Wednesday, 14 March 2018

CPTPP và triển vọng Mỹ quay lại (Bài đăng trên TBKTSG, 13/3/2018)


http://www.thesaigontimes.vn/270011/CPTPP-va-trien-vong-My-quay-lai.html

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) tưởng như đã chết sau khi Tổng thống Mỹ Trump tuyên bố rút Mỹ ra khỏi hiệp định này hồi đầu năm ngoái. Nhưng rồi 11 nước thành viên còn lại đã nỗ lực cùng nhau vượt qua những trở ngại và bất đồng để cùng đạt được một thỏa thuận thương mại tự do mới, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), mà không có sự hiện diện của Mỹ.
Vẫn cần Mỹ

Với những nước đang phát triển trong TPP như Malaysia, Việt Nam, Peru và Chile, điểm hấp dẫn chính của việc tham gia vào TPP là cánh cửa xuất khẩu rộng mở hơn sang thị trường Mỹ. Nên sự vắng mặt của Mỹ trong CPTPP đã làm mất đi cơ hội này.

Ngược lại, các nước này cũng thường không thấy “thoải mái” lắm với các khía cạnh khác của TPP, nhất là những điều khoản liên quan đến mua sắm Chính phủ, doanh nghiệp Nhà nước và quyền sở hữu trí tuệ, bởi chúng can thiệp vào và hạn chế chủ quyền của họ. Nhưng họ sẵn sàng chấp nhận những thiệt hại này để đổi lấy sự tiếp cận tự do vào thị trường Mỹ.

Nay, sự vắng mặt của Mỹ làm cho cán cân lợi ích-tổn hại thay đổi. Lợi ích tiềm năng đã bị giảm đáng kể trong khi tổn hại vẫn còn nguyên đó. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên mà trong văn bản CPTPP, có 22 điều khoản chỉ bị đình chỉ (trong số trên 1.000 điều khoản), chứ không phải là bị bãi bỏ. Điều này là bởi niềm hy vọng của 11 thành viên rằng Mỹ sẽ quay trở lại tham gia vào CPTPP một ngày nào đó trong tương lai.

Sự bất trắc của Mỹ

Niềm hy vọng trên dường như sẽ trở thành hiện thực khi ông Trump gần đây tuyên bố ý định quay trở lại tha gia TPP nếu Mỹ đạt được thỏa thuận thương mại “tốt hơn” cho Mỹ. Có thể ông sẽ nhận ra rằng không những TPP không chết như nhiều người từng dự báo khi Mỹ rũ bỏ TPP mà, ngược lại, nó đã hồi sinh (thành CPTPP) và các ngành xuất khẩu của Mỹ sẽ bị ảnh hưởng mạnh trên thị trường châu Á-Thái Bình Dương.

Ông Trump cũng có thể đã nhận ra rằng các thành viên hiện tại của CPTPP không mong muốn đến mức tuyệt vọng sự quay trở lại của Mỹ bởi gần đây có dấu hiệu cho thấy năm nước khác trong khu vực là Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines, Indonesia, và Thái Lan cũng muốn tham gia CPTPP.

Tương tự, dù Mỹ có hứa hẹn thay thế TPP bằng hàng loạt các hiệp định thương mại tự do song phương giữa Mỹ và các nước khác trong khu vực, nhưng thực tế hiện nay cho thấy hầu như chẳng có nước nào muốn “xếp hàng” để thương lượng song phương với Mỹ (vì thương lượng lại theo chủ trương của Mỹ thực chất là để giảm thâm hụt trong thương mại song phương của Mỹ với các thành viên khác).

Ngược lại, ông Trump gần đây đã và đang từng bước hiện thực hóa chủ nghĩa bảo hộ thương mại của mình. Nên thật khó tưởng tượng được Mỹ sẽ quay trở lại TPP khi không có những thay đổi “tốt hơn” cho quyền lợi của Mỹ thông qua các cuộc thương lượng lại.

Ngoài ra, sự bất trắc về chính sách thương mại của Mỹ thể hiện qua sự hay thay đổi đột ngột lập trường về thương mại cũng như sự mập mờ, khó hiểu về ý định, ý muốn và phát ngôn của ông Trump càng làm cho người ta khó tin tưởng việc Mỹ sẽ tiếp tục theo đuổi mối quan tâm mới này – thương lượng lại với các nước thành viên CPTPP.

Việc thương lượng lại khó khả thi

Theo đại diện của Nhật Bản, nước đã thế chân Mỹ tiếp tục sứ mệnh cổ súy thương mại tự do trong khu vực dẫn đến sự thành công của CPTPP, nếu Mỹ quay trở lại tham gia hiệp định, điều này không có nghĩa là 11 thành viên của hiệp định phải thương lượng lại với Mỹ. Bởi TPP là hiệp định trước đó đã được ký kết bởi 12 thành viên, trong đó có Mỹ.
Ngoài ra, bất cứ sự thay đổi nhỏ nào cũng làm ảnh hưởng trầm trọng đến việc thương lượng. 11 nước thành viên TPP đã phải rất nỗ lực cả một năm qua để sửa đổi lại hiệp định. Nên hiện nay, các nước này dường như không còn tâm trạng hay mong muốn thương lượng lại với Mỹ, đặc biệt khi phải phục hồi lại những điều khoản bị đình chỉ, đặc biệt là điều khoản về sở hữu trí tuệ.
Trên hết, sự ký kết thành công CPTPP cho thấy, trái với suy nghĩ chung của nhiều người trước đó, TPP đã không chết kể cả không có sự tham gia của Mỹ. Nói cách khác, sự tham gia của Mỹ không phải là không thể thiếu được cho bất cứ thỏa thuận thương mại tự do nào ở mức độ cao trong khu vực hoặc trên thế giới.
Trong khi các nước thành viên CPTPP đúng là có phấn khởi hơn trước những dấu hiệu về ý định quay trở lại tham gia TPP của Mỹ, những dấu hiệu này, như đã nói, bất trắc, không thuyết phục và đáng tin cậy. Quan trọng không kém, nếu năm nước khác trong khu vực như nêu ở trên, và thậm chí cả những nước ngoài khu vực như Anh, tham gia CPTPP và nâng tổng số thành viên lên 16+ thì quy mô kinh tế và tác động tích cực mang lại của CPTPP-16+ còn lớn hơn cả TPP-12, càng  làm lu mờ vai trò của Mỹ.
Như vậy, có thể thấy sự thương lượng lại với Mỹ sẽ không dễ dàng và cũng không được nhanh chóng khởi động. Do đó, sự tham gia của Mỹ như một thành viên mới của CPTPP sẽ khó trở thành hiện thực, ít nhất là trong tương lai gần. Các nước thành viên CPTPP không đợi chờ Mỹ; họ đã đạt được thỏa thuận cho một hiệp định mà rất khó khăn mới đạt được và sẽ tiếp tục tiến trình phê chuẩn tại các nước thành viên.

Tuesday, 6 March 2018

Một chính phủ rạch ròi, minh bạch (Bài đăng trên TBKTSG, 6/3/2018)

http://www.thesaigontimes.vn/269486/Mot-chinh-phu-rach-roi-minh-bach.html


Chính phủ Singapore mới đây đã công bố dự toán ngân sách cho năm tài khóa 2018 với một loạt điểm mới, “tốt” nhiều hơn “xấu”.

Về điểm “xấu”, nổi bật nhất là kế hoạch tăng thuế tiêu dùng dịch vụ và hàng hóa (GST) từ 7% lên 9% vào “một thời điểm nào đó trong khoảng thời gian” 2021 đến 2025. Chính phủ Singapore ước tính tăng GST sẽ giúp tăng thu thêm cho ngân sách khoảng 0,7% GDP hàng năm, và tiền thu được dùng để lấp khoảng cách thu chi trong tương lai.

