VM xuống, GDP vẫn tăng, và số tăng này chẳng qua là do IN TIỀN ra mà thôi, chứ tốc độ dòng tiền lưu chuyển (mua, bán) giảm hẳn đi.

Chẳng khác nào lực sĩ làm "bắp thịt nở nang" chẳng qua là do chích steroids, chứ SỨC MẠNH thật ra là GIẢM (vòng quay, số lần có thể cử tạ, là giảm).

-----------------------

GDP VN năm 2008, theo con số "chính thức" (tại VN, "chính thức" = giả dối), là 71,11 tỉ USD, năm 2012 là 123,961 tỉ USD:
http://www.tradingeconomics.com/vietnam/gdp

Trong 4 năm, theo tin "chính thức", GDP VN tăng 74%.

Trong khi đó, theo bài trên của Cafef, VM giảm từ 0,92 xuống 0,8.

Giải phương trình GDP = MS x VM:

1,74 = 0.87 x MS

=> MS = 2.

Như vậy, CUNG TIỀN đã tăng 2 lần trong 4 năm 2008-2012.

Và LẠM PHÁT luôn tỉ lệ thuận với cung tiền.

Ít nhất LẠM PHÁT tăng 200% trong 4 năm, từ 2008 tới 2012.

Dân chúng nếu thu nhập không tăng 200% trong 4 năm đó, thì tức là SỨC MUA họ bị giảm theo cùng tỉ lệ.

Ví dụ, họ thu nhập năm 2008 là 2 triệu/tháng, năm 2012 thu nhập 3 triệu/tháng, tăng 150%. Thì tức là SỨC MUA họ giảm 50%.

--------------------------

Năm 2013, VM còn giảm thêm, do nay KT trì trệ, bị stagnation.

Giảm bao nhiêu, thì phải tăng MS cùng tỉ lệ, chỉ để GDP giữ nguyên.

Muốn tăng GDP 5%, thì phải tăng MS hơn 5% so với số VM giảm đi.

Ví dụ, VM giảm 10%:

1.05 = 0.9 x MS
MS = 1.167

Phải tăng MS 16,7% để tăng GDP 5% trong trường hợp VM giảm 10%.

Và tăng MS 16,7% sẽ làm tăng LẠM PHÁT cao hơn số này.

--------------------

Bài toán khác, nay VC muốn tăng GDP 5%, lạm phát dưới 6%.

Như vậy:

1.05 = VM x 1.06
VM = 0.9905.

VM phải giảm dưới 1%, tức là tốc độ xoay vòng của dòng tiền chỉ có thể giảm 1% so với năm 2012.

Nhưng các bạn chỉ cần nhìn xung quanh là thấy dòng tiền xoay chuyển chậm chạp thế nào, ngay cả so với cách đây vài tháng.

Theo tôi, dòng tiền xoay chuyển chậm ít nhất 20% so với năm ngoái, tức là năm nay VM không tới 0,7.

Như vậy, muốn GDP tăng 5%, thì VC phải tung cung tiền ra THÊM ít nhất 25% so với năm ngoái, và thế là LẠM PHÁT sẽ là 25%, khó ít hơn.

Không thể vừa giảm lạm phát, vừa tăng GDP, trong hoàn cảnh nền KT trì trệ hiện nay.

VM sụt, MS sụt, thì không làm sao GDP tăng được.

Em chỉ thỉnh thoảng vào cái chủ đề của "đồng chí" này nhưng thấy nhiều bài "đồng chí" lập luận cũng khá hay, kiến thức em thì có hạn nhưng thấy có nhiều cái "đồng chí" viết đọc cũng đáng xem. Đồng chí này cũng có gì đó liên quan đến mấy trang sau:

http://dudoankinhte.wordpress.com
http://www.facebook.com/dudoankinhte
http://www.youtube.com/dudoankinhte

Anh Ngọc có biết thông tin gì về "đồng chí" này hay không ạ, có nên đoc những bài của "đồng chí" này viết không ạ? (em chỉ nói đến khia cạnh học thuật về kinh tế chứ không bàn đến chính trị).
-----------------------------------------

Tớ trả lời:
Theo lý thuyết thì:
V = (P * Y)/M,
where V is the velocity, P is the price level, Y is the real GDP and M is the quantity of money.


Nên trong cái công thức trên, trích dẫn cụ thể: GDP = MS x VM, trong đó MS = Money Supply; VM = Velocity of Money,
thực chất GDP là GDP danh nghĩa (=P*Y), chứ không phải GDP thực, theo giá cố định (Y). Giả sử MS cố định, nếu VM giảm thì GDP danh nghĩa giảm. Nhưng GDP danh nghĩa giảm không đồng nghĩa với GDP thực (Y) giảm, vì còn phụ thuộc vào P. Nếu P cũng giảm đi (thể hiện bằng CPI hạ thấp đi) thì Y vẫn có khả năng tăng. Nên cả mớ lý luận dài dòng của đồng chí xyz gì đó ở trên là vớ vẩn.
Còn tại sao VM (hay V) giảm đi ở Việt Nam như vừa qua? Cứ theo công thức trên có thể suy ra, và thực tế là vậy, rằng: (1) CPI đã giảm, chính xác hơn là mức giá không tăng nhanh như thời gian trước; (2) Y chỉ giảm một chút; (3) mẫu số M đã tăng mạnh, hơn cả mức tăng CPI và mức giảm GDP thực. Kết cục là VM đã giảm.

