Wednesday, 23 October 2013

Bình ổn thị trường vàng – nhiệm vụ mù mờ và bất khả thi (Bài đăng trên TBKTSG, ngày 24/10/2013, bản gốc)

Giá vàng trong nước sau một thời gian giảm giá liên tục đã lùi về gần mốc 37 triệu đồng/lượng hồi đầu tuần trước, do ảnh hưởng của giá vàng quốc tế. Điều đáng nói là chênh lệch khoảng cách giá vàng trong nước và thế giới sau một thời gian thu hẹp về mức 2-3 triệu đồng/lượng, được cho là công lao của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), gần đây lại tăng vọt lên, đạt mức gần 5 triệu đồng/lượng gần đây.

Tuy đã được nhiều người phân tích và chỉ ra những bất hợp lý trong chính sách quản lý thị trường vàng kiểu này của mình, nhưng NHNN vẫn khăng khăng bảo vệ quan điểm và cách làm như hiện nay. Trong bối cảnh chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới lại tiếp tục doãng rộng, điều này lại một lần nữa đặt ra một câu hỏi, liệu chính sách “bình ổn thị trường vàng” của NHNN có là khả thi, và, quan trọng hơn, nhằm mục đích gì?

Trong bài này, ta sẽ phân tích thêm về tính bất khả thi và mù mờ về mục đích của chính sách “bình ổn thị trường vàng” của NHNN.
Việt Nam đã nhập khẩu bao nhiêu vàng?

Cuối tháng 9, NHNN đã có báo cáo một số nội dung liên quan đến công tác quản lý thị trường vàng thời gian qua. Báo cáo cho biết trước đây mỗi năm Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 50-100 tấn vàng; toàn bộ lượng ngoại tệ để nhập khẩu vàng được lấy từ nền kinh tế, do vậy, nhập khẩu vàng trên quy mô lớn đã ảnh hưởng lớn đến tỷ giạ, lạm phát, sự ổn định kinh tế vĩ mô.
Với lập luận trên, bản báo cáo của NHNN dường như ngụ ý rằng nhu cầu nhập khẩu vàng của Việt Nam kể từ khi NHNN tiến hành chính sách quản lý hiện tại đã giảm đi về quy mô so với con số trung bình hàng năm từ 50-100 tấn như nói trên.

Nhưng theo thống kê của Hội đồng Vàng Thế giới thì tổng nhu cầu tiêu thụ vàng nữ trang và vàng thỏi, vàng miếng đã đạt mức 23,2 tấn trong quý 2 năm nay, tăng tới 24% so với cùng kỳ năm ngoái là 18,8 tấn (Bảng 10, báo cáo: “Gold Demand Trend Q2 2013”). Nếu tính nhu cầu tiêu thụ trong 12 tháng kể từ tháng 6/2012 đến 6/2013 thì Việt Nam vẫn tiêu thụ tổng cộng tới 77,4 tấn vàng (Bảng 12).
Việt Nam là nước nhập khẩu hầu như toàn bộ lượng vàng tiêu thụ, và vì không thể coi con số nhu cầu 23,2 tấn hoặc 77,4 tấn nói trên là tổng lượng vàng có (sẵn) trong nền kinh tế, nên có thể coi nhu cầu tiêu thụ vàng do Hội đồng Vàng Thế giới cung cấp nói trên chính là nhu cầu nhập khẩu vàng thêm vào nền kinh tế hàng quý, hàng năm. Từ đó suy ra tiếp rằng tổng khối lượng nhập khẩu vàng vào nền kinh tế trong thời gian qua không có dấu hiệu giảm sút, nếu không muốn nói là ngược lại, kể cả sau thời điểm NHNN liên tục tung vàng ra thị trường qua đấu thầu.

Thêm nữa, nguồn cung vàng trước đây từ các nhà nhập khẩu vàng (kể cả nhập lậu) với ngoại tệ gom góp trong nền kinh tế, như NHNN khẳng định, thì nay được thay bằng nguồn cung từ NHNN qua đấu thầu. Đương nhiên, lượng ngoại tệ NHNN dùng để nhập khẩu vàng vẫn là lấy từ nền kinh tế (hoặc rút từ nền kinh tế về qua hoạt động mua ngoại tệ với các ngân hàng thương mại, và/hoặc sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối). Điều này cũng có nghĩa là cái lý do rằng độc quyền nhập khẩu vàng để hạn chế sức ép lên tỷ giá mà NHNN đưa ra để biện minh cho hành động của mình là không đúng.
Thị trường vàng đã được ổn định, tình trạng đầu cơ vàng đã được ngăn chặn?

Trong báo cáo trên, NHNN khẳng định thị trường vàng đã được ổn định, nhu cầu vàng miếng đã được đáp ứng, tình trạng đầu cơ vàng đã được ngăn chặn, cung cầu vàng miếng trên thị trường đã được thu hẹp.

Khẳng định trên là tự mâu thuẫn. Nếu nhu cầu vàng miếng đã được đáp ứng thì, như đã nói ở trên, tổng lượng vàng nhập khẩu vào Việt Nam phải ở mức (trung bình) như mọi năm. Mà như vậy thì có nghĩa rằng mục đích quản lý vàng của NHNN để không làm hao tổn ngoại tệ của nền kinh tế Việt Nam là không hiện thực. Nếu lượng vàng nhập khẩu quả thực là nhỏ hơn mức trung bình hàng năm thì điều này lại cho thấy khẳng định của NHNN rằng nhu cầu vàng miếng đã được đáp ứng là không đúng (và trên thực tế đã có một phần cầu vàng không được đáp ứng).
Về tình trạng đầu cơ vàng, bản thân dãn cách giá vàng trong và ngoài nước tăng mạnh đã cho thấy tình trạng đầu cơ vàng đã tăng lên khi một bộ phận nhà đầu tư (có thể là cả cá nhân) cho rằng giá vàng sẽ tăng lên tại một thời điểm nào đó nên họ tích cực gom vàng vào tại thời điểm hiện tại, bất chấp cái giá phải mua là quá cao so với giá quốc tế, với hy vọng rằng giá bán tại thời điểm nào đó trong tương lai sẽ lớn hơn giá mua hiện tại. Đây là điển hình của tình trạng đầu cơ, nên NHNN không có lý do gì để khẳng định rằng tình trạng đầu cơ đã bị ngăn chặn.

Mà cho dù dãn cách có thu hẹp lại thì vẫn có một bộ phận nhà đầu tư vẫn mua gom với hy vọng giá vàng thế giới (và, do đó, giá vàng trong nước) sẽ tăng lên trong thời điểm tương lai, lớn hơn giá tại thời điểm hiện tại, mang lại lợi nhuận cho họ. Để ngăn chặn tình trạng đầu cơ này, NHNN chỉ còn cách ngừng hoàn toàn cung, cấm hoàn toàn hành động mua bán vàng trên thị trường  để nhà đầu tư không thể tiếp cận được với nguồn cung (cả chính thức và không chính thức) và không đầu cơ được. Đương nhiên, điều này là không tưởng và bất khả thi.
Tương tự như vậy, lời khẳng định cung cầu vàng (chắc ý muốn nói là chênh lệch cung cầu vàng) đã được thu hẹp và thị trường vàng đã được ổn định cũng là vô căn cứ. Bản thân việc giá vàng trong nước xuống liên tục trong mấy tuần liền cho thấy hoặc dư cung, hoặc thiếu cầu vàng. Nói cách khác, chênh lệch cung cầu vàng đã tăng (nghiêng về cung). Như vậy, trừ khi NHNN có ý rằng thị trường ổn định có nghĩa là giá vàng (trong nước) đi xuống thì lời khẳng định trên mới phần nào có cơ sở. Nhưng kể cả có như vậy thì NHNN sẽ giải thích ra sao khi giá vàng trong nước lại tăng lên (theo đà tăng của giá vàng thế giới) như một vài hôm trước đây?

Khái quát hơn, vì NHNN, cho dù có độc quyền cung vàng trong nước, vẫn chỉ là một người tham gia cuộc chơi vàng toàn cầu và phải chấp nhận giá cả áp đặt bởi thị trường (price taker). NHNN không bao giờ có thể là người làm giá (price maker). Nên giả sử NHNN có thành công trong việc ổn định thị trường vàng trong nước với cái nghĩa là ổn định (chênh lệch) cung cầu thì thành công này chỉ mang tính thời điểm (thậm chí không kéo dài quá một ngày) vì giá vàng thế giới luôn biến động bất ngờ, kéo theo giá vàng trong nước, như đã được chứng kiến, cho dù mức độ tăng giảm của giá vàng trong nước không nhất thiết tỷ lệ thuận với mức độ tăng giảm của giá vàng thế giới tại cùng thời điểm. Và như thế có nghĩa là NHNN luôn là người chạy sau biến động của thị trường vàng thế giới (và, do đó, biến động của thị trường vàng trong nước), chưa kể tần suất can thiệp, nếu có, là quá nhỏ (tối đa thì cũng chỉ là một ngày một lần, thông qua đấu thầu như mấy tháng nay). Trong bối cảnh luôn phải “vuốt đuôi” thị trường như thế mà nhận rằng đã “bình ổn” được thị trường thì quả là quá ngôn.

Kết luận lại, những diễn biến phức tạp trong thị trường vàng trong nước suốt mấy tháng qua dưới chính sách quản lý vàng của NHNN cho thấy rõ thêm sự mù mờ về mục đích và tính bất khả thi của nó. NHNN càng ra sức biện minh thì càng bộc rõ những lúng túng và sai lầm trong lập luận của mình.

Tuesday, 22 October 2013

Chuyện linh tinh

Tớ mới đi Penang nạp năng lượng về. Cũng chẳng có gì nhiều để nói ngoài mấy cái quan sát nhỏ nhặt. Tớ cũng đã đi vài nơi ở Malaysia nên thấy họ bảo vệ rừng khá tốt. Cây cối trên núi, trong công viên, trong rừng vẫn còn khá nguyên sơ. Thành phố khá vệ sinh, sạch sẽ.

Điểm không ngờ là giá nhà cửa tại Penang khá đắt đỏ. Những căn hộ condo tại những vị trí đắc địa lên tới vài triệu ringgit (hàng triệu đô Mỹ rồi). Tớ vốn chỉ quen với khái niệm nhà cửa đắt đỏ ở Sing, nhưng sang đây mới thấy mình nhầm. Đồng chí Jackie Chan còn chọn mua một căn hộ penthouse tại nơi này nữa (nghe đâu trị giá vài triệu đô Mỹ), chắc cũng có lý của mình.

Có một điểm chung giữa Malaysia và Indonesia mà tớ rất ghét là 2 nước này duy trì chế độ 2 giá tại nhiều nơi vui chơi, giải trí hoặc tại một số nơi (công cộng) khác. Giá vé bán cho người nước ngoài gấp tới dăm đến cả chục lần giá vé bán cho dân bản địa. Ngẫm ra Việt Nam mình còn tiên tiến chán. Trước đây ta cũng có chế độ 2 giá, nhưng hình như nay đã không còn phổ biến lắm (vẫn còn, tỷ như vào địa đạo Củ chi hay Bảo tàng chứng tích chiến tranh ở SG, lần tớ về đó hồi tháng 4). Bây giờ thành là người nước ngoài đối với mấy nước này nên tớ mới hiểu được cái cảm giác bực bội, thấy mình là mục tiêu chặt chém, làm tiền không chỉ của tư nhân mà còn cả của chính phủ từ trên xuống của người nước ngoài khác trước đây ở Việt Nam, và những lời kêu ca của họ.

Chuyển sang chuyện khác. Đọc bài về tỷ giá này trên VnEconomy, tớ lại càng thấy có sự "tự diễn biến", những chuyển biến theo hướng mà đồng chí X đã tuyên bố trong trả lời phỏng vấn Bloomberg (cũng lạ, tại sao trả lời phỏng vấn nước ngoài thì nói rõ vậy, nhưng phát biểu trong nước thì hình như chưa bao giờ tớ nghe thấy cái gì tương tự, từ đồng chí X hay từ bất kể đồng chí nào khác. Phải chăng Việt Nam muốn duy trì chế độ 2 chính sách về tỷ giá chăng?).