Điểm khác biệt với Việt Nam là Singapore không tìm cách làm an lòng dân chúng về tác động tiêu cực của việc tăng GST bằng những câu nói khơi khơi kiểu như tăng thuế “tác động không đáng kể” đến đời sống dân cư (câu này được vận dụng cho hầu như bất cứ sự tăng lên về thuế, phí nào đó ở Việt Nam).

Thay vào đó, Singapore đưa ra những giải pháp thích hợp để giảm nhẹ tác động của tăng thuế lên bộ phận dân cư dễ tổn thương nhất. Những giải pháp này gồm Chính phủ chi trả thay GST cho dịch vụ giáo dục và y tế công cộng (được trợ giá), tăng mức tài trợ cho Quỹ Phiếu bù đắp GST (tính trung bình, Phiếu bù đắp GST giúp các gia đình có thu nhập thấp và người có tuổi giảm được khoảng một nửa số thuế GST họ đã phải trả hàng năm), thực thi gói bù trừ giúp cho công dân Singapore điều chỉnh được với sự tăng lên về GST này.

Một điểm “xấu” khác là Chính phủ tăng mức phí nộp bởi người chủ thuê giúp việc người nước ngoài từ 265 SGD lên 300 SGD cho người giúp việc thứ nhất và 450 SGD cho người thứ hai. Nhưng Chính phủ chỉ áp dụng mức phí 60 SGD cho gia đình nào có người già, trẻ con hoặc người tàn tật muốn thuê người giúp việc. Đổi lại, gia đình có người có tuổi muốn được mức ưu đãi này thì phải thỏa mãn điều kiện cao hơn là người có tuổi đó phải trên 67 tuổi, thay vì 65 tuổi như trước đây. Qua đây có thể thấy rõ chủ đích của Chính phủ Singapore là những gia đình có hoàn cảnh thì sẽ được giúp đỡ, còn thì Chính phủ không khuyến khích sự ỷ lại, lười biếng.

Trong danh sách những điểm “xấu” còn có thêm việc đánh thuế khí thải ở mức 5 SGD/tấn khí thải nhà kính cho những cơ sở xả thải trên 25.000 tấn/năm trong giai đoạn từ 2019 đến 2023 (mức này sẽ được xét lại vào năm 2023, có thể tăng lên đến 10 hoặc 15 SGD/tấn vào năm 2030). Ngược lại, Chính phủ cũng củng cố Quỹ Sử dụng hiệu quả năng lượng để giúp các công ty cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng, cắt giảm khí thải. Đồng thời, nhằm giảm bớt tác động của việc tăng thuế khí thải lên giá điện và gas (ước tính bình quân chi phí điện gas mỗi hộ gia đình sẽ tăng thêm 1%), Chính phủ tăng mức trợ cấp điện gas cho các hộ dân sống trong HDB thêm 20 SGD/năm từ 2019 đến 2021.

Chính phủ cũng tăng thuế lên người mua nhà (nhưng chỉ áp dụng với nhà trị giá trên 1 triệu SGD) và đồng thời tăng thuế thuốc lá thêm 10% nữa. Nhưng chắc chắn đây là những loại thuế được cổ vũ bởi đa phần người dân sở tại.

Ở chiều hướng ngược lại, về những điểm “tốt”, một điểm nhấn trong dự toán ngân sách của Singapore năm nay là “SG Bonus”, theo đó một phần trong số 9,6 tỷ SGD (khoảng 165 ngàn tỷ đồng) thặng dư ngân sách dự kiến cho năm 2017 sẽ được “chia” cho công dân Singapore từ 21 tuổi trở lên trong năm 2018 (mỗi người sẽ nhận được từ 100 SGD đến 300 SGD, tùy theo thu nhập của họ). Dự kiến việc này sẽ làm Chính phủ Singapore tiêu tốn 700 triệu SGD. Theo đại diện của Chính phủ, đây là một trong những cam kết hành động của Chính phủ nhằm giúp người dân chuẩn bị tốt hơn cho tương lai của mình, chăm sóc những đối tượng cần chăm sóc và làm phổ biến tinh thần cho đi.

Danh sách những điểm “tốt” còn kéo dài với những hành động cụ thể như tăng phần đóng góp của Chính phủ vào Quỹ tiết kiệm cho giáo dục (Edusave) để mỗi học sinh tiểu học nhận được 230 SGD (từ mức 200 SGD) và 290 SGD cho mỗi học sinh trung học (từ mức 240 SGD). Học bổng cho học sinh gia đình có thu nhập thấp cũng được nâng lên mức 900 SGD từ mức 750 SGD. Thêm vào đó, Chương trình bữa ăn học đường cũng cung cấp nhiều bữa ăn hơn học sinh trung học.

Về nơi ăn chốn ở, Chính phủ Singapore cũng tăng cường cải thiện điều kiện nhà ở cho dân chúng năm nay. Ví dụ, chương trình Trợ cấp nhà cửa để gia đình nào đó muốn mua căn hộ Chính phủ xây (HDB – đa phần người dân Singapore sống trong những căn hộ kiểu này) trên thị trường thứ cấp với mục đích để sống chung với bố mẹ hoặc con cái mình thì sẽ nhận được khoản trợ cấp một lần tăng lên tới 30.000 SGD. Chương trình này cũng được áp dụng với các hộ độc thân, mỗi người/hộ được hưởng 15.000 SGD – mà theo Chính phủ thì đây là đối tượng chủ yếu chăm sóc những thành viên còn lại trong gia đình. Chu đáo hơn, nếu cá nhân nào đó mua căn hộ HDB gần nơi bố mẹ mình sống thì sẽ được Chính phủ trợ cấp 10.000 SGD. “Gần” được định nghĩa cụ thể là trong phạm vi 4km.

Về chăm sóc sức khỏe và phát triển cộng đồng, các loại quỹ chăm sóc sức khỏe và phát triển cộng đồng sẽ được tổ chức lại hiệu quả hơn, nhận được thêm nhiều kinh phí cấp phát từ Chính phủ hoặc được ưu đãi về thuế.

Về phát triển kinh tế, Chính phủ tiếp tục gia hạn các chương trình như Đồng trả lương (Chính phủ cùng chi trả với doanh nghiệp để tăng lương cho nhân viên), dự tính sẽ tiêu tốn của Chính phủ thêm 1,8 tỷ SGD. Rồi Chương trình hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ tăng mức hoàn thuế lên tới 40% cho năm 2018 và kéo dài thêm sang năm 2019, dự kiến cũng lấy đi thêm 475 triệu SGD từ ngân sách. Ngoài ra còn hàng loạt các quỹ và chương trình tăng cường trợ giúp cụ thể cho các doanh nghiệp, nhất là các start-up, và người lao động nhằm tạo ra các chuyển biến mới cho nền kinh tế.

Về định hướng ngân sách trong tương lai, Chính phủ Singapore tuyên bố rõ mặc dù hiện tại ngân sách đang ở vị thế vững chắc nhưng nếu họ không có các giải pháp thực hiện ngay từ bây giờ thì ngân sách sẽ bị thâm hụt vào thập kỷ tới. Bởi vậy, Chính phủ sẽ phải nỗ lực quản lý thận trọng mức tăng trưởng chi tiêu và tối đa hóa lợi ích thu được từ mỗi đô la chi ra.