Về đồng chí tác giả của những lý luận dài dòng trên, không biết có phải là của người có nickname là Dr. Tran không? Nếu đúng thì tớ chẳng có comment gì, vì không đáng phải làm thế (mà tớ cũng chưa gặp bao giờ). Nói thực là tớ đã gặp khá nhiều người kêu la xủng xoẻng như đồng chí này và luôn thấy thương họ vì họ rất ngây thơ không biết mình là cái thùng rỗng.

Monday, 11 March 2013

Trả lời thư bạn đọc về chuyện tỷ giá


Hôm nay có đồng chí email hỏi tớ vấn đề về phá giá như sau. Thấy câu hỏi thiết thực nên tớ post lên đây kèm câu trả lời. Nói thêm là tớ đọc được bài của đồng chí Minh này nhưng rồi quên biến mất, không lôi đồng chí Minh ra để phang trong các entry trước (thật sự là không thấy đáng đọc). Nhưng đồng chí Minh này không thoát được tớ hôm nay!

----------------------------------------------------------------

Gần đây trên báo chí cũng như trên 1 số blog có nhiều bài viết nói về vấn đề tỷ giá, lạm phát, nên hay không nên phá giá VND. Em cũng đã đọc những bài viết của anh trên blog về vấn đề này. Hôm nay đọc thấy bài này của anh Đinh Tuấn Minh, em thấy anh Minh có những quan điểm khác như sau:

http://thitruongtudo.blogspot.com.au/2013/03/chinh-sach-ty-gia-can-tha-noi-co-kiem.html

(1) Trích:

"...Tôi cho rằng việc phá giá VND lúc này là thiếu có cơ sở và trái ngược với mục tiêu tái cơ cấu nền kinh tế trong thời điểm hiện tại. Điều mà Ngân hàng nhà nước cần làm (NHNN) là điều hành một chính sách tỷ giá thả nổi có kiểm soát, tức để tỷ giá biến động hàng ngày linh hoạt hơn theo cung và cầu thực về ngoại tệ trên thị trường, chứ không phải là một chính sách khá cứng nhắc như hiện nay..."

Anh Minh cho rằng:


(2) Trích:

"...Đồng nội tệ có xu hướng mạnh lên trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế..."

Lí do bởi vì:

(3) Trích:

"... nguồn vốn khả dĩ duy nhất để đảm bảo cho sự thành công của quá trình tái cơ cấu kinh tế tại Việt Nam lúc này là dòng vốn đầu tư nước ngoài...Nếu thu hút được đầu tư nước ngoài vào quá trình mua bán nợ xấu, vào việc mua bất động sản và vào việc mua cổ phần tại các doanh nghiệp nhà nước thì tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế sẽ được đảm bảo.....Nhưng việc thu hút một lượng lớn đầu tư nước ngoài đòi hỏi phải có một kỳ vọng vững chắc về sự ổn định của đồng nội tệ của Việt Nam, thậm chí là sự tăng giá của VND. Việc đồng nội tệ không bị mất giá sẽ là một đảm bảo chắc chắn về việc không bị thiệt hại khi nhà đầu tư nước ngoài muốn chuyển tiền về nước.."

Em muốn hỏi anh Ngọc 1 chút có gì khác nhau trong quan điểm của 2 anh về vấn đề này không ?

1 vấn đề nữa em thắc mắc, đó là bảng cân đối kế toán của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, em thấy Ngân hàng nhà nước Việt Nam hình như không công bố những tài liệu này public thì phải?

--------------------------------------------------------------

Trả lời của tớ.

(1)          Đồng chí này nói mà như không nói. Nói “thả nổi có kiểm soát”, và tự giải thích là “để tỷ giá biến động hàng ngày linh hoạt” thì phải chăng là công nhận để cho VND mất giá (khi VND bị áp lực phá giá), cho dù là trong một phạm vi nào đó, không lớn quá? Cho dù là để VND mất giá 1%, 2% hay 5%, 10% thì bản chất là như nhau, tức là một hành động phá giá VND. Mà như vậy thì nói “việc phá giá VND lúc này là thiếu cơ sở và trái ngược với mục tiêu cơ cấu nền kinh tế” là tự mâu thuẫn. Trừ khi đồng chí ý muốn nói “hàng ngày linh hoạt” có nghĩa là chỉ được phép dao động quanh tỷ giá chính thức ở biên độ 0.00...x%/ngày và 0.00...y%/tuần/tháng (tiệm cận 0) thì còn chấp nhận được!

Hơn nữa, nói phá giá lúc này là “thiếu cơ sở” thì đồng chí phải vạch ra nhiều cái hại, so sánh với nhiều cái lợi của việc phá giá để thấy rốt cuộc thì nên phá giá hay không. Hình như trong cả bài của đồng chí này không đề cập (mấy) đến lợi ích của việc phá giá, mà chỉ cố gắng chứng minh rằng phá giá là có hại nếu xét từ góc độ (rất hẹp) rằng thu hút vốn nước ngoài vào mua tài sản, nợ xấu, cổ phần, bất động sản v.v... Như vậy, đồng chí này đã sai ngay từ mặt phương pháp luận, chưa kể sai/không hoàn toàn đúng về chuyện ổn định tỷ giá để thu hút vốn nước ngoài.