VnEconomy vốn là tờ có nhiều bài đăng (mà cụ thể là của đồng chí Minh Đức) về tỷ giá theo đường lối của NHNN. Nhưng xem ra trong bài này, tác giả đã hiểu biết và thận trọng hơn,và cố gắng khéo léo lái phát biểu của đồng chí X theo hướng mà NHNN đã mạnh mồm tuyên bố nhiều lần, mặc dù tớ chẳng thấy có cái gì chung cả. Tiếc rằng, những "chuyên gia" với "nguồn tin có thẩm quyền" được trích dẫn trong bài nay đã tắt loa về cái gọi là "không phá giá" mà chỉ "điều chỉnh" (nếu có) vì "cung cầu vẫn bình thường". Thay vào đó, chuyện "phá giá" do "VND bị định giá cao" nay đã chính thức được thừa nhận, nêu ra công khai, đúng từng chữ như thế, chứ không còn cái kiểu nói lái, nói tránh, vòng vo, đánh tráo khái niệm v.v... như các bài trước trên báo và trong các trả lời chất vấn, phát biểu chính thức của NHNN.

Ấy thế mà hôm trước, hình như trong một cuộc hội thảo, họp hành nào đó mà vẫn có nhiều đồng chí chuyên gia, gồm cả Phạm Chi Lan, phản đối phá giá, vẫn với những lý do cũ rích và vớ vẩn. Hình như vẫn chưa có thêm một ai lên tiếng theo, dựa hơi đồng chí X (như tớ!). Để rồi xem mấy đồng chí trung kiên với không phá giá có còn tiếp tục cái điệp khúc này nữa không.

Ngẫm ra, đúng là miệng nhà quan có gang có thép thật. Chỉ cần một câu của đồng chí X là tình hình xoay 180 độ, và các đồng chí chuyên gia ếch và đám bồi bút nay lại phải vắt óc xoay chuyển câu chữ và lời nói sao cho không lòi cái ngu, cái hèn, cái thối của mình ra, hoặc đơn giản là không đi ngược lại tinh thần của đồng chí X (nếu vẫn bảo thủ, nghĩ rằng mình suy nghĩ đúng, chỉ tại đồng chí X nói thế nên phải chịu). Giá mà xảy ra sớm một chút thì có phải là tiết kiệm bao nhiêu nước bọt trong các cuộc tranh luận giữa những người như tớ (có một dúm) với một đống quan chức và chuyên gia khác không nhỉ. Thật tiếc!

Thursday, 10 October 2013

Xem ra thông điệp của đồng chí X đang được hiện thực hóa

Đọc bài này cần phải sắp xếp lại các ý tưởng một chút thì mới hiểu được cái bản chất của sự việc. Tác giả hình như cho rằng việc mua vào USD là một cơ hội tại thời điểm này khi tỷ giá đã hạ và nguồn cung thuận lợi (và cứ như những lập luận vẫn nghe thấy trước đây thì hành động này là có lợi và nên làm vì làm tăng dự trữ ngoại hối).

Tuy nhiên, nhìn ngược lại, có thể hiểu đây là hành động can thiệp của NHNN để làm giảm giá VND (hoặc giữ cho VND không lên giá cả thực và danh nghĩa thêm nữa) so với USD, bằng cách mua USD vào và tung VND ra. Nếu NHNN không tiến hành một chiến dịch bán tín phiếu nữa để trung hòa nguồn cung VND tăng lên thì chắc chắn đây là hành động phá giá VND (hoặc không để cho VND lên giá thêm), theo đúng tinh thần của đồng chí X mà tớ có đề cập đến trong entry tuần trước.

Nói lan man thêm. Nếu cứ như những lập luận trước đây thì rõ ràng NHNN phải lấy làm mừng vì nguồn cung USD dồi dào, làm giảm tỷ giá, tức là ít nhất thì họ không cần phải bận tâm và can thiệp vào tỷ giá bây giờ làm gì cả vì nó chỉ có xu hướng giảm chứ không tăng (mất giá VND, vốn là điều mà họ coi là bất lợi cho nền kinh tế). Thế nhưng, việc NHNN phải tiến hành can thiệp cho thấy những gì mà người ta hay viện dẫn đến trước đây (cung cầu ngoại tệ dồi dào nên không phải phá giá, không cần thiết phá giá) hoặc là một sự sai lầm không thể tha thứ, hoặc là một sự lừa dối cũng không thể tha thứ.

Nhưng dù sao thì cũng mừng vì mọi việc đang có vẻ đi đúng hướng hơn.

Tại sao dân chủ không luôn là điều tốt?


Cái kiểu dân chủ như trong bài báo này quả thật là nguy hiểm.
Trích: “Tuy nhiên, theo đề nghị của cử tri tỉnh Trà Vinh, để doanh nghiệp có đủ điều kiện sản xuất, ngân hàng cần ổn định mức lãi suất cho vay từ 9 - 9,5%, vì bình quân lãi suất khu vực chỉ có 6,55%, còn ở Việt Nam là 14%, có lúc cao hơn gây khó khăn cho doanh nghiệp và mất cân đối trong đầu tư phát triển.”

Và: “Ở ý kiến khác, đáng chú ý là cử tri tỉnh Gia Lai đề nghị Ngân hàng Nhà nước ban hành quy định các tổ chức tín dụng giảm mức chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay xuống 2% thay vì 3% như hiện nay, để giải quyết khó khăn cho các doanh nghiệp trong giai đoạn sản xuất, kinh doanh đang gặp nhiều khó khăn.”

Rồi lại: “Dù đã nhiều lần đề cập đến, song có ý kiến cử tri vẫn tiếp tục đề nghị xem xét áp một trần lãi suất cho vay, 10%/năm thời điểm này, cho cả người dân và doanh nghiệp.”

Bình luận: Cứ để cho mấy đồng chí cử tri này lên tiếng, và nhỡ chẳng may các đồng chí Chính phủ lại ếch ương hoặc mị dân mà làm cái gì đó thuận theo, chẳng hạn hạ lãi suất xuống như theo yêu cầu thì... thôi, khỏi nói. May mà các đồng chí NHNN lần này cũng có bản lĩnh và có trình độ, trả lời khá ổn.

Nói tóm lại, tớ cũng tán đồng là nên có dân chủ, nhưng không phải là dân làm chủ, thò mũi vào, có quyền hạch sách mọi việc.

Đừng để bị các con số điều khiển (Bài đăng trên TBKTSG ngày 10/10/2013, bản gốc)


Thông thường, các kế hoạch phát triển kinh tế được các cơ quan chức năng của Chính phủ đặt ra cho một kỳ nào đó, có thể là cho 1 năm sau,  3 năm sau, hoặc 5 năm sau, với những chỉ tiêu cụ thể, ví dụ như tăng trưởng GDP, lạm phát, lãi suất, tăng trưởng tín dụng, thâm hụt ngân sách, thâm hụt thương mại, nợ nước ngoài, xuất khẩu, nhập khẩu v.v... trong khoảng từ bao nhiêu đến bao nhiêu.

Các chỉ tiêu trên thường được Chính phủ trình trước Quốc hội để xin phê chuẩn. Quốc hội sau một số phiên họp và thảo luận sẽ phê chuẩn hoặc yêu cầu Chính phủ sửa đổi một số chỉ tiêu mà Quốc hội cho rằng là thích hợp hơn. Và khi đã được phê chuẩn thì các con số chỉ tiêu phát triển kinh tế đó gần như trở thành chỉ tiêu pháp lệnh. Việc hoàn thành như thế nào các chỉ tiêu này cũng là thước đo đánh giá chất lượng và năng lực hoạt động của Chính phủ. Bởi vậy, không hiếm khi trong quá trình thực hiện các chỉ tiêu do chính mình đề ra, Chính phủ vấp phải những khó khăn chủ quan và khách quan để rồi không hoàn thành được kế hoạch và buộc phải xin Quốc hội cho điều chỉnh (một số) các chỉ tiêu này.

Điều đáng nói trong quy trình trên là việc đưa ra được các con số chỉ tiêu kế hoạch. Khi lập kế hoạch, các cơ quan chức năng của Chính phủ dựa vào các số liệu kinh tế vĩ mô và vi mô hiện tại, và có thể áp dụng một số mô hình kinh tế lượng, để tính toán và đưa ra được một số chỉ tiêu kinh tế cần thiết. Cũng không hiếm khi các chỉ tiêu kinh tế có yếu tố duy ý chí, định tính, căn cứ vào các nghị quyết và quyết tâm chính trị nhiều hơn là các tính toán khoa học.

Chẳng hạn, có một luồng quan niệm khá phổ biến là tăng trưởng GDP phải đạt khoảng 7%/năm trở lên thì mới “đảm bảo” an sinh xã hội, việc làm và thu hẹp khoảng cách về thu nhập đầu người với các nước láng giềng. Bởi vậy, các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ngắn và trung hạn đều được xây dựng xoay quanh con số này và đã không hiếm khi đẩy nền kinh tế vào trạng thái nóng quá mức vì Ngân hàng Nhà nước buộc phải bơm tiền ra cấp tập còn Chính phủ thì cũng gia tăng vay mượn để “thúc” cho nền kinh tế đạt bằng được tốc độ tăng trưởng “đảm bảo” này.

Vào những thời kỳ khó khăn, người ta hiểu rằng không thể “thúc” nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao và nguy hiểm như trên nữa nên buộc phải hạ chỉ tiêu tăng trưởng và một loạt chỉ tiêu khác có liên quan. Điều đáng lưu ý là việc điều chỉnh các chỉ tiêu đôi khi diễn ra dựa trên các phép tính số học đơn giản. Chẳng hạn, tăng trưởng GDP mấy năm trước trong khoảng 6%-7%/năm mà tốc độ tăng trưởng tín dụng đều trên 20%/năm, thậm chí trên 30%, thế nên người ta suy ra rằng để đạt tốc độ tăng trưởng  khoảng 5,5% như 1, 2 năm nay thì tốc độ tăng trưởng tín dụng phải tối thiểu phải đạt khoảng 20%. Nhưng rồi khi người ta nhận ra rằng con số này trở nên cao quá mức thì có cấp có thẩm quyền lại nói rằng tăng trưởng tín dụng phải là 15%, hoặc sau đó sửa xuống nữa còn 12%.

Dù là con số nào chăng nữa nhưng các con số khác nhau, liên tục được điều chỉnh, chứng tỏ 2 điều quan trọng. Thứ nhất, không có một cơ sở chắc chắn nào cho việc hình thành các chỉ tiêu kế hoạch, và việc các chỉ tiêu kế hoạch xa rời thực tế là điều phổ biến hơn, có thể tiên lượng được. Đôi khi, chỉ vì một biến cố ngoại lai bất ngờ xảy đến (ví dụ khủng hoảng tài chính), toàn bộ các chỉ tiêu kế hoạch cho dù trước đó có vẻ rất thực tế lại trở nên phi thực tế. Thứ hai, những nơi phê chuẩn các kế hoạch, như Quốc hội, lại càng không có một cơ sở chắc chắn nào làm chỗ dựa cho các quyết định của mình (duyệt hay không duyệt các chỉ tiêu kế hoạch do Chính phủ trình ra), ít nhất vì Quốc hội không nắm được nhiều thông tin, không có một lực lượng chuyên gia và công cụ trong công tác lập kế hoạch như của Chính phủ.

Trong bối cảnh đều có những bất cập từ cả 2 phía, phía xây dựng và đệ trình các chỉ tiêu kế hoạch (Chính phủ) và phía phê chuẩn các chỉ tiêu kế hoạch (Quốc hội), việc Quốc hội ép, nếu có, Chính phủ phải thực hiện cho được những chỉ tiêu kế hoạch của mình (Chính phủ), và/hoặc việc Chính phủ tự nguyện dốc hết sức, bằng mọi giá thực hiện cho bằng được các chỉ tiêu kế hoạch do chính mình đề ra thường sẽ không mang lại những kết quả thực tế tốt đẹp. Vì khi đó nền kinh tế được điều khiển bằng những “quyết tâm”, “quyết liệt”, “toàn hệ thống chính trị vào cuộc” v.v... chứ không phải bằng những công cụ và chính sách hợp với các quy luật kinh tế thị trường.

Tiếc rằng, nhiều người dường như không thấy được vấn đề và vẫn cứ loay hoay với việc điều chỉnh các chỉ tiêu kế hoạch đang diễn ra, ví dụ như việc xin nới trần thâm hụt ngân sách. Chắc chắn sẽ đến một lúc nào đó người ta sẽ phải nhận ra rằng nếu cứ để những con số vô tri, vô giác và vô nghĩa đó điều khiển mình thì nền kinh tế còn mãi sa lầy trong cái vòng luẩn quẩn bất ổn và tụt hậu.