Giải pháp cụ thể cắt giảm chi tiêu là giảm tốc độ tăng chi ngân sách của các bộ từ 40% GDP còn 30% GDP từ năm 2019.
Tóm lại, có thể thấy qua dự toán ngân sách của Singapore một Chính phủ có tầm nhìn dài hạn, hết sức minh bạch, công tâm và có trách nhiệm với từng đồng tiền thuế của dân, thực sự vì dân và luôn quan tâm đến phúc lợi toàn diện của dân bằng những hành động cụ thể và thiết thực, đồng thời cũng rất thân thiện với môi trường, với doanh nghiệp. Một điểm nữa cần được nhìn nhận và học hỏi từ Chính phủ Singapore là song song với những hành động tăng thuế phí luôn là những giải pháp rạch ròi, xác đáng nhằm giảm nhẹ tác động tiêu cực lên những đối tượng cần được bảo vệ và khuyến khích phát triển vì lợi ích chung.

Sunday, 4 March 2018

Luẩn quẩn hồi sinh các dự án “đắp chiếu” (Bài đăng trên TBKTSG, 4/3/2018)

http://www.thesaigontimes.vn/269481/Luan-quan-hoi-sinh-cac-du-an-dap-chieu.html

Nhà máy Đạm Ninh Bình, một trong 12 dự án ngàn tỉ thua lỗ, “đắp chiếu” của Bộ Công Thương mới đây đã được hồi sinh và đi vào hoạt động theo phương án xử lý các dự án thua lỗ mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt tháng 10-2017.

Tuy nhiên, căn cứ vào những thông tin sơ bộ mà ban giám đốc nhà máy cũng như lãnh đạo Bộ Công Thương cho biết thì có thể thấy sự hồi sinh và hoạt động của nhà máy cũng chỉ tương tự như việc duy trì sự sống của một bệnh nhân bằng các ống truyền dẫn oxy và dinh dưỡng mà nếu rút ra thì bệnh nhân sẽ không thể tự thở, tự sống được.

Cụ thể, giá bán đạm urê của nhà máy hiện là 6-6,3 triệu đồng/tấn, chỉ cao hơn chi phí biến đổi, là những khoản chi phí thay đổi theo quy mô sản xuất hoặc doanh số, khoảng 0,5 triệu đồng/tấn (tức là chỉ cao hơn khoảng 9% chi phí biến đổi)(1). Lưu ý thêm rằng để hòa vốn thì ngoài chi phí biến đổi, còn cần phải tính thêm vào đó chi phí cố định phân bổ trên một đơn vị sản phẩm bán ra, gồm các loại chi phí như tiền thuê đất, thuế tài sản, bảo hiểm, trả lãi và gốc vay (ví dụ như các khoản đầu tư ban đầu), khấu hao tài sản cố định, tiền lương nhân viên và cán bộ quản lý, chi phí quảng cáo, đào tạo... Nếu cộng đủ tất cả các loại phí cố định này (dù có cắt giảm những hạng mục như quảng cáo, đào tạo) thì chắc là nhà máy hoạt động khó có hiệu quả, dù ở đây chúng ta không thể tính toán bài toán lỗ lãi một cách chi tiết vì không có số liệu.

Đó là chưa kể là nhà máy lại phải tiếp tục phụ thuộc hoàn toàn vào tiền vay khách hàng và ngân hàng để có nguồn vốn lưu động mua vật tư và chi trả các khoản “đặng chẳng đừng” như đại tu một số bộ phận dây chuyền, máy móc (mới hoạt động sao đã đại tu?). Theo ban giám đốc, nhà máy cần vay 350 tỉ đồng để duy trì sản xuất. Nếu giả sử có ngân hàng nào đó, dưới áp lực của các cơ quan chức năng, chấp nhận mạo hiểm cho nhà máy vay số tiền này thì tiền trả lãi vay sẽ càng làm tăng gánh nặng tài chính.


Trong bối cảnh triển vọng mờ mịt của nhà máy, Bộ Công Thương vẫn hạ quyết tâm không để nhà máy ngừng hoạt động(2). Lý do được đưa ra chủ yếu là những yếu tố phi thị trường như sợ làm tổn thương truyền thống tự hào của cán bộ, công nhân viên, của ngành công thương, của người dân, của lãnh đạo tỉnh Ninh Bình...
Tuy nhiên, giải pháp (nhiệm vụ) mà Bộ Công Thương chỉ ra cho nhà máy thực hiện chủ yếu chỉ là giải pháp khắc phục các tồn tại về mặt kỹ thuật như phải làm chủ công nghệ, vận hành an toàn, tránh để xảy ra sự cố như sự cố đóng máy kỹ thuật trước Tết (tức là cho đến thời điểm này vẫn chưa làm chủ được công nghệ và vận hành thông suốt?), hướng tới nâng phụ tải công suất lên trên 80%...
Việc tập trung vào giải pháp kỹ thuật, nâng sản lượng tuy sẽ giúp hạ giá thành sản xuất (chủ yếu do hạ chi phí cố định tính trên một đơn vị sản phẩm) nhưng chắc chắn vẫn không thể giúp nhà máy thoát được tình trạng khó khăn, bởi chỉ riêng phí biến đổi đã chiếm trên 90% giá bán, và ngay cả Bộ Công Thương cũng phải chỉ ra rằng giá thành khi vận hành từ than đến đạm chỉ lãi khoảng 400.000-500.000 đồng/tấn urê, chưa trừ các chi phí như lãi suất ngân hàng, nhân công... tức là một con số quá nhỏ, quá mong manh, tương tự như khi so sánh giữa giá bán với chi phí cố định và biến đổi phân tích ở trên.
Ngoài ra, cũng phải lưu ý rằng để làm chủ công nghệ, hoạt động trơn tru thì nhà máy vẫn phải tiêu tốn thêm nhiều tiền để đại tu, thay máy móc mới, thiết bị và đào tạo nhân công... như một phần trong gói vay vốn 350 tỉ đồng mà nhà máy đang đề nghị Bộ Công Thương “có ý kiến hỗ trợ” nêu trên. Như vậy, phương án xử lý, phục hồi nhà máy này vẫn vấp phải vòng luẩn quẩn chi phí và hiệu quả sản xuất.
Để phá vỡ vòng luẩn quẩn này thì cần thiết Chính phủ phải tiếp tục rót vốn (lưu động) hoặc bảo lãnh vay vốn cho nhà máy với hy vọng mong manh rằng nhà máy sau đó sẽ tự đứng vững và duy trì sản xuất được (chưa tính đến chuyện có lãi và trả được nợ vay lãi và gốc). Nhưng mặt khác, Chính phủ đã có chủ trương không dùng ngân sách để xử lý các dự án thua lỗ này, cũng như Bộ Công Thương đã nhấn mạnh rằng nhà máy “phải tự cứu mình”. Như vậy, quả bóng nay lại nằm trong chân của ban giám đốc Nhà máy Đạm Ninh Bình, ít nhất là trên danh nghĩa, trong khi giải pháp khả thi duy nhất mà ban giám đốc này có thể nghĩ ra và đề xuất là phải có tiền (tiếp tục được vay vốn).
Sự “bùng nhùng” nói trên một lần nữa cho thấy việc xử lý các dự án thua lỗ, “đắp chiếu” không nên, không chỉ dừng lại ở việc dùng nỗ lực với “quyết tâm chính trị” để làm vực dậy những “xác sống” vốn đã sai (và trở nên tệ hại hơn bởi nạn tham nhũng) ngay từ khâu thiết kế đến xây dựng và vận hành, không thể tồn tại một cách bình thường và lành mạnh trong môi trường cạnh tranh của kinh tế thị trường. Để tránh khả năng những “xác sống” này tiếp tục hút cạn nguồn lực của nhà nước thì phải dũng cảm xóa bỏ chúng nếu cần thiết.
(1) https://laodong.vn/kinh-te/de-nghi-vay-them-350-ty-dong-de-cuu-nha-may-dam-ninh-binh-592313.ldo
(2) https://laodong.vn/kinh-te/bo-truong-cong-thuong-nha-may-dam-ninh-binh-hay-tu-cuu-minh-592335.ldo