Hơn nữa, như tớ đã viết trong các entry trước, phá giá không làm hại tất cả các loại hình vốn nước ngoài. Ngược lại, phá giá có tác dụng “xua đuổi” luồng “tiền nóng” là thứ cần tránh thay vì welcome chúng. Nói thêm ở đây, cứ cho rằng các loại vốn nước ngoài mà đồng chí đề cập đến đều là vốn “quý”, cần khuyến khích (mặc dù hẳn nhiên không phải là vậy), thì việc không phá giá VND bây giờ để hấp thụ vốn nước ngoài (giả sử nhà đầu tư thích VND ổn định, chứ không phải bị định giá thấp, là cái như tớ đã nói là không hoàn toàn đúng, ít nhất đối với FDI hướng xuất khẩu) sẽ chỉ có ý nghĩa/đúng khi Việt Nam (cam kết) sẽ không bao giờ phá giá. Nhưng đồng chí Minh có bảo đảm rằng sau đây nửa năm, 1 năm hoặc hơn, Việt Nam vẫn sẽ không phá giá không? Nếu có phá giá (tớ cho là chắc chắn. Lưu ý rằng gọi là phá giá nhưng thực ra chỉ đơn giản là tỷ giá VND tăng lên so với hiện nay), liệu có thể coi hành động (cam kết) không phá giá hiện nay là lừa đảo nhà đầu tư không? Ngược lại, đối với một nước như Việt Nam, liệu có mấy nhà đầu tư có ý định đầu tư vào Việt Nam lại tin rằng, kỳ vọng rằng tỷ giá VND sẽ ổn định để làm cơ sở cho quyết định đầu tư?

(2)   Tớ chịu chẳng thể nào lý giải tại sao tái cơ cấu kinh tế thì đồng nội tệ lại có xu hướng tăng giá như đồng chí Minh nói được. Hiểu đơn giản thì tái cơ cấu thường gắn liền với xáo trộn, với rủi ro, với bất ổn, với thay đổi có thể theo hướng tốt lên hoặc xấu đi v.v... Mặc dù đồng chí có nêu ra yếu tố lạm phát nhưng cũng hoàn toàn có khả năng rằng tái cơ cấu kinh tế dẫn đến lạm phát tăng/thoát khỏi kiểm soát. Mà như thế, và đi kèm với các rủi ro khác, hoàn toàn có khả năng nội tệ bị mất giá, chứ không phải là lên giá.

Đồng chí Minh nói rằng tỷ giá hiện nay đã ở trạng thái cân bằng để khởi đầu cho tái cơ cấu kinh tế. Nhưng đồng chí đã phân tích các yếu tố cơ bản làm nền tảng cho tỷ giá ổn định chưa? Tỷ giá thực VND đã/sẽ như thế nào? Thâm hụt thương mại cả năm nay đã/sẽ thế nào? Lạm phát đã/sẽ thế nào v.v...? Chưa phân tích thì sao mà nói chắc như đinh đóng cột rằng tỷ giá đã ở thế vững (sẽ duy trì được) và phá giá là thiếu cơ sở được?
Quan trọng hơn, đồng chí giả định rằng năm nay với chính sách kiềm chế lạm phát, với dòng vốn nước ngoài đổ vào, và với tái cơ cấu kinh tế thì VND sẽ lên giá (nên không cần phải phá giá). Tất nhiên, nếu xảy ra như vậy thì có khả năng VND sẽ lên giá. NHƯNG đây chỉ là những giả định/kỳ vọng mà không nhất thiết những điều này sẽ xảy ra, đồng nghĩa là tương lai của ổn định tỷ giá VND là hoàn toàn không có gì đảm bảo. Hơn nữa, cho dù có xảy ra như vậy, nhưng đó là việc trong tương lai (khó/không thể diễn ra trong vòng vài tháng tới), cho nên về logic không thể suy ra rằng cho đến thời điểm này không có áp lực phá giá và không cần phá giá.

(3)   Như phân tích ở trên và trong các entry trước, quan điểm của tớ đương nhiên là ngược lại với của đồng chí Minh (tớ ủng hộ chuyện phá giá, hay nói văn hoa, “an toàn” hơn là “điều chỉnh” tỷ giá) và quan điểm của tớ dựa trên phân tích lợi hại xung quanh ổn định tỷ giá/không phá giá, trong khi các ý kiến phản đối thì hoặc là dựa trên các lý luận hời hợt, sai lầm, phiến diện, hoặc là chỉ đề cập đến một số khía cạnh hạn hẹp của vấn đề, như của đồng chí Minh này. Nếu các đồng chí bạn đọc mà chỉ ra được tớ sai cái nào, (phá giá) hại nhiều hơn lợi thì mới có thể nói rằng không nên phá giá.

Nói thêm, tuần này tớ có 1 bài trên TBKTSG về chuyện có nên hay không phá giá, tập hợp tất cả các lập luận trong các entry liên quan cho đến nay. Các đồng chí đón xem cho rõ thêm nhé.

Về chuyện bảng cân đối tài sản của NHNN, tớ nghĩ là không công bố. Nhiều thứ bình thường hơn còn không công bố, huống chi thứ “nhạy cảm” như vậy?

Tuesday, 5 March 2013

Chuyên gia/tổ chức toàn nói vớ vẩn (phần 2)


Hôm rồi đọc được cái tin tổ chức tài chính nào đó (quên mất tên rồi) cho rằng Việt Nam (có thể?) sẽ đạt thu nhập bình quân đầu người tới 10.000 USD vào năm 2020(?). Đọc xong liền nhớ ngay ra là tớ trước đây lâu lắm rồi có viết một bài ngắn về chủ đề kiểu vịt trời này như bài dưới đây (trên tờ Tuổi trẻ thì phải).
Các đồng chí lưu ý thêm rằng giả thiết là Việt Nam sẽ tăng trưởng với tốc độ bình quân 7%/năm (là tốc độ thần kỳ đạt được ở thập kỷ trước, khó có thể lặp lại) thì phải mất đến 10 năm như vậy mới tăng được GDP lên gấp hai lần. Tất nhiên là 10 năm nữa thì khả năng là tỷ lệ tăng trưởng dân số của Việt Nam sẽ giảm hơn bây giờ một chút ít, nhưng cũng không thể nào làm cho GDP bình quân đầu người tăng lên gấp 3 lần được. Mà GDP bình quân đầu người hiện nay mới chỉ là 1.500 USD thì phải nhỉ? Vậy phải sau 10 năm nữa, tức đến năm 2022, trong bối cảnh thuận lợi, thì GDP bình quân đầu người cũng không thể vượt quá 5.000 USD được. Thế mới càng thấy các đồng chí chuyên gia nước ngoài nhiều khi IQ cũng không vượt quá 100.
 