Saturday, 5 October 2013

Chọn mô hình nào cho đại diện chủ sở hữu nhà nước? (Bài đăng trên báo Đại biểu Nhân dân)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=294342

11:12 | 05/10/2013
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã trình Chính phủ 2 phương án về mô hình quản lý doanh nghiệp nhà nước. Dù chọn phương án nào, thì điều quan trọng là phải khẩn trương cổ phần hóa, tư nhân hóa càng nhiều doanh nghiệp nhà nước càng tốt.
 
Đề án Tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước được trình và thảo luận tại phiên họp Chính phủ cuối tháng 8.  Đề án đưa ra 2 phương án về mô hình quản lý doanh nghiệp nhà nước. Tại phương án thứ nhất, Chính phủ thành lập Ủy ban Quản lý, giám sát doanh nghiệp nhà nước (UBQLGS) làm đầu mối thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước quan trọng, bao gồm cả Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC). Còn trong phương án thứ hai, bộ quản lý ngành thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước tại các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước còn UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước sản xuất, cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích trực thuộc.
 
Được biết, ban đầu, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiêng về phương án thứ nhất do sẽ giúp khắc phục được những hạn chế của việc chưa tách bạch chức năng quản lý nhà nước với chức năng đại diện chủ sở hữu và phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, sau đó, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư Bùi Quang Vinh cũng nhìn nhận, phương án thành lập một cơ quan làm đầu mối thực hiện chức năng đại diện đối với toàn bộ khu vực doanh nghiệp nhà nước là không khả thi do quá tải nghiêm trọng trong quản lý. Và phương án này chỉ có thể thực hiện khi số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm đến mức tối thiểu.
 
Quả thực, phương án thứ nhất có một nhược điểm lớn. UBQLGS này (tạm gọi là UBQLGS cấp 1) chỉ làm đại diện chủ sở hữu nhà nước với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước quan trọng. Với hàng chục nghìn doanh nghiệp khác có vốn nhà nước (gồm cả doanh nghiệp mà nhà nước không nắm giữ 100% vốn chủ sở hữu), thì về nguyên tắc sẽ phải lập ra một UBQLGS cấp 2 hay một cơ quan chức năng gì đó nữa để đảm nhiệm vai trò đại diện chủ sở hữu nhà nước ở các doanh nghiệp nhà nước không phải tổng công ty, tập đoàn quan trọng, nếu không muốn để xảy ra tình trạng “cha chung không ai khóc” như trước đây.
 
Việc phải có đến 2 UBQLGS để quản lý các đối tượng khác nhau đương nhiên sẽ dẫn theo sự cồng kềnh và chồng chéo về bộ máy, biên chế phình to, tốn một loạt các chi phí khác để duy trì cho cả 2 bộ máy hoạt động, là điều khó có thể chấp nhận trong bối cảnh hiện nay.
 
Ngoài ra, mới nghe qua thì cái từ “Ủy ban” có vẻ sẽ gọn nhẹ về biên chế và năng động hơn trong việc làm đại diện – là những tiêu chí quan trọng đối với việc thiết kế bộ máy quản lý nhà nước. Tuy vậy, sự thực chắc chắn sẽ khác nhiều. Với việc làm đại diện chỉ ở các tập đoàn, tổng công ty quan trọng của nhà nước thì có thể UBQLGS cấp 1 sẽ có bộ máy biên chế tinh giản, gọn nhẹ hơn. Nhưng với UBQLGS cấp 2 làm đại diện ở hàng vạn doanh nghiệp từ trung ương đến địa phương, thực tiễn chắc chắn sẽ đòi hỏi nó cũng phải được cơ cấu với bộ máy hoạt động cũng lan rộng từ trung ương đến địa phương để nắm sát được tình hình hoạt động có ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà nước ở các doanh nghiệp này.
 
Tóm lại, phương án thứ nhất trên thực tế hoàn toàn có thể vấp phải vấn đề cồng kềnh và kém hiệu quả trong hoạt động của bộ máy đại diện chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước, chính là điều mà chúng ta đang tìm cách khắc phục.
 
Đối với phương án 2, điểm lợi lớn nhất và dễ thấy nhất là có thể tận dụng được bộ máy quản lý nhà nước hiện thời cho việc quản lý vốn chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, mặt hạn chế lớn nhất, và chính là lý do để chúng ta phải tìm một giải pháp khác, là trong cơ chế này thì chức năng quản lý nhà nước lại bị trộn lẫn với chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước, vì người thực hiện 2 chức năng này là một.
 
Nói cách khác, hiện tại, cả 2 phương án đều có những hạn chế lớn, không thể khắc phục, đòi hỏi phải có một phương án thứ 3. Và trong lúc chờ cho đến khi có sự ra đời của một phương án khả dĩ thì có lẽ phương án 2 vẫn phải là phương án chính, chủ yếu vì nó không mang lại sự xáo trộn lớn cũng như các chi phí tốn kém như trong phương án 1.
 
Nhưng khi thực hiện phương án 2, hoặc kể cả phương án 1, bên cạnh những giải pháp vi mô thường được đề cập như tăng cường năng lực quản lý của các bộ chủ quản, UBND cấp tỉnh, gắn chặt trách nhiệm quản lý với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp v.v..., điều quan trọng là phải khẩn trương cổ phần hóa, tư nhân hóa càng nhiều doanh nghiệp nhà nước càng tốt. Một khi quy mô và số lượng doanh nghiệp nhà nước đã thu hẹp lại đến mức tối thiểu thì việc quản lý các doanh nghiệp nhà nước còn lại sẽ dễ dàng hơn nhiều và sẽ có nhiều lựa chọn khả thi hơn cho mô hình quản lý doanh nghiệp nhà nước lúc đó. Ngược lại, nếu không nhanh chóng giảm được quy mô và số lượng doanh nghiệp nhà nước thì tình trạng bùng nhùng này sẽ còn kéo dài vì không thể biết nên bắt đầu từ đâu và làm cái gì thì tốt hơn.

Thursday, 3 October 2013

Cơ chế điều hành tỷ giá qua thông điệp của Thủ tướng (Bài đăng trên TBKTSG 3/10/2013, bản gốc)

Càng ngày tớ càng thấy nể và có cái nhìn khác về đồng chí X, thỉnh thoảng nói câu nào ra câu đó, bằng cả vài chục buổi phỏng vấn với điều trần của các cơ quan hữu trách. Tớ có vài lần nâng bi đồng chí X trong blog này rồi, nhưng bài này vẫn thấy cần phải nâng thêm lần nữa.
------------------------------


Trả lời phỏng vấn Bloomberg hôm 27/09 tại New York, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết Chính phủ có kế hoạch hạ giá VNĐ tối đa 2% vào cuối năm vì hiện tiền đồng được xem là có định giá cao so với USD.
Đây là một thông điệp ngắn nhưng chứa đựng những nội dung hết sức quan trọng liên quan đến chế độ tỷ giá và cơ chế điều hành tỷ giá ở Việt Nam.

Nếu mới đây không xa, nhiều quan chức hữu trách và chuyên gia còn lên tiếng cho rằng không có áp lực để phá giá (hay điều chỉnh tỷ giá) vì cán cân cung cầu ngoại tệ đang có thuận lợi với dòng ngoại tệ dồi dào đang đổ vào nền kinh tế từ ODA, FDI và kiều hối v.v... Với dự đoán cán cân thanh toán tổng thể sẽ đạt thặng dư dăm tỷ đô la năm nay và lạm phát được kiềm chế ở mức cho phép, theo các quan chức và chuyên gia này thì điều chỉnh tỷ giá thậm chí còn mang lại những hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế. Vì thế, họ ủng hộ một sự ổn định tỷ giá, hoặc nếu có “điều chỉnh” thì chỉ ở mức 2%-3% cho cả năm nay, như mục tiêu mà Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đề ra từ hồi đầu năm.
Điều đáng lưu ý trong quan điểm điều hành tỷ giá nêu trên là tỷ giá được quyết định chủ yếu bởi cung cầu ngoại tệ một cách thụ động. Nếu ngoại tệ đổ vào nền kinh tế dồi dào thì áp lực lên tỷ giá sẽ yếu hoặc không có, vì thế không cần phải phá giá (điều chỉnh tỷ giá tăng lên). Ngược lại, nếu cung ngoại tệ thiếu hụt so với cầu, gây áp lực lên tỷ giá thì NHNN sẽ có khả năng can thiệp giữ ổn định tỷ giá bằng cách tung dự trữ ngoại tệ ra.

Thực tế thời gian 2, 3 năm qua cho thấy với cơ chế quản lý tỷ giá như vậy, được hậu thuẫn bởi một quỹ dự trữ ngoại tệ đã lớn hơn về quy mô, NHNN đã duy trì thành công một tỷ giá tương đối ổn định. Nguồn vốn và ngoại tệ từ nước ngoài càng đổ vào nền kinh tế trong nước càng lớn thì công việc của NHNN xem ra càng dễ dàng vì tiền đồng không hề bị áp lực phá giá, nếu không muốn nói là lên giá. Ngược lại, nếu cung cầu ngoại tệ ở thế bất lợi như mấy năm trước (thiếu hụt ngoại tệ và suy giảm dự trữ ngoại hối), NHNN thường là buộc phải phá giá, mặc dù trước đó có không ít lần cam kết ổn định tỷ giá.
Nhưng cơ chế quản lý tỷ giá nói trên có một nhược điểm lớn. Như đã biết, nếu tỷ giá danh nghĩa tiền đồng/đô la Mỹ ổn định một cách tương đối hoặc tăng ở một tốc độ nhỏ hơn tốc độ tăng của chênh lệch lạm phát giữa Việt Nam và Mỹ thì tiền đồng được gọi là đã lên giá thực so với đô la Mỹ, mặc dù tiền đồng vẫn mất giá so với đô la Mỹ về mặt danh nghĩa. Khi đó, giá cả các hàng hóa sản xuất trong nước trở nên đắt đỏ hơn một cách tương đối so với hàng ngoại nhập, làm giảm tính cạnh tranh của hàng hóa đó sản xuất ở trong nước. Hậu quả là xuất khẩu sẽ giảm sút trong khi nhập khẩu được khuyến khích, dẫn đến nhập siêu và thâm hụt thương mại – một nguồn gốc gây bất ổn kinh tế vĩ mô.

Có điều, cho đến nay dường như NHNN và các chuyên gia tỏ ra xem nhẹ tác động trái chiều của việc ổn định tỷ giá như trên. Họ luôn nhấn mạnh đến chuyện cung ngoại tệ dồi dào để phủ nhận sự cần thiết phải phá giá (điều chỉnh tỷ giá) để hỗ trợ xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế, việc làm. Tuy họ có lúc thừa nhận sự bất lợi của tỷ giá lên xuất khẩu nhưng lại cho rằng có thể dùng các biện pháp khác để thúc đẩy xuất khẩu mà không cần phải phá giá.
Bởi vậy, thông điệp trên của Thủ tướng đã trực tiếp hay gián tiếp nhìn nhận rằng trong công tác điều hành tỷ giá, ngoài chuyện xem xét đến cán cân cung cầu ngoại tệ, điều quan trọng là phải duy trì năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu của Việt Nam. Đây có thể nói là một sự thay đổi lập trường chính sách rất đáng hoan nghênh. Với sự cân bằng hơn trong cách điều hành này, tỷ giá sẽ được điều chỉnh không chỉ căn cứ vào cung cầu ngoại tệ mà còn dựa vào sự lên giá thực của tiền đồng so với đô la, và phải chủ động điều chỉnh (phá giá) kể cả khi cán cân cung cầu ngoại tệ không căng thẳng, nếu VND lên giá thực quá nhiều so với USD.

Tuy mức “hạ” giá 2% như Thủ tướng nói vẫn có thể là quá nhỏ so với mức lên giá thực của tiền đồng so với đô la Mỹ do chênh lệch lạm phát của Việt Nam và Mỹ quá lớn, và mức này có thể sẽ phải tăng thêm, tùy theo yêu cầu của thị trường, nhưng trước mắt nó cho thấy đã đến lúc các cơ quan hữu trách của Việt Nam cần phải hoặc thay đổi nhận thức về điều hành tỷ giá, hoặc thay đổi cách họ thuyết trình với công chúng về cơ chế điều hành tỷ giá của mình, trong đó không chỉ có nêu cung cầu ngoại tệ thâm hụt hay thặng dư bao nhiêu mà còn phải cho thấy rõ rằng tỷ giá như vậy có thuận lợi cho xuất khẩu hay không. Việc thay đổi này là bắt buộc để thống nhất với, và theo chỉ đạo điều hành tỷ giá của Thủ tướng chính phủ, đồng thời gây dựng được lòng tin vào chính sách của công chúng.