Saturday, 3 March 2018

Một số kinh nghiệm cá nhân về chuyện đăng bài báo khoa học (Bài đăng trên TBKTSG, 3/3/2018, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/td/269596/Mot-so-kinh-nghiem-ca-nhan-ve-chuyen-dang-bai-bao-khoa-hoc.html


Không phải cho hiện nay mà đã từ lâu dư luận nhiều phen dậy sóng về chuyện làm khoa học và xuất bản các bài báo, công trình nghiên cứu khoa học trên các tạp chí khoa học nước ngoài của một số cá nhân ở Việt Nam. Ngoài những vấn đề như đạo văn, còn nổi lên vấn đề xuất bản trên các tạp chí “ngụy” khoa học – không có trong những cơ sở dữ liệu về các tạp chí khoa học có uy tín (ví dụ Scopus) hoặc có nhưng sau đó đã bị loại bỏ vì bị phát hiện là tạp chí “ngụy” khoa học.
Từ kinh nghiệm bản thân là một người đã có một số bài nghiên cứu được đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế nghiêm túc trong thời gian vài năm làm nghiên cứu sinh Tiến sỹ và giảng dạy chính thức tại một trường đại học bên Nhật, cũng như một người đã và đang được mời làm thành viên ban biên tập hoặc người đọc phản biện kín cho một số tạp chí khoa học trong và ngoài nước, tôi muốn góp đôi lời xung quanh chuyện đăng bài trên tạp chí khoa học.

Trước tiên, như đã nói, là một người đã từng xuất bản các bài nghiên cứu trên các tạp chí khoa học nghiêm túc nên tôi rất thấu hiểu những khó khăn để bài nghiên cứu của mình cũng như  của các tác giả khác được đăng trên các tạp chí khoa học, nhất là những người đang làm công tác nghiên cứu, giảng dậy ở Việt Nam, không ít trong số đó gặp trở ngại lớn do trình độ tiếng Anh có hạn. Bởi vậy, mỗi khi đọc được một thông tin liên quan đến  một nhà nghiên cứu khoa học nào đó trong nước đã xuất bản được một bài trên tạp chí khoa học quốc tế nào đó (nhất là trong lĩnh vực kinh tế như của tôi), tôi thường cố gắng tìm đọc với thái độ trân trọng xen lẫn khâm phục.
Cách đây chừng một năm, nhân một dịp đang phải tìm thông tin liên quan đến ngành sữa của Việt Nam để phục vụ cho công việc chuyên môn tại nơi làm việc ở Singapore, tôi tìm được link dẫn đến lý lịch khoa học của một vị Tiến sỹ hiện đang là Phó Giáo sư, Phó trưởng Khoa kinh tế và kinh doanh quốc tế tại một trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh, cho biết đã xuất bản một vài bài nghiên cứu trên tạp chí khoa học nước ngoài, và anh còn là giáo sư thỉnh giảng của các đại học tại Mỹ, Nhật. Rất ấn tượng với những thành tích này, tôi lần tìm đọc các bài nghiên cứu của anh trên các tạp chí nước ngoài, gồm tạp chí “International Journal of Managing Value and Supply Chains”, “Journal of Globalization Studies”, “Journal of Sustainability Science and Management”, và “Economic Annals”.

Các tạp chí trên, căn cứ vào thông tin có trên trang chủ, cái thì có trụ sở tại Nga, cái ở Ukraina, cái ở Malaysia và có cái thì như là “công dân toàn cầu” vì không thấy có thông tin liên quan. Cũng có cái được giới thiệu là có trong các cơ sở dữ liệu như Scopus, nhưng cũng có cái chẳng thấy có bất kỳ thông tin liên quan nào. Hầu hết tất cả các tạp chí này đều được giới thiệu là tạp chí có phản biện, người đọc tiếp cận và đọc bài miễn phí. Có tạp chí thì nêu rõ tác giả có bài đăng thì phải nộp 120 USD lệ phí xuất bản, mặc dù không cần phải tốn tiền để nộp bài.
Ngoài nội dung rất đáng bị phê phán vì hầu như không có những phát hiện và đóng góp mới, có giá trị về học thuật, với lối hành văn như của một phóng viên đưa tin thời sự hàng ngày, điều quan trọng mà một người đọc có trình độ tiếng Anh kha khá và từng “viết lách”, có thể phát hiện ra ngay từ những bài nghiên cứu của tác giả này là tiếng Anh cũng như cách trình bày vấn đề của anh có rất nhiều “sạn”. Tôi thậm chí có thể đoán được đoạn nào anh trích dẫn, “mượn” của người khác, đoạn nào là của anh, căn cứ vào sự khác biệt về chất lượng tiếng Anh và văn phong của những đoạn này.

Có nhiều người sẽ cho rằng ngôn ngữ không phải là chuyện quan trọng, miễn là chuyển tải được ý muốn của người viết. Nhưng, ít nhất với tôi, chuyện ngôn ngữ có nhiều “sạn” thể hiện trên một tạp chí lại nói lên tất cả về chất lượng và sự nghiêm túc cũng như giá trị của tạp chí đó.
Một vấn đề liên quan khác mà nhiều người ở Việt Nam hay viện dẫn như là một trở ngại để xuất bản được các nghiên cứu của mình trên tạp chí quốc tế là vấn đề chi phí. Quả thật, như nêu ở trên, có nhiều tạp chí yêu cầu người nộp bài phải trả phí nộp bài và/hoặc phí xuất bản. Nhưng cần lưu ý rằng có rất nhiều tạp chí nghiêm túc, có tiếng tăm không yêu cầu người viết phải nộp bất cứ thứ lệ phí nào để có bài được xuất bản. Và cũng chính vì muốn tiết kiệm ngân sách là một trong những lý do tôi đã chủ trương tìm đến các tạp chí loại này để xuất bản các bài nghiên cứu của mình. 

Rồi nữa, nhiều người cũng lấy lý do là nghiên cứu khoa học thì sẽ tốn kém để biện minh cho việc không xuất bản được trên các tạp chí quốc tế. Nhưng ít nhất với tôi, trong lĩnh vực kinh tế, một vài nghiên cứu được tiến hành khi còn là nghiên cứu sinh mà chẳng hề tốn kém gì, đòi hỏi phương tiện gì ngoài sách, tạp chí ở thư viện của trường, điều mà hiện nay nhiều trường đại học và cơ sở nghiên cứu của Việt Nam hoàn toàn đáp ứng tốt.
Với những góp nhặt vụn vặt từ kinh nghiệm bản thân nói trên, tôi cho rằng cần phải rất thận trọng khi đánh giá thành tích nghiên cứu của các cá nhân kể cả khi họ có bài đăng trên tạp chí bằng ngoại ngữ, kể cả khi tạp chí đó xuất hiện trong các cơ sở dữ liệu tra cứu khoa học phổ biến trên thế giới. Nhiều trong số những tạp chí này đáng bị gọi là “ngụy” khoa học. Nói cách khác, không nên phiến diện khi cho rằng chỉ cần có bài đăng trên tạp chí khoa học nước ngoài có trích dẫn là đủ để xét duyệt và công nhận một cá nhân trong một vấn đề nào đó liên quan đến khoa học. Ngoài ra, việc nghiên cứu và xuất bản công trình khoa học ra quốc tế là một việc không đơn giản nhưng không  phải là một việc khó hay không thể nếu chỉ xét từ góc độ chi phí “làm” khoa học.