http://dantri.com.vn/kinh-doanh/viet-nam-kho-co-the-dung-thu-17-ve-tiem-luc-kinh-te-150104.htm

Việt Nam khó có thể đứng thứ 17 về tiềm lực kinh tế?
Bất ngờ khi đọc bài viết của TS Lê Đăng Doanh có trích dẫn báo cáo của Tập đoàn Goldman-Sachs rằng vào năm 2025 Việt Nam có thể sẽ là nền kinh tế lớn thứ 17 trên thế giới, TS Phan Minh Ngọc, Đại học Kyushu, Nhật Bản đã có ý kiến bàn thêm về vấn đề này.

Trong khi trong số những nước có số liệu GDP vào năm 2003 thì có tới 15 nước có mức GDP lớn hơn 436 tỉ USD. Lưu ý là số liệu GDP ở nguồn này chỉ có đến năm 2003, vì vậy nếu xét thêm năm 2004 và 2005 từ các nguồn dữ liệu khác (chẳng hạn từ số liệu thống kê các quốc gia) thì con số nước có GDP lớn hơn 436 tỉ USD ít nhất sẽ là 16 (thêm Nga là nước có GDP vào năm 2003 là 433 tỉ USD). Trong khi đến năm 2003, Việt Nam mới chỉ đứng hàng thứ 56 trên thế giới với 39,2 tỉ.
Cho dù chỉ có 15 nước có mức GDP lớn hơn 436 tỉ USD vào năm 2003 nhưng chắc chắn không thể kết luận được là Việt Nam sẽ có khả năng vọt lên được hạng 17 vào năm 2025 vì các nước khác cũng không ngừng tăng trưởng trong cùng thời kỳ, làm cuộc rượt đuổi của VN càng kéo dài hơn nữa.

Giả thiết (một cách hợp lý) rằng mức tăng trưởng GDP trung bình (tính theo giá cố định năm 2000, bằng cả USD hay bản tệ) của các nước trên thế giới trong suốt 20 năm qua, 1984-2003, cũng chính là mức tăng trưởng của họ trong thời gian 2003-2025.
Như vậy, đến năm 2025 sẽ có tới 33 nước có mức GDP lớn hơn 436 tỉ USD (giá so sánh năm 2025).

Từ mức 39,2 tỉ USD vào năm 2003, muốn đạt được mức 436 tỉ USD (chưa xét tốc độ trượt giá của USD) vào năm 2025 thì Việt Nam phải đạt được tốc độ tăng trưởng là 11,6%/năm trong suốt 22 năm này.
Trong vòng hai thập kỷ gần đây, chưa nước nào vượt qua được Trung Quốc về tốc độ tăng trưởng kinh tế với tốc độ tăng trưởng trung bình 9,4% trong thời kỳ bùng nổ kinh tế của họ (1990-2003).

Trong bài báo trên, chúng tôi chỉ đưa lại trung thực sự xếp hạng của Goldman-Sachs trong báo cáo số 134 ngày 1/12/2005 chứ không phản ánh ý kiến riêng hay nghiên cứu của bản thân chúng tôi.
Trong báo cáo này, Goldman - Sachs đã chủ ý loại ra những nền kinh tế của một số nước và vùng lãnh thổ phát triển (như OECD) có GDP lớn nhưng có dân số và phạm vi tác động tới kinh tế toàn cầu không lớn (theo ý họ) như Hong Kong và Luxembourg và chỉ xem xét các nền kinh tế đang phát triển có khả năng nổi lên trong nhóm N-11 theo sau bốn nền kinh tế BRICs mà thôi.
Xếp hạng đó chỉ có thể được xem xét trong khuôn khổ báo cáo nói trên với những ràng buộc nhất định chứ không thể được coi là xếp hạng trong tất cả các nền kinh tế. Lẽ ra trong bài báo tôi nên nêu rõ ràng để tránh ngộ nhận. Do khuôn khổ bài báo có hạn, tôi đã không nêu rõ chi tiết này và đó là một thiếu sót. Các bạn đã phát hiện chính xác chi tiết này và tôi đồng ý với nhiều lập luận trong các ý kiến của các bạn.
(Trả lời của TS Lê Đăng Doanh)

TS Phan Minh Ngọc
Đại học Kyushu, Nhật Bản
Báo Tuổi trẻ

Sunday, 3 March 2013

Chuyên gia/tổ chức toàn nói vớ vẩn (phần 1) – bổ sung tiếp

Hôm nay tớ tìm được bài trên VnEconomy có nêu 5+1 tác hại của phá giá. Ngoài những cái tớ đã phang trong các entry trước, tớ thấy thêm 2 cái sai thứ 11, 12 như bên dưới nên bổ sung luôn.

Sai thứ 11: Khi phá giá VND khá mạnh như khuyến nghị, tác động ngược là nhập khẩu lạm phát. Nguy cơ lạm phát cao trở lại sẽ có thêm “cú hích”. Để chống lạm phát cao, một giải pháp kinh điển và quen thuộc tại Việt Nam những năm qua là tăng lãi suất (VnEconomy).