Tuesday, 1 October 2013

Tập làm văn (tập 3)


Hắn không vội kể tiếp chuyện về mái tóc vàng, mắt xanh, và cái mũi Đức Mẹ, mặc kệ mọi người sốt ruột. Hắn đang chìm đắm trong hồi ức về những ngày trước đó, cũng góp phần định hình nên con người hắn như ngày nay, mà tóc vàng chỉ là một phần tác nhân, tuy rất quan trọng.

Thực ra hắn là người khá cầu toàn. Vào đại học một cái là hắn lên kế hoạch học một loạt những cái mà hắn cho là cần thiết, tất nhiên không phải chỉ phục vụ cho chuyện chim gái đâu nhé, hắn nghiêm mặt nhắc nhở các đồng chí. Tập này, hắn chỉ kể về chuyện hắn học võ và hành võ.

Thằng bạn của anh hắn là một võ sĩ Karate hình như từng có tên trong đội tuyển thi đấu quốc gia, đá cả tí Vịnh Xuân. Thế là hắn tuần mấy buổi đấm đá, luyện công ở chỗ thằng anh này. Mục đích đương nhiên không phải là cho khỏe khoắn mà là để có thể táng nhau với những thằng khác nếu có phải vậy. Hắn đã suýt nữa thành chiến sĩ an ninh nhân dân (hehe) khi hắn quyết tâm dự thi Đại học An ninh chỉ vì mấy lần ra đường va chạm bị mấy thằng lớn hơn, gấu hơn bắt nạt. Hắn nghĩ rằng thành công an thì chỉ có hắn bắt nạt được người khác chứ không ai bắt nạt được hắn (quá đúng, các đồng chí nhỉ?), và được học võ miễn phí! Nhưng rủi thay (hay may thay?), khi sơ tuyển, hắn bị loại vì… nhẹ cân, mặc dù thừa chiều cao. Và hắn không thể ngờ được sau này chuyện của hắn lại được mang ra làm giáo trình giảng dạy tại trường an ninh, nơi hắn đã từng mong muốn được vào như thế nào (hehe, các đồng chí cứ từ từ, đâu sẽ có đó)!

Học võ được một thời gian, một hôm thằng anh dạy võ quyết định dẫn cả lớp đi thực tập. Lượn lờ trên Hồ Tây suốt một tiếng đồng hồ mà không tìm ra được đối tượng. Chắc tại ngứa chân quá, thằng anh vớ tạm 2 thằng trọi con, chắc dạng lưu manh vặt đang ngồi ở hàng nước, tặng mỗi thằng một cước vào ngực. Tự nhiên hắn thấy thằng anh lưu manh quá. Cũng là vì một tối hôm khác đi thực tập khác ở hồ Ha Le, xui xẻo vớ đúng hôm gặp phải bọn giang hồ thứ thiệt. Hắn chỉ trang bị một cái khóa xích, mấy thằng trong lớp thì có gì dùng nấy. Đối thủ thì rõ ràng chuyên nghiệp hơn, với đồ lề đầy đủ. Tự nhiên hôm đó thằng anh dạy võ lại… hiền đột xuất. Dàn xếp thế nào đó mà 2 bên mới chỉ dàn quân hầm hè nhau, chưa xông vào nhau. Đột nhiên hắn thấy tối tăm mặt mũi, ngã bật ngửa ra đằng sau. Hóa ra, cả một hòn gạch củ đậu bay vèo từ tay một nghệ nhân ném bóng chày vô danh nào đó trong bóng tối lao đúng vào mõm hắn. Chỉ thấy lạo xạo trong miệng và vị máu, máu loang bên trong và máu chảy bên ngoài.

Chưa biết ai là tác giả của cú ném thiện nghệ, hắn điên lên lao vào thằng gần nhất thì nó nhanh chân té mất vào bóng tối. Vừa đau, vừa ngán bóng tối vốn rất thân thiện với những anh hùng núp như thằng tác giả của cú ném nên hắn quay lại tìm đồng bọn vẫn đang lơ ngơ tại chỗ, kể cả thằng anh dạy võ (thế mới khốn!).

Vụ đó hắn phải một thân một mình mò vào Xanh Pôn, nôn tiền ra trước rồi mới được đồng chí y tá tỏ lòng nhân từ khâu cho dăm mũi nơi khóe miệng. Kiểm tra tài sản cá nhân hắn thấy vơi mất nửa chiếc răng nanh. Tự thấy mình còn may vì viên gạch vẫn còn thương hắn mà không bay quá lên dăm phân nữa thì khéo hắn có nick mới là đồng chí X chột, hoặc giang hồ hơn chút là đồng chí X độc nhãn, chứ chẳng chơi.

Lâu sau này, khi mới ra trường được vài tháng, hắn đòi lại được hẳn nguyên một cái răng cửa từ mõm của một thằng quân khu khác nhà gần đường tầu trên đường Điện Biên Phủ. Hôm đó, hắn đang trên đường đến trung tâm ngoại ngữ, nhưng lần này là để dạy chứ không phải học (thay cho một đồng chí thân mến hắn), thì va phải 2 thằng quân khu mặc đồ dõng, đi xe máy. Hắn điếc không sợ súng, hình như còn gây sự trước với 2 thằng này. Thế là 2 thằng quẳng luôn xe máy xáp vô quần hắn. Nhưng chúng là quân khu thôi chứ không biết đấm đá ra hồn, nên hắn chơi cả 2 thằng tay bo một cách dễ dàng với một thằng sau này ở đồn công an khai rằng bị mất một chiếc răng cửa. Điên quá, 2 thằng dở đúng bản chất quân khu, một thằng cầm chai xăng bên đường, đập vỡ rồi lao vào gã, còn thằng kia thì giật lấy chiếc đòn gánh của bà bán rong bên đường. Hắn thấy sượt và nhói một phát bên mạng sườn. Nhắm tình thế tay không không lại được với bọn này, rất tỉnh táo, nhớ ra rằng chỗ này không xa chốt công an giao thông ở ngã năm (sáu?) Điện Biên Phủ, Hai Bà Trưng nên hắn vừa đánh, vừa rút chạy về hướng hắn nghĩ có công an.

Quả đúng như hắn tính, hắn nghe thấy còi huýt và một anh công an giao thông chạy tới. Chắc nhìn cái là biết ngay hắn là nạn nhân (hehe) nên anh công an rất tử tế tóm luôn một trong hai thằng quân khu. Còn mấy anh khác thì ra chỗ đánh nhau ban đầu tạm giữ hiện vật là xe máy và xe cuốc, giải về đồn công an phường, đâu như đầu đường Hai Bà Trưng thì phải.

Kết quả của vụ việc là hắn ăn vạ được một số tiền dư ra sau khi khai mất một số tài sản cá nhân, trong đó có một cái đồng hồ Rado bán ở chợ Đồng Xuân mà khi nghe hắn tả, anh cảnh sát phường nói thật, tao chưa nghe thấy có cái loại đồng hồ nào như thế! Tất nhiên là 2 chàng quân khu cũng phải đền bù tiền thuốc men cho hắn về cái vụ mạng sườn của hắn bị cào rách một miếng (lại may phúc tổ rằng nó không đi chệch hướng, chỉ để lại vết sẹo khâu vá chừng dăm phân, hình như cũng vẫn ở Xanh Pôn,thế mới khốn). Và đương nhiên là cả cái áo rách cũng được tính vào chi phí của hắn.

Nhưng đúng là lỗ hà ra lỗ hổng, mấy anh công an phường tự nhiên tỏ ra rất nhiệt tình trong việc bắt nhà 2 thằng kia bồi thường cho hắn trước khi chuộc được cái xe máy ra, để rồi lúc bọn kia về, mấy anh ngọt nhạt tỏ ý chia lộc (hehe). Thế là hôm lấy được tiền bồi thường, hắn phải cùng mấy anh công an phường ra quán bia gần đó, gọi bia cho mấy anh giải khát (còn hắn uống nước chè, làm mấy anh động lòng hỏi sao mày không uống cái gì đi?), rồi rút tiền trao cho các anh với lời cảm ơn chân thành nhất từ đáy lòng. Kể cũng chó thật, giá mấy anh này là mấy anh cảnh sát giao thông cứu hắn thì dù có cho cả, hắn cũng không tiếc. Tự nhiên, kể đến đây, hắn bảo muốn đ.m chúng nó quá, mặc dù chuyện đã xảy ra cả 2 chục năm có lẻ. Đ.m, đúng là đời hắn có nhiều duyên nợ với các anh công an các loại thật, mà thư thư hắn sẽ kể hết cho các đồng chí nghe.

(Còn tiếp, các đồng chí đón đọc nhé)

Sunday, 29 September 2013

Lời kêu gọi nhân vụ đồng chí Huyền Chíp

Từ entry trước, theo dõi các phản hồi cũng như số lượng pageviews tớ thấy vấn đề liên quan đến đồng chí Huyền Chíp đã nóng quá mức cần thiết và quá mức độ có thể chấp nhận được nên tớ muốn qua đây kêu gọi mọi người hãy tạm quên vụ việc đi để đỡ bức xúc (cả 2 phía), và để mọi thứ quay trở lại bình thường như vốn cần phải thế. Cuộc sống hiện tại có nhiều vấn đề cần quan tâm, giải quyết và bức xúc hơn. Hãy dành năng lượng cho những vấn đề đó, hơn là tung hô lên mây hoặc đạp xuống bùn đen một cá nhân mà xét ra thì cũng không đáng được/đáng bị phải thế.

Tớ mong các đồng chí hiểu và ủng hộ tớ.
Cám ơn mọi người.
Ngọc

Friday, 27 September 2013

Ngứa mồm một tí về đồng chí Trần Ngọc Thịnh nhân vụ đồng chí Huyền Chíp

Có lẽ tại tớ là đàn ông nên tớ nhìn cái mặt đồng chí chàng này ở đây mà thấy ghét (về mặt tướng học) và ngứa mắt nên quyết định phang vài nhát, mặc dù biết rằng việc phang này của tớ cũng rách việc và đểu như việc đồng chí chàng này phang đồng chí Huyền Chíp, cũng đều chẳng có gì hay ho cả. (À quên, cũng là thực hiện lời xui của đồng chí em hôm trước bảo tớ viết về đề tài xã hội nữa).

1. Anh chàng Thịnh nói: "Tôi đã trả lời nghi vấn này trên Facebook Page của mình. Tôi xin nói lại là tôi mới biết bạn Huyền Chip từ sau buổi họp báo hôm 19/9/2013 ở Hà Nội nên không có gì là ân oán quá khứ để mà trả thù. Tôi và nhiều độc giả đã rất bao dung khi cho em cơ hội giải thích và trình bày tại 2 buổi họp báo, nhưng bạn Huyền Chip đã thể hiện một thái độ hết sức vô lễ, thiếu văn hóa và quan trọng hơn cả là thách thức dư luận. Việc bạn ấy cố tình thách thức dư luận là điều khiến tôi cảm thấy bất bình nhất. Tôi muốn làm việc này để cho Huyền hiểu được mà trưởng thành hơn."
Tớ bình luận: Tranh luận mà phải mượn đến tay chính quyền để can thiệp để giết người ta thì thật là khốn. Dù người ta có vô lễ (với ai? anh là bố người ta chắc?), thiếu văn hóa, thách thức dư luận, nếu không tiêu hóa được thì hãy chửi lại, mà nếu không đủ gan, đủ khốn như người ta để chửi lại thì rút lui đi, hay làm như AQ là chửi thầm trong bụng thôi. Anh là cái thá gì mà bao với chẳng dung? Anh là cái thá gì mà có nghĩa vụ và trách nhiệm làm người ta trưởng thành hơn? Thằng khốn vô lễ!