Monday, 26 February 2018

Vụ khách hàng bị mất tiền ở Eximbank, lỗi trước tiên vẫn thuộc về ngân hàng (Bài đăng trên CafeF, 27/2/2018, bản gốc)

http://cafef.vn/chuyen-gia-vu-khach-hang-bi-mat-tien-o-eximbank-loi-truoc-tien-van-thuoc-ve-ngan-hang-20180227120053352.chn

Một khách hàng VIP của Eximbank đã bị một cán bộ lãnh đạo chi nhánh của ngân hàng này chiếm đoạt 245 tỷ đồng từ năm 2014.
Đáng nói là dường như ngân hàng này mới phát hiện ra vụ việc vào năm 2017. Điều này là suy từ thông tin trên báo chí: “Đến năm 2017, khi phát hiện sự việc, Eximbank đã chủ động gặp bà Bình để tìm hướng tháo gỡ và cũng chính nhà băng này tố cáo ông Hưng ra cơ quan điều tra C44” (1).

Do người đại diện của Eximbank đã thừa nhận rằng “Vụ lừa đảo là có thật” (1), cũng như trách nhiệm không thể thoái thác với khoản tiền bị đánh cắp này: “Eximbank không có chủ trương trì hoãn hay né tránh trách nhiệm trả lại tiền cho khách hàng” (2), nên trước tiên cần phải chỉ ra sự yếu kém (nếu không phải là vô trách nhiệm) trong hệ thống quản trị hoạt động và phòng ngừa rủi ro của ngân hàng này khi đã để cho một vụ việc nghiêm trọng như vậy xảy ra nhưng không được phát hiện và giải quyết kịp thời và ổn thỏa trong suốt cả mấy năm sau đó. Thậm chí, nghi can chính của vụ việc vẫn còn làm việc bình thường cho đến tận tháng 2/2017 là thời điểm người này xin nghỉ việc tại Eximbank rồi bỏ trốn khỏi Việt Nam (3). Chỉ riêng hai chuyện này, nếu đúng như vậy, đã là quá đủ để Eximbank phải chủ động nhận lỗi và bồi thường thỏa đáng cho người bị hại mà không cần phải để vụ việc vỡ lở, có thể gây hậu quả trầm trọng hơn cả về tài chính lẫn uy tín của ngân hàng này.

Nhưng đáng tiếc là ngân hàng này đã bỏ lỡ thời điểm thuận lợi nhất để thương lượng với người bị hại một khoản đền bù thích hợp nhằm không những giảm thiểu thiệt hại về tài chính cho ngân hàng  mà còn làm giảm những thiệt hại khó có thể đo đếm bằng tiền khác như sứt mẻ uy tín và phơi bầy rõ những yếu kém trong hoạt động của mình khi vụ việc bị vỡ lở, công khai cho báo chí và người dân biết.

Dù có thể còn nhiều chi tiết không được biết rõ ràng nhưng sự yếu kém (hoặc vô trách nhiệm) của ngân hàng này là nguồn gốc của vụ việc nên họ không thể thoát được trách nhiệm, dù có đưa ra một số lý do biện minh không có giá trị như khách hàng chỉ muốn tiếp xúc với một mình nghi can.  Ngay cả lý do Eximbank là ngân hàng niêm yết nên tuân thủ các quy định của một công ty niêm yết cũng là không xác đáng khi bản thân những người điều hành ngân hàng nếu nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề thì cần chủ động giải quyết ổn thỏa trong phạm vi quyền hạn hợp pháp của mình mà không cần phải chờ báo cáo hay giải trình với cổ đông.


Cũng cần lưu ý thêm là khi cơ quan chức năng hoặc tòa án đã ra những phán quyết bất lợi cho ngân hàng thì dù cổ đông của ngân hàng không đồng ý thì ngân hàng vẫn phải chấp hành những phán quyết này. Do đó, việc Eximbank viện dẫn chuyện phải giải trình với cổ đông như là lý do để không giải quyết vụ việc sớm hơn cũng là không hợp lý. Mà cho dù thực sự cần thiết phải như vậy thì tại sao ban lãnh đạo ngân hàng này đã không báo cáo vấn đề trong các đại hội cổ đông vừa qua hoặc không tổ chức những đại hội cổ đông bất thường để có hướng xử lý vụ việc này?
Bởi vậy, có thể nói là Eximbank không thương lượng (thành công) với khách hàng để đạt được một mức bồi thường ổn thỏa, ít gây tổn hại nhất cho Eximbank trên nhiều mặt đã, đang và sẽ tiếp tục gây tổn hại cho ngân hàng. Để vụ việc vỡ lở và phải mang nhau ra đến tòa thì trước mắt hậu quả đã thấy ngay là vốn hóa của ngân hàng này đã “bốc hơi” tới gần 500 tỷ đồng ngày 23/2. Và rốt cuộc thì việc bồi thường sẽ cũng vẫn cứ phải xảy ra, bởi vì nguồn gốc của vụ việc bắt nguồn từ sự yếu kém của ngân hàng mà nhờ đó nhân viên của họ mới có thể lừa đảo được một cách dễ dàng như vậy.
Ngoài ra, cũng cần nói thêm rằng những sai lầm và lỗ hổng trong quản trị của ngân hàng như nói ở trên nếu là ở nước ngoài sẽ là những vi phạm nghiêm trọng các quy định kiểm soát hoạt động nội bộ, có thể dẫn đến những hình phạt nghiêm khắc của pháp luật khi để xảy ra hoặc có thể dẫn đến hậu quả lớn cho khách hàng, cho bản thân ngân hàng và cho toàn bộ hệ thống. Nên ở đây cũng cần đặt vấn đề về trách nhiệm liên đới của cơ quan quản lý chức năng khi đã để xảy ra liên tục những vụ việc tương tự (nhân viên ngân hàng lừa đảo khách hàng) ở Việt Nam trong vài năm qua mà đã không có biện pháp hữu hiệu ngăn chặn, ngoài việc mới đây chỉ gửi văn bản yêu cầu các tổ chức tín dụng tăng cường an toàn tiền gửi, một hành động quá muộn và chỉ là hình thức.
---------------------
(1) https://news.zing.vn/pho-giam-doc-cn-eximbank-chiem-245-ty-cua-khach-hang-roi-bien-mat-post820974.html
(2) http://cafef.vn/vu-pho-giam-doc-eximbank-cuom-301-ti-bo-tron-nguoi-bi-hai-len-tieng-20180223132940891.chn
(3) http://doanhnghiepvn.vn/von-hoa-eximbank-giam-gan-500-ty-sau-tin-mot-sep-chi-nhanh-om-tien-bo-tron-d119163.htm

Sunday, 25 February 2018

Giải quyết bằng thương lượng "kín" (Bài đăng trên TBKTSG, 25/2/2018)

http://www.thesaigontimes.vn/td/269314/Giai-quyet-bang-thuong-luong-kin.html

Từ vụ việc một khách hàng VIP của Eximbank bị mất 245 tỉ đồng bị cho là do một cán bộ lãnh đạo chi nhánh của ngân hàng này chiếm đoạt khiến tôi nhớ đến một câu chuyện cụ thể cũng liên quan đến sự cố quản trị ngân hàng diễn ra ở Singapore và hai bên (ngân hàng và khách hàng) đã giải quyết thông qua hình thức thương lượng chứ không chờ đến phán quyết của tòa án.
Xin kể một vụ việc mà người viết được biết cụ thể tại Singapore. Một đồng nghiệp của tôi vay qua thẻ tín dụng của một ngân hàng lớn của Mỹ tại Singapore một khoản vay kỳ hạn 6 tháng, lãi suất là 2%/năm, trả tối thiểu 1% số dư hàng tháng. Nhân viên ngân hàng này đã sai ngay từ đầu khi không mở cho khách hàng một tài khoản (thẻ tín dụng) riêng để hạch toán riêng khoản vay này, mà sử dụng lẫn lộn một tài khoản thẻ hiện tại của khách hàng. Tiếp đó, hệ thống tính toán hóa đơn của ngân hàng đã không tách bạch số dư còn lại của khoản vay với những khoản chi tiêu khác của khách hàng trong tài khoản thẻ này để tính lãi phù hợp.