Với lập luận trên, lật ngược lại, nếu cương quyết không phá giá thì điều gì sẽ xảy tra? Nói nôm na thì tức là phải tìm cách củng cố giá trị VND so với USD. Mà để đạt được cái này thì phải làm như thế nào? Cho đến nay có 2 cách phổ biến (hoặc phối hợp cả 2). Cách 1 là dùng biện pháp hành chính. Vì là hành chính nên dù có ổn định được tỷ giá chính thức thì đây chỉ là tỷ giá giả tạo vì người có nhu cầu chẳng mấy khi mua được USD. Tỷ giá tự do mới là cái phản ánh chính xác tỷ giá VND đang ở đâu, nên trên thực tế vẫn phải công nhận rằng VND đã bị phá/mất giá so với USD. Cách 2 là NHNN phải tăng tương đối cầu VND và giảm tương đối cầu USD, thông qua (hoặc) bơm thêm USD ra, (hoặc) ngừng mua vào USD, (hoặc) rút bớt VND về. Vì cầu VND tăng lên tương đối (và cung VND giảm tương đối) nên lãi suất VND sẽ có xu hướng tăng lên, chính là hậu quả mà VnEconomy lo ngại khi phá giá VND. Nhưng tiếc là việc tăng lãi suất này lại xảy ra ngay khi NHNN “kiên định” không phá giá VND, chứ không phải là khi chủ động phá giá VND. Nói cách khác, việc lãi suất VND tăng là việc có khả năng xảy ra ngay khi NHNN cố tình không phá giá VND.

Thế còn khi NHNN chủ động phá giá VND thì ảnh hưởng thế nào đến lạm phát và lãi suất? Khi NHNN phá giá VND, nó có thể làm ngược lại quá trình “kiên định” không phá giá nói trên, tức là tăng tương đối cầu USD và giảm tương đối cầu VND, bằng cách (hoặc) mua thêm USD vào, (hoặc) tăng cung VND. Tăng cung VND sẽ dẫn đến hậu quả là lãi suất sẽ (có xu hướng) giảm, chứ không phải là lãi suất tăng như VnEconomy lo ngại. Tất nhiên, sau tăng cung VND thì áp lực lạm phát sẽ tăng lên, nhưng đây là quá trình xảy ra sau đó, với một độ trễ nào đó (mà người ta cho là 3 tháng, 6 tháng gì đó), chứ không phải là xảy ra ngay. Và khi lạm phát đã tăng lên thì cũng cần phải có một độ trễ nữa thì mới dẫn đến lãi suất được điều chỉnh tăng lên. Nói cách khác, nền kinh tế vẫn được hưởng lợi ngay từ việc lập lại cán cân thương mại và lãi suất hạ đi trước khi nó (lãi suất) có dịp tăng lại (và cũng cần thêm một thời gian nữa, nếu có tăng) thông qua áp lực tăng lạm phát. Điều này chứng tỏ ý kến liên quan trên VnEconomy là sai bét.

Nói thêm, thực ra quá trình phá giá VND đã diễn ra ngay suốt cả năm qua, khi NHNN tiến hành mua hàng chục tỷ USD và hậu quả (hay cố tình?) là M2 tăng vọt lên trên 20%. Nếu không mua vào USD thì VND đã lên giá mạnh, thể hiện bằng tỷ giá VND danh nghĩa thậm chí còn giảm đi (không những thế, VND còn lên giá thực so với USD vì chênh lệch lạm phát giữa Mỹ và Việt Nam). Nhưng vì tỷ giá đã ổn định quanh con số 21.000 nên người ta lầm tưởng rằng NHNN đang “ổn định” tỷ giá theo cái nghĩa là không để nó mất giá so với USD như những năm trước khi cung cầu USD ở thế ngược lại. Bởi thế, quá trình can thiệp vào tỷ giá VND như của NHNN vừa qua cần phải nói về bản chất là đã PHÁ giá VND để VND BỚT LÊN giá (cả thực và danh nghĩa) so với USD.  Có điều, mức độ phá giá VND như vừa qua là chưa đủ mạnh để nó vẫn còn quanh quẩn ngưỡng 21.000!

Trình bày dài dòng thế, mong các đồng chí hiểu được vấn đề. Tớ đã nói vài lần rồi, rất ngán những đồng chí amateur phóng viên báo và cả những đồng chí chuyên gia (amateur) khác nữa.

Sai thứ 12: Nếu phá giá VND như kiến nghị trên của một số chuyên gia, niềm tin và dòng vốn đầu tư nước ngoài có thể bị ảnh hưởng, bởi họ bị “móc túi” khi rót vốn vào Việt Nam (VnEconomy).
http://vneconomy.vn/2013020708281625P0C6/pha-gia-vnd-5-cai-gia-phai-tra.htm