2. Anh chàng Thịnh nói: "Tôi nghĩ có 2 cụm từ khi nói về Huyền Chip làm những người hâm mộ bạn ấy bị mê muội.

Cụm từ thứ nhất là "truyền cảm hứng". Mọi người cứ thấy truyền cảm hứng là cổ vũ, nhưng sao không hỏi là truyền cảm hứng cái gì? Tôi không phản đối việc đi du lịch khám phá, nhưng hãy nhìn lại đất nước mình. Đất nước còn nghèo, mà chỉ lo hưởng thụ, với đi du lịch, các bạn trẻ không lo học hành, chi lo ăn chơi thì làm sao đất nước khá lên. ​​Nhìn sang các nước giàu có, họ học tập và làm việc chăm chỉ để rồi lúc đó mới đi du lịch, hưởng thụ khám phá thế giới. Đất nước họ giàu có, Tây ba lô với khoản trợ cấp thất nghiệp còn thừa tiền để sống thoải mái ở Việt Nam, còn chúng ta thì sao, chưa lo làm giàu đã lo hưởng thụ. Tôi thấy Huyền Chip đi du lịch khi không có tiền, phải sang đó làm việc chui lủi, rồi phạm pháp chỉ để thỏa mãn cái sự tò mò, thích trải nghiệm của tuổi trẻ thì việc "truyền cảm hứng" đó cần phải soi xét lại.

Cụm từ thứ hai là "dám nghĩ, dám làm". Giống như cụm từ trên mọi người cứ thấy ai "dám nghĩ, dám làm" là thần tượng. Không thấy ai trong số đó tự hỏi dám nghĩ cái gì? dám làm cái gì?  Huyền Chip thừa nhận vượt biên trái phép, rồi cư trú bất hợp pháp ở Malawi, rồi làm việc với visa du lịch không có working permit như thế, toàn là việc phạm pháp nghiêm trọng như thế. Từ khi nào một thanh niên phạm pháp trở thành hình mẫu thanh niên vì dám nghĩ dám làm? Dám nghĩ, dám làm thì nó cũng phải là nghĩ cái gì và làm cái gì chứ? Nếu Huyền Chip dám nghĩ chuyện có ích, dám làm việc có ích cho xã hội thì đáng khen. Đây là dám nghĩ tới việc trốn vé, làm giả giấy tờ, vượt biên để tiết kiệm tiền, để trải nghiệm và dám làm nó bất chấp hậu quả nghiêm trọng thế nào thì có gì để độc giả ngưỡng mộ. "


Tớ bình luận: Đất nước nghèo thì không được đi du lịch à? Những thằng bỏ học ngang đều là bọn vất đi hết à? Đã làm khảo sát để biết trong bọn Tây ba lô, có bao thằng học tập và làm việc chăm chỉ rồi mới đi du lịch chưa mà nói chắc vậy? Hưởng thụ hay du lịch là quyết định và sở thích riêng của mỗi người, nói thế ngang với khuyến nghị Tổng cục Du lịch và các công ty lữ hành du lịch là phải xem xét, lọc ra ngay từ đầu bọn nào không thích học hành mà chỉ thích rong chơi, du lịch bằng tiền túi, để cấm chúng nó đi chơi với lý do là để tiền và công sức ở lại mà làm giàu cho đất nước đã rồi mới được đi à? "Truyền cảm hứng" đi du lịch, mạo hiểm, khám phá chứ không phải là truyền cảm hứng phạm pháp, chui lủi. Tớ thấy cháu gì đó, hình như là Ngân Thỏ nói đúng đấy, đại loại em trong sáng nhưng những cái đầu nhìn em không trong sáng nên mới thấy nó dung tục, hở hang.

Tương tự như "truyền cảm hứng", cụm từ "dám nghĩ dám làm" hình như đều là của anh chàng này nhét vào mồm nạn nhân Huyền Chíp, chứ có lẽ bản thân đồng chí Huyền Chíp không gọi hành động của mình là dám nghĩ dám làm, để rồi đồng chí Thịnh này có cái lý do mà suy diễn, quy chụp như bọn bần nông quy chụp địa chủ. Cả 2 cái đoạn trên, anh chàng Thịnh đều dùng kiểu diễn đạt đao to búa lớn, mượn cái nọ cái kia để tăng trọng lượng cho lời kết tội bọn địa chủ của mình. Thật khốn!

3. Anh chàng Thịnh nói: "Không, nếu tác giả ghi ngay từ đầu đây là cuốn tiểu thuyết hay có yếu tố hư cấu thì không ai đòi hỏi phải thật. Nhưng tác giả mô tả nó là nhật ký hành trình thì tính chân thực phải đặt lên hàng đầu. Trong sách có nhiều tình tiết rất phi lý. Ví dụ, Huyền Chip bị xe máy chạy 100km/h (làm sao bạn ấy chắc tốc độ xe máy chạy thế) đâm vào gãy ống đồng mà 3 tuần sau có thể chạy nhảy, leo núi thì sự thật là 0% chứ không được nổi 1%. Hoặc là không có trình độ, mới tốt nghiệp cấp 3, sử dụng visa du lịch ngắn ngày, không có kinh nghiệm làm việc, không biết tiếng bản địa mà có thể xin được việc 150USD/tuần ở một nước châu Phi nghèo hơn Việt Nam rất nhiều, với tỷ lệ thất nghiệp đang lên tới 50% thì khó mà tin được. ​"

Tớ bình luận: Anh chàng Thịnh này moi đâu ra cái luật rằng nhật ký hành trình (nhất là của một kẻ vô danh tiểu tốt) phải đặt tính chân thực lên hàng đầu vậy, không được có một chi tiết nào hư cấu hoặc không chính xác (vì lý do khách quan chẳng hạn; ví dụ như vì ảo ảnh trên sa mạc nên Huyền Chíp nhầm tưởng xe máy chạy đâu đó khoảng 90km/h thành 100km/h)?

Nước nghèo, thất nghiệp lớn chẳng nhẽ có nghĩa là hoàn toàn không có cơ hội việc làm cho người nước ngoài ư? Thế anh chàng Thịn có thử tưởng tượng rằng biết đâu cái song bạc ở Châu Phi ấy lại khoái em Huyền vì là da vàng mũi tẹt, nhất là người VN là cái giống người lạ ít thấy ở nơi đó nên quyết định tuyển vào làm khỉ mua vui cho khách thì sao? Sao trí tưởng tượng lại nghèo nàn để rồi nghĩ rằng không thể có chuyện như vậy được nên mới quy chụp người ta thế?

4. Anh chàng Thịnh nói: "Tôi không chèn ép ai cả, cái tôi làm là để tìm sự thật không chỉ riêng tôi mà rất nhiều độc giả mong đợi. Nếu Huyền Chip không ngoan cố, không thách thức thì sẽ chẳng có việc này. Đây là việc vạn bất đắc dĩ. Và cũng xin nói lại cho rõ, đây là một kiến nghị để mời cơ quan chức năng vào cuộc làm rõ vì tranh luận không thể kết thúc khi Huyền Chip liên tục từ chối. Đây không phải là kiện tụng mà có thể coi là chèn ép. Còn về mạng xã hội, tôi muốn dùng mạng xã hội để có thể truyền đạt thông điệp của mình với mọi người. Quyền lựa chọn là của các bạn, tôi chỉ cảnh báo và đưa ra các lựa chọn mà thôi.​​"

Tớ bình luận: Như tớ nói ở đoạn đầu, cãi/đánh nhau không được nên mượn tay kẻ khác giết đối thủ là tư cách của những thằng hèn/khốn hoặc là của bọn du thủ du thực. Lại còn mượn tay của mạng xã hội để đánh hội đồng, giết một cá nhân (vô danh tiểu tốt, hoặc luôn muốn em ấy vô danh tiểu tốt như vậy) nữa. Khốn không để đâu cho hết.

5. Anh chàng Thịnh nói: "Đây là những lỗi ngụy biện hết sức phổ biến mà những ai ​​bênh vực huyền Chip thường xuyên vào Facebook Page của tôi để tham gia tranh luận. Thứ nhất, nếu coi Huyền Chip là một đầu bếp, thì cuốn sách của cô ta là một món ăn. Độc giả là thực khách sẽ là người nói xem món ăn đó ngon hay dở. Do vậy, để nhận xét một món ăn, chả lẽ thực khách phải trở thành đầu bếp?

Như đã nói ở trên, tôi chỉ bắt đầu biết và quan tâm tới Huyền Chip từ vụ họp báo, trước cái status không chủ ngữ và đầy tính hăm dọa, tôi đã đi dự họp báo xem tác giả công bố sự thật như thế nào. Và từ đó tôi mới theo dõi vụ này đến giờ, trước đó tôi không quan tâm tới Huyền Chip và sách của bạn ấy. Còn việc cho rằng đi tìm sự thật, đi tìm chân lý, đưa ra những bằng chứng cụ thể, xác thực là hẹp hòi, là ích kỷ thì đó là một sự ngụy biện theo kiểu công kích cá nhân nhằm bao che cho sự đuối lý."


Tớ bình luận: Tại sao anh chàng Thịnh này không để độc giả/thực khách tự thưởng thức món ăn của đầu bếp Huyền mà cứ phải chõ mồm vào la lên rằng đấy là món dở lắm, đừng có ăn?

Nói thật là tớ thấy cái việc anh chàng này, cũng như nhiều người khác, đi dự họp báo công bố sự thật đã là rách việc lắm rồi. Nhưng thôi, đó là quyền của anh chàng. Tớ không thể dùng sức mạnh của cộng đồng mạng (đánh hội đồng) hay chính quyền để buộc tội anh chàng này là không lo làm ăn xây dựng đất nước cho giàu mạnh đã rồi hãy nghĩ đến, hãy rách việc đi chọc mũi vào việc của người khác.

Chuyện tranh luận đuối lý hay không, thì đúng là có thể có xảy ra. Nhưng không mấy ai thừa nhận là mình đuối lý (kể cả tranh luận tranh cử tổng thong, khi một bên đuối lý, nhưng không ai nói tôi sai rồi, anh đúng rồi, mà vẫn phải nói một cái gì đó vớt vát, và khán giả sẽ là người bỏ phiếu) nên giả dụ đồng chí Huyền có thấy mình sai, đuối lý nhưng không thừa nhận (nhất là không có một quan tòa phân xử ai đúng ai sai) thì cũng không thể nói thế là không thể chấp nhận được, và phải tìm cách triệt cho bằng chết vì can tội biết là ngu còn tỏ ra nguy hiểm (câu đi mượn)!

6. Anh chàng Thịnh nói: "Nhà báo Minh Trí bên báo Công an Nhân dân là nhà báo đầu tiên đặt ra nghi vấn về cuốn sách này. Tôi hy vọng tôi là người cuối cùng phải làm việc đó. Tôi tin là với những bằng chứng và lý lẽ đã trình bày trong thư kiến nghị, Cục xuất bản sẽ đứng về phía tôi và đông đảo độc giả chờ mong sự thật. "

Tớ bình luận: Sao lại có cái kiểu lôi người khác vào dọa khỉ, chia lửa với mình vậy nhỉ? Lại khốn nữa rồi!

Tóm lại, tớ phải thừa nhận thêm rằng tờ rất rách việc và khốn nạn khi chõ mồm vào chuyện của 2 anh chị này, nhưng phải thành thật mà nói rằng tớ thấy anh chàng Thịnh này khốn quá nên ngứa không chịu nổi. Nói thêm rằng, tớ đọc xong mà chẳng biết anh chàng này là ai, mãi cho đến khi đọc mấy cái comment bên dưới thì mới biết anh chàng này cũng từng được học bổng du học Mỹ. Thôi, tớ không bình luận thêm về chi tiết này nữa kẻo mọi người bảo tớ ghen ăn tức ở.








Thursday, 26 September 2013

Tập làm văn (tập 2)


Quên không nói thêm rằng tuy hắn học hành láng tráng thế nhưng hắn vẫn thỉnh thoảng thông minh đột xuất, thi cử đạt điểm kha khá, đủ cao để lĩnh học bổng, thậm chí là học bổng toàn phần, mấy chục nghìn một tháng. Thời đó, sinh viên ít khi đi làm, phần vì ít việc, phần vì không quen thế. Mà hình như mấy năm đầu sinh viên như hắn còn được nhà nước nuôi bằng chế độ tem phiếu, gạo sổ thì phải (ơn đảng, ơn chính phủ!). Bởi thế, hắn chỉ trông vào số học bổng này giải quyết đủ thứ chi tiêu cần thiết, như tình phí, học phí, lộ phí v.v… Ăn thì đã có cơm nhà rồi, coi như đỡ một gánh nặng lớn chuyện cơm áo. (Bọn học nội trú thì thật sự là thảm họa, đói kinh niên, dặt dẹo suốt ngày, mang cả chăn lên lớp học chùm vào người cho ấm để ngồi học trong tiết trời đông gió bấc thổi thông thống qua mấy cái cửa sổ cánh cái còn cái mất, long lay, mục nát).