Tệ hại hơn, dù khách hàng đã trả vào tài khoản thẻ này nhiều đợt, mỗi đợt có giá trị lớn hơn nhiều khoản phải trả tối thiểu 1% số dư nợ vay hàng tháng (và lớn hơn nhiều số dư nợ chi tiêu khác của khách hàng phát sinh hàng tháng), nhưng ngân hàng này vẫn tính lãi suất phạt 26%/năm cho những khoản chi tiêu khác của khách hàng trong tài khoản thẻ. Chưa hết, ngân hàng đã đơn phương chấm dứt gửi bản sao kê giấy cho khách hàng, trong khi dịch vụ ngân hàng điện tử (online banking) thì lại không cho khách hàng biết một cách cụ thể và rõ ràng số tiền phải trả tối thiểu hàng tháng (khách hàng cũng không biết do ngân hàng đã trộn lẫn khoản vay với những khoản chi tiêu khác).
Người đồng nghiệp nói trên chỉ phát hiện ra sự sai sót này khi tất toán khoản vay vào tháng thứ 6. Anh đã yêu cầu ngân hàng giải trình cụ thể cách tính toán và chỉ ra những sự bất hợp lý và lỗ hổng trong hệ thống của ngân hàng này, như nêu ở trên. Ngân hàng này sau đó đã xin lỗi, thừa nhận làm sai và hứa hoàn trả lại mọi khoản tính thừa mà khách hàng đã phải trả.


Nhưng bản thân khách hàng vì quá bị ức chế với cung cách, chất lượng làm việc, phục vụ khách hàng tệ hại không thể tưởng tượng được ở một ngân hàng toàn cầu như vậy nên đã ra “tối hậu thư”, yêu cầu ngân hàng phải bồi thường một khoản tiền. Anh nói rõ là cho phép ngân hàng có 2 ngày làm việc để xem xét lời yêu cầu của anh. Sau thời hạn này, nếu ngân hàng không trả lời hoặc không chấp nhận yêu cầu thì anh sẽ tố cáo lên cơ quan chức năng của Singapore hoặc kiện ra tòa. Rốt cục, ngân hàng này đã liên hệ lại và thương lượng để trả một mức bồi thường thấp hơn.
Điều rút ra ở vụ việc này là mặc dù ở thế yếu, khi biết một mình sẽ “đọ” lại cả một đội ngũ chuyên gia với luật sư hùng hậu của ngân hàng nếu có phải khiếu nại vụ việc lên cơ quan chức năng hoặc đem vụ việc ra tòa nhưng anh đồng nghiệp biết rõ cái lý đúng nằm về phía mình cũng như sự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình từ pháp luật, nên đã không ngần ngại đưa ra lời yêu cầu ngân hàng.


Phía ngân hàng cũng nhận thức rõ được sai lầm và yếu kém của mình, cũng như các hậu quả có thể phải hứng chịu (vi phạm nghiêm trọng các quy định an toàn hoạt động trong ngành, có thể dẫn đến những hình phạt hà khắc của nhà chức trách) nên đã không tìm cách “chối quanh” mà chủ động thương lượng mức bồi thường với khách hàng, thay vì để vụ việc vỡ lở và cuối cùng vẫn phải chịu thiệt hại lớn hơn ở nhiều mặt.
Quay trở lại với câu chuyện khách hàng VIP của Eximbank bị mất 245 tỉ đồng trong tài khoản tiết kiệm, cơ quan điều tra đã có kết luận là do một cán bộ lãnh đạo chi nhánh của ngân hàng này tại TPHCM chiếm đoạt, đối tượng này hiện đã bỏ trốn ra nước ngoài và đang bị truy nã. Trả lời báo giới, một vị lãnh đạo cấp cao của Eximbank đã cho biết ngân hàng hoàn toàn hiểu những búc xúc của khách hàng bởi đây là số tiền rất lớn và vụ việc đã kéo dài cả năm, nhưng ban điều hành cũng như HĐQT của Eximbank không thể giải quyết vụ việc chỉ dựa trên kết luận điều tra bởi về mặt pháp lý, kết luận của cơ quan điều tra không phải là phán quyết cuối cùng. Do vậy, hai bên cần sớm phối hợp để đưa vụ việc ra tòa thực hiện theo đúng trình tự tố tụng. Khi tòa án có phán quyết ngân hàng có trách nhiệm trả số tiền này thì Eximbank sẽ trả ngay.


Từ câu chuyện xử lý sự cố của các ngân hàng ở nước ngoài, có thể thấy Eximbank đã có thể lựa chọn phương án thương lượng với khách hàng để đạt được một mức bồi thường ổn thỏa, ít gây tổn hại nhất cho ngân hàng trên nhiều mặt. Để vụ việc công khai, ra đến tòa thì thường thiệt thòi cho ngân hàng nhiều hơn về mặt uy tín, thương hiệu.

Tuesday, 20 February 2018

Giải pháp nào cho Việt Nam trong "cuộc chiến" thép? (Bài đăng trên TBKTSG, 20/2/2018)

http://www.thesaigontimes.vn/269216/Giai-phap-nao-cho-Viet-Nam-trong-cuoc-chien-thep.html

Bộ Thương mại Mỹ đã đề xuất một số lựa chọn chính sách cho Tổng thống Trump gồm đánh thuế cao hoặc áp hạn ngạch lên thép và nhôm nhập khẩu từ thế giới vào Mỹ. Nếu các lời đề xuất này được lựa chọn, hoạt động xuất khẩu thép (và nhôm) của Việt Nam chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng mạnh, bởi mức thuế dự kiến sẽ tăng rất cao so với hiện tại hoặc bị giới hạn bởi hạn ngạch (thấp hơn lượng nhập khẩu năm 2017).


Cụ thể, về xuất khẩu thép của Việt Nam sang Mỹ, nếu như năm 2014, Việt Nam mới chỉ xuất được 35 ngàn tấn sắt thép các loại sang Mỹ trong tổng số 2,6 triệu tấn xuất khẩu ra thế giới trong năm đó (chiếm 1,3% trong tổng lượng sắt thép Việt Nam xuất ra thế giới). Nhưng con số này đã nhảy vọt lên nhiều lần trong năm 2015 (207 ngàn tấn và 8,1%) và đặc biệt là năm 2016 (931 ngàn tấn và 26,8%) trước khi dịu đi vào năm 2017 (523 ngàn tấn và 11,1%).
 