Chẳng hiểu “niềm tin” với chuyện “móc túi” ở đây theo ý của tác giả liên quan với nhau như thế nào? Niềm tin chỉ là một khái niệm tương đối. Nhà đầu tư còn mất niềm tin hơn nữa khi NHNN trước đó còn khăng khăng tuyên bố “kiên định” với ổn định tỷ giá thì đùng một cái sau vài ngày, vài tuần, vài tháng lại phá giá bụp một phát khi không thể đỡ được với áp lực thị trường. Ngược lại, niềm tin sẽ có nhiều hơn một cách tương đối nếu nhà đầu tư được nghe NHNN tuyên bố rằng tỷ giá sẽ linh hoạt biến động trong một phạm vi nào đó, và quả là NHNN đang thực hiện như vậy, với tỷ giá lúc tăng lúc giảm (tất nhiên không quá mạnh). Trên hết, ngày này hầu như chẳng có mấy nước có chính sách tiền tệ độc lập lại cố định tỷ giá nội tệ với USD cả và chuyện phá giá thì ngay cả những nền kinh tế phát triển các NHTƯ vẫn thỉnh thoảng can thiệp phá giá nội tệ (một cách bất ngờ) đấy thôi? Nếu nói theo kiểu VnEconomy trên thì hóa ra các nhà đầu tư nước ngoài xa lánh hầu hết các thị trường đầu tư trên thế giới à?
Còn chuyện nhà đầu tư bị “móc túi” khi VND bị phá giá. Đúng là có chuyện này, đặc biệt với những nhà đầu tư ngắn hạn vào các sản phẩm tài chính, tìm cách ăn chênh lệch lãi suất. Nhưng loại nhà đầu tư này và dòng vốn mà họ mang vào (FII) thực ra là điều không nên/không được khuyến khích (tại sao thì mời các đồng chí tự tìm hiểu). Chuyện VND thỉnh thoảng bị phá giá một phát thế lại hay, làm các đồng chí này nản chí, chỉ còn lại những đồng chí muốn đầu tư dài hạn (FDI). Theo đúng nguyên tắc, muốn đánh nhanh thắng nhanh thì phải chịu rủi ro đến nhanh và nhiều, thế thôi.

Về các đồng chí FDI, có hai loại FDI có thể được lợi, bị hại rõ ràng khi VND thỉnh thoảng bị phá giá (nên nhớ rằng vì là FDI nên ở đây ta chỉ xét đến việc xảy ra trong ít nhất là trung hạn, chứ không chỉ là vài tháng, 1 năm như với các đồng chí FII). Với các đồng chí FDI thay thế hàng nhập khẩu (tức là hướng vào thị trường trong nước). Do nguồn thu của các đồng chí này chủ yếu là VND thì đương nhiên là sẽ bị thiệt khi chuyển doanh thu VND ra USD để thanh toán đơn nhập khẩu và chuyển lợi nhuận về quê mẹ. Nhưng đây chỉ là hậu quả tức thời diễn ra trong và sau một thời gian ngắn sau khi phá giá VND. Còn về dài hạn hơn, phá giá VND làm nhập khẩu giảm sút vì bớt tính cạnh tranh với hàng sản xuất trong nước, nên các đồng chí FDI hướng nội này được hưởng lợi nhờ thị trường mở rộng, đồng nghĩa với lợi nhuận VND thu được tăng lên, và như thế có nghĩa là lợi nhuận quy ra USD không nhất thiết giảm đi, mặc dù tỷ giá đã tăng.
Lưu ý thêm rằng loại FDI thực ra không được nhiều nước chào mừng lắm so với loại FDI hướng xuất khẩu vì nhiều khi chúng chèn ép các doanh nghiệp trong nước. Với ý nghĩa này, phá giá VND có thể làm giảm FDI hướng nội nhưng lại kích thích được doanh nghiệp trong nước lấp chỗ trống trong sản xuất thay thế hàng nhập khẩu.

Ngược lại, đối với FDI hướng xuất khẩu thì có thể thấy nhiều cái lợi hơn hơn (các đồng chí tự suy xét tại sao nhé, nếu không hiểu thì bảo tớ).
Tóm lại, thỉnh thoảng phá giá VND nếu có hậu quả lên giới đầu tư nước ngoài thì chủ yếu cho mấy đồng chí muốn kiếm tiền nhanh trên “xương máu” của dân Việt Nam, chứ còn không nhất thiết đem lại cái hại cho giới FDI. Còn chuyện niềm tin thì là cái chuyện mông lung, trên giời; các đồng chí nói mà chẳng hiểu mình nói cái gì.   

Friday, 1 March 2013

Chuyên gia/tổ chức toàn nói vớ vẩn (phần 1) – bổ sung


Sai thứ mười (có liên quan đến phá giá VND): Lãi suất ở Việt Nam cao (gần) nhất thế giới thì hàng hóa sản suất ở Việt Nam không thể cạnh tranh được với các nước khác (vì đầu vào là lãi suất làm tăng chi phí sản suất ở Việt Nam). Đây là một suy nghĩ sai lầm cực kỳ phổ biến, kể cả trong giới học giả, chuyên gia, chưa kể đến giới amateur như báo chí, ăn theo nói leo.
Lãi suất cao thường xảy ra trong tình trạng có lạm phát cao. Trong hoàn cảnh này, tỷ giá luôn có xu hướng bị điều chỉnh tăng lên (VND bị phá giá, nếu tỷ giá đã bị kìm trong một thời gian nào đó). Khi tỷ giá đã tăng thì tức là giá hàng sản xuất tại Việt Nam bằng VND tuy có thể tăng nhưng tính theo USD không nhất thiết sẽ tăng theo, tùy thuộc vào mức độ phá giá VND. Mà như thế cũng tức là hàng hóa sản xuất tại Việt Nam vẫn có cơ hội cạnh tranh được với hàng hóa sản xuất tại nước ngoài, nếu không ngu xuẩn đi kìm hãm tỷ giá quá đáng. Ngược lại, nếu “kiên trì”, “quyết liệt” ổn định tỷ giá (danh nghĩa) thì đương nhiên là hàng hóa Việt Nam mất tính cạnh tranh vì VND lên giá thực so với USD. Đây là một kiến thức kinh tế cơ bản, chẳng có gì cao xa cả.