Vì có học bổng, vì bố mẹ hắn không phải đại gia nên hắn chủ trương không xin tiền nhà mà tìm cách xoay trong số tiền hợp pháp hắn có, nếu không xoay được thì tìm cách khác. Cách nhanh nhất và ngắn nhất là cắt giảm tối đa chuyện phải trả tiền. Ví dụ, hắn đã lê la hầu hết các trung tâm ngoại ngữ Hà Nội, học tiếng Anh và Pháp từ bằng A lên đến C mà hầu như chưa một lần phải trả học phí. Sẽ có người hỏi bằng cách nào. Chịu, hỏi hắn hắn chỉ cười hề hề mà nhất định không nói, bảo ngượng lắm.

Đến cái khoản học nhảy (hay khiêu vũ), hắn chọn học lớp mở trên Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Xô (đau cả lưỡi), do mấy anh đi học, lao động xuất khẩu bên Tiệp về mở lớp cải thiện cuộc sống. Tiền học thì đành phải nộp đầy đủ, không trốn được. Được cái là lớp học cũng có chất lượng nên hắn học độ một khóa là có thể nhảy hết các điệu như van sờ (thầy nói là van Anh), chachacha, bi bốp, rumba, samba, lambada, van Viên… cũng như ai.

Đúng như hắn tư duy, học nhảy, biết nhảy thì chim gái dễ ợt. Vừa vào lớp học nhảy sơ cấp, hắn đã cua được một em cũng con nhà lành, thành phần xuất thân tạm ổn (nghĩa là bố mẹ là cán bộ công nhân viên chức trong biên chế nhà nước, có tem phiếu và sổ gạo), nghề nghiệp trên cả lương thiện (nuôi dạy trẻ), khai mục đích học nhảy là để giao lưu mà thực ra hắn hiểu là đi bướm trai (cho đối xứng với chim gái) là chính.

Thế là ngoài những buổi học nhảy là buổi giao lưu (lành mạnh nhé, hehe) với bạn gái. Một trong những chốn giao lưu của bọn hắn là các sàn nhảy ở Quang Trung, ở Hồ Xuân Hương. Có lần, dặm trong túi hết cả số tiền còn lại của tháng học bổng, hắn lại rủ bạn gái hiên ngang vào nhảy và gọi nước uống ở cái sàn Hồ Xuân Hương là sàn mới đi lần đầu. Cô phục vụ mang nước ra, rồi nói giá tiền, hắn chột dạ. Móc túi trái, lộn túi phải ra được mớ tiền lẻ mà liếc qua là biết ngay không đủ, hắn đang cực kỳ bối rối thì cô bạn gái nhanh ý và rất tử tế thò tay dưới gầm bàn nhét cho hắn một mớ tiền lẻ nữa. Cô phục vụ đành phải đếm, nhưng chắc cũng hiểu, không muốn làm hắn ngượng thêm nên chỉ đếm lấy lệ rồi biến, để hắn thở phào một nhát, quay sang cười ngượng nghịu với em.

Thế rồi mối tình này (hình như là tình hai, hay tình đầu gì đó, không biết có phải là mối tình mà hắn phải tỏ tình gấp gáp để thắng cuộc thằng bạn thân rằng đứa nào có bồ vào trước ngày này, tháng này thì sẽ được thằng kia mất cho một cái gì đó) không kéo dài được lâu vì những lý do vớ vẩn, và vì hắn tự ái, nghiến răng thề không thèm làm lành khi trên đường lao ra từ nhà cô nàng sau trận giận dỗi, trong nỗi bực tức hắn đâm phải hòn đá bên đường, ngã xoài và làm méo cái vành xe cuốc thân thương của hắn.

Hắn lại trở lại thời xưa, lang thang vật vờ với mấy thằng bạn lúc quán nước, lúc học ngoại ngữ, lúc bát tiết, lượn lờ nơi trường này lớp kia để giao lưu. Rồi một hôm có thằng bạn thân cùng lớp nhà ở Lãn Ông nhưng khá tẩm, bày tỏ ý muốn nhờ hắn dìu dắt cho nên người bằng cách dẫn đi học nhảy (chắc nhìn thấy hiệu quả qua hắn). Hắn Ok ngay, bố trí một tối dẫn bạn lên Cung Việt Xô (gọi thế cho nó ngắn gọn) vào lớp học trước đây hắn đã học.

Hắn vẫn nhớ hôm đó, mục đích là dẫn thằng bạn tẩm kia đi để thằng đó học nhảy chứ không phải hắn nên hắn đi dép lê, ăn mặc luộm thuộm, ngồi lặng lẽ một góc, kiên nhẫn đợi thằng bạn nhảy nhót loi choi xong thì về. Đang ngồi lớ xớ thì có một giọng tiếng Anh cất lên với bàn tay mời nhảy chìa ra trước mặt. Hắn ngước lên nhìn. Là một khuôn mặt nữ với mái tóc vàng, mắt xanh, mũi Đức Mẹ! Chúa lòng lành ơi!

(Còn nữa, mời các đồng chí đón đọc).

Việt Nam có thể thấy gì qua QE? (Bài đăng trên TBKTSG 26/9/2013, bản gốc)

(Bài này có một số đoạn giống bài gốc đăng trên TBKTSG số trước; nhưng bài trước chắc bị cắt gọt nhiều nên tớ viết lại ở bài này cho đủ ý. Nhưng cũng không biết là có bị cắt gọt tiếp không).
------------------------------------------------------------------------------------

Ngày 18/9, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã quyết định tiếp tục chương trình nới lỏng định lượng (QE) – chương trình mua trái phiếu Chính phủ Mỹ - của mình thêm một thời gian nữa. Việc FED ngừng hay tiếp tục QE đã gây sóng gió cho cả thế giới, đặc biệt là những nền kinh tế mới nổi. Mấy tháng liền cho đến trước ngày 18/9 khi FED chính thức công bố tiếp tục hay chấm dứt QE, ý kiến chung trên thị trường tài chính quốc tế là FED sẽ chấm dứt (hoặc giảm bớt quy mô) QE trong tháng 9 này. Nhận định này đã làm cho các dòng vốn đảo ngược, chảy ra khỏi các nền kinh tế mới nổi, trở về các nước phát triển nơi mà lãi suất đã tăng, làm sụt giảm giá của các tài sản có tính rủi ro các nước có thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai lớn như Ấn Độ, Indonesia, và Thổ Nhĩ Kỳ, đồng thời làm suy yếu đồng tiền của họ.

Tuyên bố tiếp tục QE của FED đã có tác dụng giữ chân và/hoặc thu hút thêm các dòng vốn đổ vào các nước đang phát triển này, dẫn đến sự hồi phục của giá chứng khoán và các loại tài sản khác, cũng như tỷ giá bản tệ. Ví dụ, với Ấn Độ, tỷ giá đồng rupee/USD đã suy yếu từ mức 53,8 vào ngày 1/5 xuống mức thấp kỷ lục 68,5 ngày 28/8, tức sụt tới 27% trong vòng 3 tháng, trước khi tăng mạnh trở lại, lên mức 62,2  vào ngày 19/9, một ngày sau khi FED ra quyết định giữ nguyên QE.

Vì FED không nói rõ khi nào sẽ chấm dứt QE, cũng như không rõ chỉ tiêu cụ thể để FED ra quyết định liên quan đến QE, nên dòng vốn đang đổ vào các nước đang phát triển và hậu thuẫn cho tỷ giá ở những nước này hầu như chỉ mang tính ngắn hạn, phản ánh rõ nét tính bất trắc của QE. Trên ý nghĩa này, điều quan trọng cho các nước đang phát triển, đặc biệt là những nước phải dựa vào vốn nước ngoài để trang trải thâm hụt tài khoản vãng lai lớn và kinh niên của mình, là phải có những biện pháp chính sách để tránh hay giảm thiểu tác động của việc tháo chạy của vốn nước ngoài khi FED tuyên bố dừng QE.

So với Ấn Độ, Việt Nam có một số tương đồng như tăng trưởng GDP đã tụt giảm mạnh trong mấy năm gần đây, trong khi thâm hụt vãng lai là vấn đề kinh niên và ở mức lớn trong suốt nhiều năm. Thâm hụt tài khoản vãng lai của Việt Nam ở mức trung bình là 3,5% GDP trong suốt khoảng thời gian từ 1980 cho đến 2012 (so với 1,4% của Ấn Độ trong cùng thời kỳ), và mới chỉ chuyển sang thặng dư bắt đầu từ năm 2011 (0,2% GDP) và vọt lên mức 7,4% GDP năm 2012. Việt Nam cũng có thâm hụt ngân sách kinh niên và đứng ở mức lớn (trung bình đứng ở mức 3,6% GDP từ 1980 đến 2012; so với mức khoảng 3% GDP của Ấn Độ).

Bởi vậy, có thể nói chắc chắn rằng Việt Nam cũng thuộc một trong những nước có nguy cơ bị ảnh hưởng tiêu cực do các nguồn vốn nước ngoài đảo chiều từ việc chấm dứt QE, tuy mức độ ảnh hưởng có thể nhỏ hơn hoặc đến chậm hơn do mức độ kém phát triển hơn của thị trường tài chính và sự có mặt của các biện pháp kiểm soát lưu chuyển vốn.

Ngoài tác động trực tiếp của việc đảo chiều các luồng vốn vào Việt Nam, việc chấm dứt QE sẽ lại một lần nữa châm ngòi cho sự bất trắc và chao đảo trên các thị trường tài chính quốc tế, có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và đà hồi phục kinh tế toàn cầu, và tức là của Việt Nam. Mức lãi suất chung sẽ tăng lên làm giảm các nguồn vốn vào Việt Nam, kể cả vốn FDI, hoặc làm cho chúng trở nên đắt đỏ hơn. Khi đó, những yếu kém mang tính cơ cấu của Việt Nam như thâm hụt vãng lai và thâm hụt ngân sách lớn nếu vẫn không được cải thiện thì chắc chắn sẽ càng làm khuyếch đại ảnh hưởng tiêu cực từ bên ngoài lên tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam.

Trong bối cảnh dễ bị tổn thương bởi khi QE xảy ra thực sự (chỉ còn là chuyện sớm hay muộn), Việt Nam cần phải (tiếp tục) thực thi nhiều biện pháp chính sách để đảm bảo các cân đối vĩ mô của mình, trong đó có cán cân tài khoản vãng lai và cán cân thu chi của ngân sách.

Với tài khoản vãng lai, điều may mắn là Việt Nam đã bắt đầu đạt được thặng dư tài khoản vãng lai từ năm 2011, tạo ra cảm giác khá an tâm về tài khoản vãng lai của Việt Nam. Tuy nhiên, với tình trạng nhập siêu đang rình rập quay lại sau một thời gian ngắn đạt xuất siêu trong mấy quý vừa qua, khả năng quay trở lại trạng thái thâm hụt kinh niên của tài khoản vãng lai trong thời gian tới là điều khó có thể phủ nhận. Duy trì tỷ giá linh hoạt, thay vì ổn định trong biên độ hẹp như hiện tại, là một trong những điều cần làm để cải thiện cán cân thương mại.

Về thâm hụt ngân sách và nợ nước ngoài, đáng tiếc là, mặc dù với thâm hụt ngân sách lên tới 6,9% GDP năm 2012 (số liệu của ADB), vẫn có một số tiếng nói kiến nghị tiếp tục nới lỏng mức thâm hụt ngân sách để tăng tổng cầu, thúc đẩy tăng trưởng. Đương nhiên, đi đôi với việc này sẽ là sự gia tăng của, và phụ thuộc vào, nợ nước ngoài của Việt Nam. Việc kiến nghị nới lỏng này trong hoàn cảnh bình thường thì có thể hiểu và chấp nhận được. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh bất trắc và rủi ro đang tăng lên của môi trường kinh tế toàn cầu có phần liên quan đến QE trong thời gian tới như đã nói ở trên, việc tiếp tục gia tăng thâm hụt ngân sách và nợ nước ngoài là điều bất cập. Thay vì tập trung vào kích thích tăng trưởng bất chấp những rủi ro đang rình rập, điều cần thiết là duy trì một môi trường vĩ mô ổn định để sẵn sàng đối phó những cơn sốc bên ngoài sẽ đến nay mai.