Xuất khẩu sắt thép và kim loại của Việt Nam sang Mỹ và ra thế giới. Nguồn: Tổng cục Hải quan

Cần lưu ý rằng năm 2015 và 2016 là thời kỳ khó khăn của ngành thép thế giới, chủ yếu bị tác động mạnh bởi sản lượng dư thừa quá lớn của Trung Quốc, buộc nước này tìm đường xuất khẩu ra thế giới, gây áp lực giảm giá sắt thép toàn cầu, đẩy không ít nhà sản xuất thép thế giới lâm vào cảnh thua lỗ trầm trọng. Chính phủ một số nước đã phản ứng lại cơn sóng nhập khẩu từ Trung Quốc bằng các biện pháp thuế quan hà khắc hơn lên thép nhập khẩu từ Trung Quốc.
Sau đó, một số nước như Mỹ và EU đã cáo buộc Trung Quốc “lách” các hàng rào thuế quan này bằng cách “mượn đường”, xuất khẩu thông qua một nước thứ ba, nơi được hưởng mức thuế thông thường khi xuất khẩu vào Mỹ. Việt Nam nổi lên như là một trong những điểm trung chuyển cho thép Trung Quốc trước khi vào các thị trường này, theo các cáo buộc của họ.
Quả thật, khó có thể giải thích một cách thỏa đáng sự tăng vọt về lượng xuất khẩu sắt thép của Việt Nam trong các năm 2015-16 vào Mỹ bởi năng lực sản xuất của các nhà sản xuất trong nước trong những năm này không có thay đổi đột biến, trong khi nhu cầu trong nước vẫn tăng trưởng khả quan. Và cũng là một sự trùng hợp “thú vị” khi nhập khẩu sắt thép cả Trung Quốc vào Việt Nam trong những năm này cũng tăng mạnh đến mức mà Việt Nam cũng phải xem xét và áp đặt một số biện pháp bảo hộ thép nội địa. Nên cũng khó có thể phủ nhận hoàn toàn khả năng một con số không nhỏ trong lượng sắt thép xuất khẩu sang Mỹ từ Việt Nam là có nguồn gốc từ thép Trung Quốc, ngoài khả năng nữa là có nhà sản xuất Việt Nam đã bán phá giá sản phẩm của mình vào thị trường Mỹ. Đây chính là những lý do để Mỹ đã và đang tiếp tục xem xét áp đặt các biện pháp trừng phạt lên thép xuất khẩu từ Việt Nam.
Trước viễn cảnh đối mặt với những biện pháp trừng phạt mới của Mỹ, Việt Nam khó có thể (hoặc không nên) học tập Trung Quốc hoặc một số nước khác đe dọa trả đũa Mỹ bằng các biện pháp tương tự áp lên hàng xuất khẩu của Mỹ vào Việt Nam. Bởi, trước tiên, Việt Nam phải chứng minh là “vô tội”, toàn bộ lượng thép xuất khẩu sang Mỹ là có nguồn gốc nội địa (luyện và gia công tại Việt Nam) chứ không phải chỉ là nhập khẩu từ Trung Quốc hoặc một nước nào đó rồi chế biến “qua loa” để xuất đi. Và các nhà sản xuất Việt Nam cũng phải chứng minh là sản phẩm của họ có giá thành rất cạnh tranh dù tuân thủ theo các điều kiện thị trường.
Tiếp đó, nếu Việt Nam muốn trả đũa thì cần hiểu rằng Việt Nam đang xuất siêu quá lớn với Mỹ (năm 2017, Việt Nam nhập khẩu 9,2 tỉ đô la từ Mỹ trong khi xuất khẩu sang Mỹ tới 41,6 tỉ đô la trên tổng số 214 tỉ đô la tổng kim ngạch xuất khẩu). Nói cách khác, thị trường Mỹ quá lớn, quá quan trọng với Việt Nam để Việt Nam chơi đòn ăn miếng trả miếng với Mỹ.
Ngoài ra, một cuộc chiến thương mại với Mỹ như cách các nước lớn khác thực hiện sẽ gây thiệt hại trực tiếp cho nền kinh tế Việt Nam trên giác độ là nó làm tăng chi phí nhập khẩu cho nhà sản xuất và người tiêu dùng Việt Nam. Sẽ có người lập luận rằng phần chi phí tăng lên này sẽ chảy vào ngân sách nhà nước dưới dạng thuế nhập khẩu nên chung quy lại thì cũng không thiệt thòi gì nhiều lắm.
Lập luận này dù có thể đúng một phần nào đó nhưng nhà sản xuất và nhập khẩu chắc chắn vẫn sẽ phản ứng lại bằng cách chuyển sang nhập khẩu các mặt hàng tương ứng từ những nước khác có thuế nhập khẩu thấp hơn. Nhưng do bởi tổng chi phí nhập khẩu về đến Việt Nam từ những nước khác sẽ vẫn cao hơn (do giá bán ban đầu cao hơn so với giá bán ở Mỹ, giả sử chất lượng tương đương) nên rốt cuộc chi phí sản xuất và tiêu dùng ở Việt Nam vẫn bị đội lên, tác động tiêu cực đến năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam, trong khi lạm phát trong nước chịu áp lực tăng lên.
Trong bối cảnh này, điều Việt Nam có thể làm được là dùng giải pháp “mềm”, chứng minh cho Mỹ thấy sắt thép xuất khẩu của Việt Nam trên cơ sở cạnh tranh công bằng, có đầy đủ yếu tố thị trường, không phá giá, không gian lận thương mại (gồm để thép Trung Quốc đội lốt thép Việt Nam)… Về phía mình, Việt Nam cũng phải thắt chặt kiểm soát chất lượng, xuất xứ, chống gian lận thương mại và trừng phạt nặng tay những nhà sản xuất, xuất khẩu vi phạm.
Nếu đã thực sự chắc chắn làm tốt mọi điều mà Mỹ vẫn cố tình áp đặt trừng phạt lên sắt thép xuất khẩu của Việt Nam thì lúc này chỉ còn cách khả thi là kiện Mỹ ra WTO mà thôi.

Saturday, 17 February 2018

Dự trữ ngoại hối kỷ lục gần 60 tỷ USD: Cao nhưng vẫn thấp (Bài đăng trên CafeF, 18/2/2018)

http://cafef.vn/du-tru-ngoai-hoi-ky-luc-gan-60-ty-usd-cao-nhung-van-thap-20180218090341246.chn

Thông tin cho thấy dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã liên tục phục hồi kể từ năm 2016 và tăng mạnh vào năm 2017, hiện đã đạt gần 60 tỷ USD, là mức kỷ lục cao nhất từ trước đến nay. Đây quả thật là một tin vui trong những ngày Tết Nguyên đán, đánh dấu sự tiếp tục cải thiện và củng cố các nền tảng kinh tế quốc gia.