Đơn giản thế thôi nhưng ít người nghĩ ra. Tớ nghĩ vấn đề nằm ở chỗ người ta chỉ giỏi suy xét một chiều, phiến diện, nhìn nhận sự việc ở trạng thái tĩnh mà không nghĩ/xét đến sự tương tác và biến động của những sự việc với nhau. Cũng có thể có lý do nữa là nhiều người đọc/học lõm bõm được một chút kiến thức kinh tế vĩ mô cơ bản nên cứ chủ quan mà phán bừa vì nghĩ mình đã hiểu biết sự việc và suy nghĩ rất logic.

Chuyên gia/tổ chức toàn nói vớ vẩn (phần 1) – Về chuyện có nên phá giá VND hay không


Sai thứ nhất: Xuất khẩu đang tăng khá thì không cần phá giá

Phá giá thì còn tăng được xuất khẩu nữa cơ! GDP vì thế có cơ tăng trưởng mạnh nữa cơ! Đặc biệt có ý nghĩa khi cầu trong nước còn yếu, tăng trưởng GDP còn chưa đạt mức mong muốn.

Sai thứ hai: Phá giá VND cũng không làm tăng xuất khẩu vì nhu cầu thế giới (thường) là không thay đổi

Như đã trả lời trong entry trước, phá giá chủ yếu là để giành thị phần với đối thủ ở các nước xuất khẩu khác. Có tăng được thị phần thì mới có cơ giảm được chi phí đơn vị và tăng biên độ lợi nhuận, tăng khối lượng lợi nhuận, tạo thêm việc làm, và mới có cơ lũng đoạn được thị trường xuất khẩu khi đối thủ lép vế. Hơn nữa, cầu thế giới cũng vẫn có thể còn tăng khi giá nhập khẩu hàng do Việt Nam sản xuất (tính bằng USD) rẻ đi (hoặc là theo nguyên tắc sơ đẳng là sẽ có diễn ra sự thay thế các hàng hóa khi giá cả tương đối của chúng thay đổi, hoặc là khi chúng rẻ đi thì người tiêu dùng vẫn muốn mua thêm dù là hàng hóa thiết yếu, chỉ được tiêu dùng ở mức độ/khối lượng nhất định).

Sai thứ ba: Phá giá VND cũng không mang lợi cho nhà xuất khẩu

Như đã giải thích trong entry trước bằng một ví dụ cụ thể, phá giá luôn có lợi cho xuất khẩu, kích thích xuất khẩu tăng trưởng, có tác dụng như kích thích tăng trưởng GDP.

Sai thứ tư: Phá giá VND chỉ thúc đẩy xuất khẩu

Một tác dụng rất quan trọng khác là sẽ “làm hại” nhập khẩu! Mà làm hại nhập khẩu (tức là giảm nhập khẩu) có nghĩa là sẽ thúc đẩy sản xuất nội địa thay thế hàng nhập khẩu, cũng tức là tăng trưởng GDP và tạo công ăn việc làm. Các mặt hàng cạnh tranh với hàng nhập khẩu ví dụ như sắt thép rõ ràng sẽ tăng tính cạnh tranh đáng kể, chỉ cần VND bị phá giá vài  % cũng mang lại tác dụng là hạ thấp giá sắt thép sản xuất trong nước tính bằng USD vài % so với thép nhập khẩu, mà vài % này đôi khi cũng lớn bằng biên độ lợi nhuận của nhà nhập khẩu thép. Nhờ có thế mà nhà sản xuất thép trong nước mới có thêm cơ hội để tồn tại! Tác dụng tiếp theo có liên quan như dưới đây:

Sai thứ năm: Phá giá VND làm tăng chi phí nhập khẩu, tổn thất ngoại tệ, tạo áp lực lên lạm phát vì nhập khẩu lạm phát

Không nhất thiết! Khi phá giá VND, nhập khẩu bị “làm hại”, nhu cầu nhập khẩu sẽ giảm đi tương đối, làm giảm giá trị và lượng hàng nhập khẩu, tức là giảm nhu cầu USD cho nhập khẩu, và cũng tức là giảm áp lực lên tỷ giá, giảm áp lực lên lạm phát. Kết quả cuối cùng là tỷ giá VND tăng lên ban đầu do phá giá nhưng sẽ có xu hướng điều chỉnh giảm (VND tăng giá) khi cán cân thương mại được lập lại (nhanh chóng) theo hướng thu ngoại tệ nhiều hơn chi ra do xuất khẩu tăng lên còn nhập khẩu giảm đi tương đối.

Sai thứ sáu: Phá giá VND làm tăng gánh nặng nợ nần quốc gia và doanh nghiệp

Như đã chỉ ra trong entry trước và nói thêm ở đây, (i)  phá giá VND chỉ làm tăng gánh nặng trả nợ đối với các doanh nghiệp có nguồn thu bằng VND trong khi vay nợ bằng ngoại tệ; (ii) để không làm tăng gánh nặng nợ ngoại tệ quy ra VND (đã bị tăng lên vì phá giá VND. Cụ thể hơn, cần phải chi nhiều VND hơn để mua cùng một lượng ngoại tệ không đổi trả nợ nước ngoài) thì NHNN phải ổn định tỷ giá. Mà ổn định tỷ giá thì không thể nói chơi chơi, suông suông được, nhất là khi tỷ giá bị kìm hãm quá lâu và giả tạo. NHNN phải ổn định bằng hành động cụ thể là tung dự trữ ngoại tệ ra để mua VND vào. Khi đã phải dùng đến dự trữ ngoại tệ để ổn định tỷ giá thì có nghĩa là NHNN (và tức là ngân sách nhà nước) đã bị mang ra “bù giá”, “trợ cấp” cho nợ quốc gia, nợ doanh nghiệp và nợ tư nhân. Từ đây có thể thấy doanh nghiệp và tư nhân thì được hưởng lợi vì tự nhiên được trợ cấp từ ngân sách. Còn đối với nợ quốc gia, gánh nặng trả nợ (nói lại cho rõ là quy ra VND) tuy không tăng lên vì tỷ giá được ổn định, nhưng người phải trá giá thay chính là NHNN, và cũng chính là ngân sách nhà nước. Có nghĩa là rốt cuộc thì “lỗ hà ra lỗ hổng”, tránh được thiệt hại cho việc ngân sách phải trả thêm nhiều VND cho từng đó nợ ngoại tệ nhưng rồi ngân sách lại phải bỏ ra một lượng tương ứng USD để ổn định tỷ giá.