Tuesday, 24 September 2013

Tập làm văn (tập 1 của n tập)


Hôm trước có đồng chí em xui tớ viết về đề tài xã hội nữa (chắc thấy tớ càng ngày càng kém về kinh tế). Thì cũng liều một phen xem sao vậy. Phát huy tối đa trí tưởng tượng, tớ quyết định viết về một nhân vật X (không phải đồng chí X mà ai cũng biết đâu nhé) mà tớ gọi là hắn cho nó có vẻ văn vẻ tí chút. Truyện có thể có nhiều phần, tùy thuộc vào trí tưởng tượng và độ hứng của tớ, cũng như độ hứng của các đồng chí bạn đọc.

Đầu năm 1991. Hắn đang học năm cuối ở trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Nói là học, nhưng hắn đã đánh mất thói quen học, mà chỉ còn thói quen đi đến trường (và không học) có lẽ từ năm thứ 2 hay chậm nhất là năm thứ 3 rồi. Hàng ngày, cứ tầm độ 10 giờ sáng gì đó,từ nhà hắn lóc cóc đạp cái xe cuốc mầu mắm tôm cao lều nghều mà bố hắn đi xuất khẩu lao động ở Tiệp gửi về cho hắn đi vào trường, dựng ngay trước cửa giảng đường (ở tầng 1), trong tầm nhìn của hắn từ mấy dẫy bàn trong giảng đường, khóa lại cẩn thận. (Ông bố hắn là người cục tính nhưng rất thương và chiều hắn một cách ngấm ngầm. Để mua được cái xe cuốc này, chắc theo ông là rất hợp với cái dàng cao lều nghều của hắn, hẳn ông phải tiết kiệm tiền lương mấy tháng lao động khổ sai bên Tiệp). Hắn phải khóa xe và dựng ở chỗ mà hắn có thể nhòm ra bất cứ lúc nào vì hắn đã từng bị cắt khóa một con xe đạp ghẻ trước đó, ở một góc khuất của khu giảng đường, báo hại hắn phải đi bộ từ nhà đến trường (may mà không quá xa). Hắn càng có lý do để ghé mắt trông xe khi đang học vì hắn không muốn mất tiền gửi vào bãi trông xe, khi mà phòng học nhìn ngay ra sân, chỗ hắn để xe đạp.

Hình như hắn chẳng mang cái gì đi học thì phải, bút không, mà giấy cũng chẳng có. Hắn không nhớ tại sao lại vào cái giờ đó, cũng có thể là cái giờ mà giáo viên đứng lớp hay điểm danh. Hắn “đi học” chủ yếu vì đến gặp và đưa cô bạn thân học cùng lớp về nhà khi hết giờ. Cô bạn này, tạm đặt tên là Loan, hắn rất thân, đôi lúc hắn cũng tưởng là có tí cái gọi là tình yêu, nhưng ngẫm ra thì chắc không phải. Cô bạn thì đương nhiên cũng rất thân với hắn, còn hắn thì chịu không thể biết là cô nàng có yêu hắn tí nào không (vì hắn chẳng bao giờ hỏi). Hắn thân với Loan trước tiên vì khi làm thủ tục nhập học, hắn mới nhận ra là cô bé này cũng ngồi cùng phòng thi đại học với hắn, và Loan là một trong hai cô gái người Hà Nội duy nhất trong cái lớp có đến hơn 40 mạng của hắn.

Hắn cũng chẳng nhớ là làm cách nào mà hắn qua được mấy năm học cuối khóa khi mà động lực học hắn đã đánh mất ngay sau năm thứ nhất. Những buổi sáng và chiều kinh hoàng nhất với riêng hắn và với cả đám sinh viên là những buổi học 4 đến 6 tiết học toàn Kinh tế chính trị Mác Lê Nin, hoặc khốn nạn không kém là Lịch sử đảng, hay Triết học Mác Lê Nin, hoặc những cái đại loại như vậy. Thực ra, những môn học gắn với mấy cái chữ đến đau bụng này không phải hoàn toàn, không luôn tồi tệ. Ít nhất là với hắn, kỳ học đầu tiên của năm thứ nhất, môn học Kinh tế chính trị là môn học khá thú vị, chủ yếu do công lao của một ông thầy già, trông khắc khổ và nghèo nàn với trang phục thiếu vải (tức là quần ống thấp ống cao). Ông thầy nói không cần nhìn giáo trình, biết đặt câu hỏi đánh thức và bắt động não lũ sinh viên theo lẽ thường là đang ngủ gật trong giờ. Hắn đã từng xung phong giơ tay trả lời ông thầy này vài lần. Có lúc đúng, có lúc sai, nhưng đại loại là nó cho hắn cái cảm giác mà sau này du học hắn mới biết, mới hiểu.

Hoặc với những môn nghe rất oái oăm, hình như là Đạo đức Xã hội chủ nghĩa, hắn thậm chí còn đạt cực khoái khi rinh về một con 10 cho bài tiểu luận xuất sắc (!) viết về tình yêu của con người mới xã hội chủ nghĩa!!! Đó là năm thứ 2 thì phải, là năm mà hắn thậm chí còn chưa có lấy cái gọi là mảnh tình vắt vai. Hắn vẫn còn nhớ, bài tiểu luận đó, hắn viết (bằng bút, tất nhiên, chứ làm gì có máy tính và máy in như bây giờ) có nhẽ đến cả chục trang, và đến bây giờ hắn vẫn còn phục hắn là tại sao hắn lại có thể bịa ra dài (và hay, tất nhiên) như vậy được cơ chứ. Buồn cười nhất là hắn mang cái đề tài đó đến nhà một cô bạn-bắt-đầu-thân-chứ-không-thể-yêu, dân học ngoại ngữ, khoa tiếng Nga, vốn văn chương khá là lai láng, để bảo cô ấy triển khai mấy đường cho hắn xem. Kết cục là hắn thấy một trang giấy với khoảng chục dòng rồi... tắc tị! Hắn hả hê lắm, nghĩ bụng tưởng gì, hóa ra mình còn kinh hơn bọn này.

Nhưng tình hình bắt đầu tệ đi kể từ đó, với những đồng chí thầy đứng suốt cả mấy tiết học đều đều đọc giáo trình ra cho lũ sinh viên đói ăn, thiếu áo ngồi dưới chép lia lịa. Giờ nghĩ lại, hắn cho rằng thầy đọc vậy vì cũng chẳng nhớ, chẳng hiểu gì về những cái thầy đang giảng (quên, đang đọc) – một cảm giác nữa mà nhiều năm sau này hắn đã trải nghiệm khi đứng trên bục giảng cho sinh viên Nhật (hehe). Tinh thần học tập lơ đãng của hắn có lẽ bắt đầu xuất phát từ đấy, với những lần hắn đang thả hồn theo một con chim gì đó đang bay nhẩy trên cái cây cổ thụ ngay cạnh cửa sổ của giảng đường thì thầy giáo gọi giật giọng làm hắn choàng tỉnh, bắt nhắc lại đoạn kinh về xã hội chủ nghĩa thầy vừa đọc xong. Tất nhiên, hắn không phải là Chúa thì sao mà thuộc được, thế là bị kỷ luật gì đó, hình như là một cái dấu đánh trong sổ đen của thầy.

Tất nhiên là hắn không phải là thằng lười. Không học ở trường thì hắn học những cái hắn thích, hoặc cho là cần, hoặc thành mốt, ở bên ngoài. Hắn vẫn nhớ những buổi chiều, tan học, đạp xe trên đường Giải phóng thì phải để đến lớp học tiếng Anh, tiếng Pháp cùng với mấy thằng ngoại trú người Hà Nội của lớp hắn, lẽo đẽo đi sau mấy em tóc cụt, lải nhải hát bài gì của Trịnh Công Sơn có đoạn “ôi tóc em dài.. đến ngang cổ”. Không nhớ là các em đó phản ứng thế nào, nhưng chắc chắn là hắn và mấy thằng bạn dường như vẫn còn chưa qua tuổi học sinh không có ý định làm quen, cưa cẩm mấy em đi đường đó.

Và hắn cũng không xa lánh xu thế thời đại khi đăng ký học nhảy, còn được gọi là khiêu vũ quốc tế, vì nghĩ là chim gái thì chẳng cái gì hiệu nghiệm bằng cái món này. Chính vì học nhảy, và biết nhảy (khá đẹp, theo hắn) mà quả thật là đời hắn đã thay đổi hoàn toàn, với nhiều biến cố mà có giàu trí tưởng tượng như hắn cũng không bao giờ nghĩ ra được. (Hết tập 1, mời các đồng chí đón đọc số tiếp, đồng thời cho biết cảm tưởng nhé).

Monday, 23 September 2013

Mặt trái của TPP (bài đăng trên Doanh nhân Sài Gòn, bản gốc)

Hôm trước có đồng chí em (hy vọng là nữ) hỏi tớ liên quan đến TPP và ngành ngân hàng ở VN. Tớ có tìm tư liệu, nhưng cũng chưa tìm được nhiều nên chỉ tranh thủ viết tạm như bài này (cám ơn đồng chí em này đã gợi ý đề tài cho tớ nhé). Sau này, tìm/biết thêm được cái gì thì tớ lại viết tiếp. Các đồng chí cứ đặt bài tớ nhé, tớ cảm ơn trước.

http://www.doanhnhansaigon.vn/online/dien-dan-doanh-nhan/thoi-su/2013/09/1076903/tpp-mot-goc-nhin-khac/
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Hiệp định đối tác Thái Bình Dương (TPP) đang được đàm phán mật giữa 12 quốc gia, trong đó có Việt Nam. Nói là đàm phán mật vì các văn kiện và nội dung đàm phán không được công bố, và chỉ có một số ít đối tượng trong Chính phủ và các tổ chức hữu quan của các nước thành viên được biết đến.

Mặc dù là đàm phán mật, nhưng một số tài liệu và nội dung liên quan đến đàm phán đã rò rỉ ra ngoài. Từ đó, công luận mới phần nào nắm bắt được sự việc và có những phân tích, mổ xẻ. Tuy được gọi là một hiệp định thương mại với mục đích là khuyến khích thương mại giữa các thành viên và thống nhất các biểu thuế và các luật định thương mại khác, song trong 29 điều khoản của TPP, chỉ có 5 điều khoản là liên quan đến thương mại. Các điều khoản còn lại liên quan đến những vấn đề phi thương mại như giới hạn sự riêng tư trên Internet, tăng cường bảo vệ sở hữu trí tuệ, quyền kiện tụng đòi bồi thường, và tự do hóa tài chính.

Cũng như mọi thỏa thuận song và đa phương khác, TPP cũng sẽ mang đến những lợi ích và thiệt hại khác nhau cho từng quốc gia, từng nhóm lợi ích nếu nhìn từ các góc độ và lập trường khác nhau. Tuy nhiên, có một số tác động tiêu cực được không ít người cho rằng sẽ xảy đến với không chỉ một (nhóm) nước nào đó mà với hầu như mọi nước thành viên, và người luôn thắng cuộc là các công ty đa quốc gia, vì về bản chất, những người này cho rằng TPP được thiết kế để bảo vệ và làm lợi cho các công ty đa quốc gia (cũng nên lưu ý ở đây rằng mặt trái này là trong con mắt một số nhóm người nhưng vẫn là mặt phải trong con mắt của những nhóm khác). Dưới đây là tóm tắt một số những tác động tiêu cực của TPP theo cái nhìn của các nhóm chống đối TPP.