Sai thứ bảy: Phá giá VND 1% sẽ làm tăng lạm phát (CPI) lên 0.4% (hay x%, y%), theo tính toán của một (vài) chuyên gia Việt Nam nào đó

Như nói ở trên, phá giá VND ban đầu có thể làm tăng CPI lên một chút, nhưng sau đó áp lực nhanh chóng giảm dần vì cán cân thương mại được thăng bằng theo hướng thặng dư thêm. Vì vậy, chừng nào chưa được xem tận mắt những cái gọi là “nghiên cứu” của mấy đồng chí chuyên gia trên (thế nào cũng sẽ tìm ra khối cái sai về phương pháp, số liệu), chừng nào không nói/biết rõ là chuỗi số liệu tỷ giá và CPI bắt đầu từ lúc nào kết thúc lúc nào và CPI sẽ tăng lên khi nào, trong bao lâu v.v... thì trích dẫn những cái kết quả “nghiên cứu” kiểu này rất nguy hại, hướng dư luận theo hướng sai lạc.

Sai thứ tám: Phá giá VND là một hành động nghe rất tiêu cực. Thay vì phá giá, chỉ nên điều chỉnh tỷ giá và/hoặc kiểm soát tỷ giá trong biên độ +/- 3%-4%

Phá giá và cụm từ văn hoa “điều chỉnh”, “kiểm soát trong biên độ” về bản chất là một, tuy rằng cái từ phá giá thì nghe quả có kinh khủng thật, vì người ta cứ nghĩ rằng phá giá có nghĩa là tỷ giá VND phải tăng cả chục %. Thực ra, những người ủng hộ phá giá cũng chỉ đề nghị phá giá 3%-4% thôi đấy chứ? Và nói như họ (“phá giá”) là đúng bản chất sự việc đấy chứ?

Sai thứ chín: Phá giá sẽ tạo ra tâm lý đầu cơ, gây hoảng loạn trong dân chúng và dẫn đến mất kiểm soát vĩ mô (lạm phát tăng vọt, chảy máu ngoại tệ và vốn, đầu tư nước ngoài suy giảm mạnh v.v...)

Sự hoảng loạn, đầu cơ chỉ có thể được/bị gây ra khi các yếu tố căn bản làm nền tảng cho ổn định tỷ giá đã sụp đổ mà nhà nước cố tình không phá giá kịp thời, để tích tụ áp lực phá giá ngày càng lớn hơn cho đến khi không chịu nổi được nữa, buộc phải “buông” ra, buộc phải phá giá mạnh. Những yếu tố nền tảng cho ổn định tỷ giá (ổn định giá trị VND, không làm suy yếu nó) bao gồm (nhưng không nhất thiết chỉ có) chính sách tiền tệ thận trọng (không bơm tiền quá liều), lạm phát (trước đó) không quá lớn (trên, ví dụ, 5%/năm), thăng bằng/thặng dư cán cân thương mại/vốn, dự trữ ngoại tệ đủ lớn, NHTW độc lập với Chính phủ, thâm hụt ngân sách (nhỏ và) không bị tiền tệ hóa bởi in tiền của NHTW, tỷ giá trước đó đã được linh hoạt biến động và NHTW không cam kết ổn định tỷ giá thái quá và bằng mọi giá, lưu chuyển vốn vào ra khỏi Việt Nam bị kiểm soát chặt chẽ v.v.. Dễ thấy là nhiều trong số những yếu tố nền tảng này đã và đang bị vi phạm nặng nề ở Việt Nam nên tỷ giá nếu có cố tình được/bị ổn định thì sự ổn định này là không bền vững, sớm muộn cũng phải “buông” ra một cách mạnh mẽ, như hồi năm 2011. Cho nên NHNN chớ có dại mà mạnh mồm nói là không phá giá (kể cả “điều chỉnh”) nhé! 20-30 tỷ USD dự trữ chẳng là cái “đinh” gì cả đâu. Mà tớ thì nghi là lịch sử dễ lập lại lắm; ban đầu nói mạnh thế nào mà chỉ một vài ngày/tuần sau là phải phá giá. Lòng tin vào NHNN/Chính phủ chưa bao giờ có (đủ mạnh) để làm thị trường an tâm đâu.

Tớ đang hứng, sẵn sàng lôi ra thêm để phang nhiều cái sai nữa của các đồng chí chuyên gia, chưa kể của những đồng chí amateur phán lung tung như đúng rồi, nhưng tiếc là tớ không nhớ được thêm có những ai nói cái gì nữa. Đồng chí nào có ý/cái sai gì cần bổ sung thì cứ cho tớ biết nhé để tớ phang tiếp. Đồng chí nào bảo tớ sai thì nhảy vào đây ngay nhé, tớ nóng lòng chờ đợi đấy. Tớ sẽ viết tiếp các phần khác nếu tớ nhặt ra được cái gì đó sai.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).