  1. TPP ngăn cản việc chính phủ mua sắm ưu tiên hàng hóa sản xuất trong nước. TPP cho phép các doanh nghiệp ở bất cứ nước thành viên nào có quyền tiếp cận bình đẳng với mua sắm của những Chính phủ thành viên khác. Như thế, chắc chắn chương trình, ví dụ, vận động người Việt Nam dùng hàng Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng vì các chương trình mua sắm công của Việt Nam sẽ không còn được phép quy định việc mua sắm một số chủng loại hàng hóa nào đó phải có xuất sứ từ Việt Nam. Hoặc việc một bộ nào đó yêu cầu đích danh phải mua sắm tại một (số) doanh nghiệp nào đó, như đã từng xảy ra, cũng sẽ bị cấm.
  2. TPP làm suy yếu các quy định và luật lệ về bảo vệ môi trường. TPP cho phép các công ty đa quốc gia kiện và đòi Chính phủ các nước thành viên bồi thường cho những thiệt hại gây ra khi các Chính phủ này thực thi một số luật định liên quan đến môi trường vì mục đích công cộng như cấm hay dần loại bỏ các hóa chất độc hại, khai thác gỗ rừng, giấy phép khai mỏ, chương trình năng lượng sạch v.v... mà có thể làm phương hại đến lợi ích của các công ty đa quốc gia đó (ví dụ, khi chính quyền địa phương yêu cầu các dự án năng lượng tái tạo phải dùng các thiết bị phát điện tái tạo trong nước sản xuất, chứ không được nhập khẩu, do đó làm ảnh hưởng đến nhu cầu về thiết bị nhập khẩu).
  3. TPP làm suy yếu quyền tự do trên Internet. Điều khoản về sở hữu trí tuệ sẽ tác động tiêu cực đến khả năng sáng tạo nội dung, hạn chế khả năng của các công ty công nghệ tạo ra các sản phẩm mới, và khả năng của người dùng internet sử dụng nội dung theo cách thức mới.
  4. TPP làm phương hại đến nông nghiệp và an toàn thực phẩm. Trong khi các công ty đa quốc gia buôn bán và chế biến lương thực thực phẩm thu được lợi nhuận khổng lồ thì nông dân nuôi trồng sản xuất lương thực thực phẩm lại là người chịu thiệt hại khi không thể cạnh tranh được (về giá) với lương thực thực phẩm nhập ngoại. Về an toàn thực phẩm, TPP buộc Chính phủ phải cho phép nhập các sản phẩm không đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh an toàn trong nước, cũng như hạn chế việc kiểm tra thực phẩm và các sản phẩm.
  5. TPP tác động tiêu cực đến các luật về sức khỏe, an toàn, môi trường, người tiêu dùng và lao động. Một số điều khoản trong TPP cho phép các công ty/nhà đầu tư được kiện đòi bồi thường các khoản “lợi nhuận tương lai” từ những luật định liên quan đến các vấn đề trên. Bởi thế, Chính phủ các quốc gia sẽ phải tránh ban hành các điều luật mà có khả năng làm phương hại đến lợi nhuận của các công ty này, dẫn đến kiện tụng và bồi thường nặng nề. Quyền được kiện cáo các Chính phủ trở thành một trở ngại cho Chính phủ thực thi các hành động bảo vệ công nhân, người tiêu dùng, sức khỏe và môi trường.
  6. TPP làm tăng chi phí y tế vượt quá khả năng chi trả. Dưới áp lực của Mỹ có thể TPP sẽ có những điều khoản mở rộng sự bảo vệ độc quyền dược phẩm (ví dụ, bảo vệ nhãn hiệu độc quyền với thời gian kéo dài, làm tăng giá thuốc), tước đi khả năng tiếp cận với dược phẩm giá rẻ của đại chúng, đặc biệt ở những nước đang phát triển như Việt Nam.  TPP còn buộc hệ thống y tế công cộng mở cửa cho các hãng dược phẩm với sự kiểm soát lớn hơn về giá thuốc của chúng, hạn chế khả năng đàm phán của quốc gia được mua thuốc với giá rẻ, cũng tức là hạn chế cung cấp dịch vụ y tế với giá rẻ cho đại chúng.
  7. TPP ngăn chặn hoạt động của các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước và các luật định về tài chính, ngân hàng. Điều khoản về doanh nghiệp nhà nước cũng được áp dụng cho các ngân hàng thuộc sử hữu nhà nước. Những đặc quyền mà các ngân hàng nhà nước đang được hưởng hay đảm nhận (ví dụ như tiếp cận nguồn vốn ưu đãi của Chính phủ) sẽ bị coi là đặc quyền bất công bằng, vi phạm quy định tự do thương mại của TPP, và do đó bị cấm hoặc bị kiện cáo. Về ảnh hưởng của TPP lên luật định ngân hàng, TPP yêu cầu tự do hóa tối đa cho hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, bao gồm cấm đối với các hạn chế về quy mô của tổ chức tài chính (vốn là một biện pháp phòng chống chuyện “quá lớn để cho phá sản”), cấm việc đặt ra các vách ngăn giữa các loại hình tổ chức tài chính, cho phép sử dụng các sản phẩm tài chính phái sinh độc hại, cũng như cho phép vốn được tự do lưu chuyển vào và ra khỏi quốc gia thành viên. Lưu ý rằng việc lơi lỏng/bất lực trong kiểm soát lưu chuyển vốn, đặc biệt là luồng “tiền nóng”, là một trong những nguyên nhân chính gây ra các cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới. Trước nguy cơ này, đã có hơn trăm nhà kinh tế học, trong đó có nhiều người nổi tiếng, cùng ký vào một đơn thỉnh cầu gửi đến các đoàn đàm phán TPP kêu gọi cho phép các Chính phủ được kiểm soát và chế tài lưu chuyển vốn mà không bị rủi ro bị kiện cáo, đòi bồi thường.

Tóm lại, nếu được thông qua như những gì đã biết hiện nay thì, ngoài những tác động tích cực thúc đẩy tăng trưởng thương mại giữa các nước thành viên, mặt trái của TPP được cho là tước đi sự tự chủ của chính quyền ở mọi cấp trong từng quốc gia thành viên, đồng thời khuyến khích các hành động thương mại mang tính hủy diệt cộng đồng và môi trường. Tuy vậy, cần nhấn mạnh lại rằng đây là mặt trái theo cách nhìn nhận của một số nhóm người, chứ không phải là tất cả. Có lẽ số đông vẫn sẽ là những người nhìn thấy mặt phải của TPP nhiều hơn.

Sunday, 22 September 2013

Lạ lùng phát biểu của đồng chí TS Nguyễn Trí Hiếu

Trong bài phỏng vấn này, đồng chí Hiếu nói một số chỗ mà tớ thấy lạ lùng quá thể.

1. Đồng chí Hiếu nói: "NHNN đã nỗ lực và có thành công nhất định trên các lĩnh vực quản lý thị trường vàng, ổn định tỷ giá và điều hành lãi suất. Về lĩnh vực quản lý thị trường vàng, NHNN đã khẳng định thiết lập trật tự thị trường, sau đó ổn định giá. Trật tự trên thị trường vàng đã được thiết lập, không còn hiện tượng người dân đổ xô đi mua vàng mỗi lần xảy ra đoản cung, tạo ra những cơn sốt vàng gây xáo trộn thị trường; chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới đã được thu hẹp đáng kể; NHNN cũng thành công trong việc chống “vàng hóa”, cụ thể NHNN đã tách vai trò người huy động và cho vay vàng ra khỏi các ngân hàng thương mại (NHTM), bởi bản thân các NHTM cũng thua lỗ nặng nề, hiện tượng đầu cơ vàng đã giảm."

Tớ bình luận: Người dân không còn đổ xô mua vàng như mỗi lần xảy ra đoản cung trước đây. Nhưng ai gây ra đoản cung trước đây? Chẳng phải là NHNN không cấp phép cho các doanh nghiệp nhập khẩu vàng hay sao? Nay cho dù có không xảy ra đoản cung thì cũng chỉ có nghĩa rằng NHNN thay vì thình thoảng làm đoản cung như trước đây nay đã chịu khó duy trì và tăng cung vàng ra thị trường. Chuyện này cũng giống như sai lầm và đổi mới (tức sửa sai, nhưng có khả năng vẫn sai) ấy mà, thần thánh gì đâu.

Chênh lệch giá vàng trong nước và ngoài nước đâu có được thu hẹp đáng kể đâu nhỉ? Tất nhiên là so với mức chênh lệch kỷ lục 6-7 triệu đồng/lượng thì chênh lệch hiện nay là đã nhỏ đáng kể rồi. Nhưng, lại nhưng, cái mức chênh lệch 6-7 triệu này có từ lúc nào, ai và cái gì gây ra?

NHNN đâu có thành công trong việc chống vàng hóa, được hiểu là phải giảm lượng vàng đang đóng vai trò như VND trong nền kinh tế. Giảm gì mà bao nhiêu tấn vàng đã được NHNN tung thêm vào nền kinh tế, trong vòng có mấy tháng nay, và tung ra bao nhiêu thì cũng hầu như bán sạch bấy nhiêu?

Hiện tượng đầu cơ vàng, như tớ có lần đã nói, có thể và chỉ giảm khi NHNN duy trì việc bán vàng với giá tương đối ổn định hoặc xu hướng giảm đi, làm triệt tiêu động cơ đầu cơ (kỳ vọng giá vàng sẽ tăng trở lại). Nhưng khi NHNN dừng bán vàng và/hoặc giá vàng thế giới tăng trở lại thì... hãy đợi đấy!

2. Đồng chí Hiếu nói: "Qua việc tổ chức các phiên đấu thầu vàng, NHNN đã giải quyết sự mất cân đối cung - cầu vàng trên thị trường, nhờ đó giải tỏa cơn khát của thị trường, khoảng 40% lượng vàng đấu thầu đã đi vào trong dân chúng… Tôi nghĩ, về lâu dài, NHNN nên thành lập sàn vàng quốc gia để có sự liên thông với thế giới, thị trường vận hành thông suốt."

Tớ bình luận: Như đã nói ở trên, sự mất cung cầu vàng trên thị trường là do ai, cái gì tạo ra? Nay NHNN bán vàng để "giải tỏa" cơn khác thì cũng chỉ nên hiểu đó là hành động sửa sai mà thôi, có gì đâu mà ca ngợi?

3. Đồng chí Hiếu nói: "Tôi cho rằng, NHNN chưa thể dừng đấu thầu vàng dù chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới đã giảm (còn trên 2 triệu đồng/lượng). Mặc dù nhu cầu về vàng đã giảm dần, nhất là sau khi các ngân hàng hoàn tất đóng trạng thái vàng, nhưng cầu vàng giảm chưa bền vững. Trong số gần 60 tấn vàng NHNN đấu thầu vàng miếng thì có gần một nửa số vàng được các TCTD mua để tất toán số dư huy động vàng, số còn lại đã được đưa ra thị trường. Điều này cho thấy, nhu cầu mua vàng của người dân là không nhỏ. Ước tính thị trường vẫn cần khoảng 50 tấn vàng nữa nên trong năm nay chắc chắn NHNN chưa thể dừng đấu thầu vàng, ngay cả khi mức chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới xuống thấp hơn 1 triệu đồng/lượng. Tôi dự đoán điều này sẽ không xảy ra trước khi hết quý I.2014.
Khi chênh lệch giá vàng nội - ngoại được thu hẹp ở mức trên và duy trì trong một thời gian nhất định (3 - 6 tháng) thì NHNN nên cân nhắc biện pháp đấu thầu vàng. Không loại trừ phương án mua vàng miếng. Tôi nghĩ, hoạt động đấu thầu vàng chỉ chấm dứt khi nhu cầu bình ổn không còn."

Tớ bình luận: Trong lý luận trên, cần phải hiểu rằng gần 30 tấn vàng các ngân hàng mua vào và tất toán cũng có thể (hoàn toàn) đã đi vào tay dân chúng nên không thể nói lượng vàng ước tính còn 50 tấn (cho dù bản thân con số 50 tấn này là một dấu hỏi, kể cả cứ cho rằng hơn 30 tấn vàng đã được đưa ra thị trường trong số 60 tấn vàng đấu thầu).

Theo lý luận của NHNN và đồng chí Hiếu thì sẽ/nên dừng đấu thầu khi nhu cầu bình ổn không còn. Nhưng nhu cầu vàng luôn biến động (theo hướng tăng, chí ít vì quy mô nền kinh tế và dân số có xu hướng tăng, trong ít nhất là ngắn và trung hạn), nên nếu NHNN không bình ổn nữa, tức không đấu thầu nữa, và vẫn không cho doanh nghiệp nhập khẩu vàng thì giá vàng mà không tăng thì là chuyện lạ. Vì thế, lúc đó NHNN lại buộc phải nối lại và duy trì đấu thầu vàng, cái thòng lọng do chính mình làm ra thòng vào cổ mình.

Tóm lại, về chuyện vàng và NHNN, nhìn đi nhìn lại thì chỉ thấy một sự bế tắc (chủ động), một cái chết được báo trước, nếu không có một cuộc đổi mới (aka sửa sai) khác!

4. Cái đoạn tiếp theo về tỷ giá, đồng chí Hiếu cũng sai lầm hệt như một loạt các đồng chí khác. Tớ nói mãi nên chán không phang nữa.

5. Đọc đến cuối, mới phát hiện ra bài này là của tờ Đại biểu Nhân dân, tờ báo một thời thân thiết của tớ. Càng hết (muốn) bình luận.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).