Tuy nhiên, nếu quy con số dự trữ ngoại hối trên tương đương với số tháng nhập khẩu (tính theo kim ngạch) của Việt Nam thì thực tế cho thấy chúng ta vẫn còn phải cố gắng nhiều hơn nữa để có thể tạm thời bằng lòng với thành quả này.
Cụ thể, hãy lấy mốc tháng 1/2018 để tính toán. Kim ngạch nhập khẩu tháng 1/2018 của cả nước là 20,04 tỷ USD. Và giả sử con số dự trữ ngoại hối gần 60 tỷ USD là con số đạt được trong tháng 1/2018 thì mức dự trữ ngoại hối mới chỉ tương đương với đúng 3 tháng nhập khẩu của Việt Nam. Con số này tuy là một sự cải thiện nhẹ so với 2,9 tháng trong năm 2017 và 2,8 tháng trong năm 2016 nhưng cũng chỉ vừa đúng bằng con số tối thiểu 3 tháng nhập khẩu mà thế giới khuyến nghị để có thể gọi quỹ dự trữ ngoại hối của một nước nào đó là đủ lớn trong việc đối phó với các cú sốc ngoại lai.
Hơn nữa, nếu so với 9 quốc gia thành viên của ASEAN khác thì có thể thấy mặc dù dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã liên tục được cải thiện trong hơn 2 năm gần đây nhưng con số này nếu quy ra số tháng nhập khẩu của Việt Nam vẫn thuộc dạng rất thấp so với khu vực, có thể chỉ cao hơn Myanmar và/hoặc Lào trong cùng khoảng thời gian, trong khi các nước khác đều có dự trữ ngoại hối tương đương với từ trên 6 tháng đến cả hơn 1 năm nhập khẩu của họ.
Dự trữ ngoại hối của Việt Nam và ASEAN tính theo tháng nhập khẩu
Dự trữ ngoại hối kỷ lục gần 60 tỷ USD: Cao nhưng vẫn thấp - Ảnh 1.
Nguồn: ADB và tổng hợp từ truyền thông trong nước
Sự so sánh nêu trên cho thấy Việt Nam cần phải một mặt tiếp tục bổ sung và củng cố dự trữ ngoại hối, mặt khác phải hạn chế tốc độ tăng trưởng nhập khẩu ở mức quá nhanh như hiện nay (20% năm 2017 và tới 52% trong tháng 1/2018) để đưa mức dự trữ ngoại hối từ mức đáy của khu vực lên ngang bằng với mức trung bình trong khu vực.
Cho dù tăng nhập khẩu là điều không thể tránh khỏi khi bản chất nền kinh tế vẫn là kinh tế gia công nên xuất khẩu tăng mạnh cũng sẽ lôi kéo theo nhập khẩu tăng mạnh (xuất khẩu tăng 21% năm 2017 và 41% tháng 1/2018) nhưng việc để tăng trưởng nhập khẩu với tốc độ xấp xỉ và thậm chí còn nhanh hơn cả tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cho thấy nền kinh tế vẫn còn tiếp tục dễ bị tổn thương và chưa được cải thiện nhiều về nền tảng cơ sở.
Ngoài ra, việc kiềm chế nhập khẩu không chỉ sẽ giúp ích trực tiếp cho việc làm lành mạnh dự trữ ngoại hối ở trên giác độ là làm tăng số tháng nhập khẩu quy đổi mà còn gián tiếp làm tăng dự trữ ngoại hối cũng như số tháng nhập khẩu quy đổi nhờ phần thặng dư thương mại (xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu) ngày càng tăng lên, cuối cùng thì cũng sẽ được bổ sung trực tiếp vào quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia.
Như vậy, có thể nói rằng điều quan trọng hơn với và là hướng tiếp tục phấn đấu nỗ lực cho Việt Nam hiện nay là phải tiếp tục đạt được thặng dư thương mại ngày càng lớn, thay vì quá chăm chú và an lòng với sự tăng nhanh về con số tuyệt đối của dự trữ ngoại hối như trong thời gian vừa qua. 

Friday, 16 February 2018

Chuyện phiếm về Tết (Bài đăng trên CafeF, 16/2/2018)

http://cafef.vn/chuyen-phiem-ve-tet-20180213130026101.chn

Tết đến, dòng người hối hả ngược xuôi về quê, ra phố, tất bật, ùn tắc, tai nạn, mệt mỏi, tốn kém, sinh hoạt đảo lộn. Tết là vậy. Nên có nhiều người chán ngán, ghét Tết, đòi bỏ Tết hay đỡ hơn thì gộp Tết Âm lịch với Tết Dương lịch để cho tốt trên mọi phương diện. Nhưng với rất nhiều người còn lại, Tết và nghỉ Tết là niềm vui, là món quà quý giá.
Giả sử Tết (Âm lịch) bị cho biến mất, cùng với đó là kỳ nghỉ Tết liên tục 5 ngày, 7 ngày, thậm chí là 10 ngày. Người công nhân xa nhà, trước đây một năm mới có dịp được về quê đoàn tụ với gia đình một lần nay biết về lúc nào đây? Nghỉ phép ư? Họ còn đang phải tranh thủ, tận dụng mọi cơ hội để được làm thêm giờ, tăng ca nhằm kiếm thêm chút tiền tích cóp gửi về quê cho mẹ già, con nhỏ. Gánh nặng cơm áo gạo tiền trĩu nặng trên đôi vai gầy đó đâu cho họ được hưởng thứ xa xỉ đó?
Và nếu nghỉ hết phép để về quê, họ sẽ xoay xở thế nào đây mỗi khi có việc đột xuất cần nghỉ trong cả năm còn lại? Và nữa, nhiều công ty đâu có thích thú gì cho công nhân nghỉ phép liên tục trong một số ngày, ít ra vì điều này cũng làm ảnh hưởng đến dây chuyền sản xuất của họ, nhất là những thời kỳ cao điểm "chạy" cho kịp đơn hàng.
Những người làm dâu, làm rể phương xa, Tết đến lại nếm trải cảnh một chốn đôi ba nơi. Các nàng dâu thì hãi hùng với cảnh bếp núc nơi nhà chồng. Nhưng nếu không có Tết, không lẽ họ sẽ thoát được cảnh (cả năm) không phải về nhà chồng, không phải quà cáp, thăm hỏi họ hàng chồng, không phải tất bật với cảnh bếp núc cho những bữa cơm đoàn tụ đại gia đình? Vậy thì Tết đâu có lỗi, đâu có phải chỉ có Tết mới gây ra lắm phiền nhọc cho con người?
Ngược lại, nhờ có Tết, hầu như ai cũng được nghỉ làm, nên Tết là dịp họ hàng, gia đình, bạn bè đoàn tụ, gặp gỡ. Với nhiều người, Tết là dịp duy nhất trong năm gặp lại được nhiều người khác vốn bị nhịp sống đời thường hối hả cuốn đi khắp mọi miền. Chẳng phải ngẫu nhiên mà nhiều nước trên thế giới có những kỳ nghỉ lễ dài để mọi người được sống chậm lại trong vui vẻ, hạnh phúc, đoàn viên. Tất nhiên vẫn có những người chẳng quan trọng chuyện đoàn tụ, gặp gỡ này nên Tết vẫn là thứ mệt nhọc, thừa thãi với họ. Nhưng thử hỏi có được mấy người như thế?
Giả sử Tết Âm lịch bị cho biến mất hoặc gộp với Tết Dương lịch. Đến đây, có hai kịch bản. Số ngày nghỉ lẽ ra là dành cho Tết Âm lịch sẽ bị hủy. Hoặc số ngày nghỉ này được ghép vào kỳ nghỉ Tết Dương lịch.
Ở kịch bản thứ nhất, rõ ràng là chẳng mấy ai, nhất là người lao động, thích thú đón nhận, trừ khi Nhà nước cho nghỉ bù (hoặc cộng thêm vào ngày nghỉ phép). Và xét trên góc độ số ngày lao động làm ra của cải vật chất hay năng suất lao động mà một số chuyên gia chỉ ra, nếu Nhà nước cho nghỉ bù thì có Tết Âm lịch hay không, nền kinh tế vẫn bị thiệt hại tương tự do người lao động vẫn được nghỉ thêm một số ngày như khi họ nghỉ Tết Âm lịch.
Trong kịch bản thứ hai, sự khác biệt duy nhất ở đây là kì nghỉ Tết trở nên dài hơn. Còn lại, mọi sự tổn thất, phiền nhọc mà Tết mang lại cho một số người thì vẫn sẽ còn nguyên đó như khi họ "phải" nghỉ Tết Âm lịch tách rời như trước đây. Thiệt hại, nếu có, của Tết (Âm lịch) mang lại cho toàn xã hội hoàn toàn không thay đổi.
Xin được chuyển sang góc độ ý nghĩa văn hóa, tín ngưỡng của Tết Âm lịch. Gìn giữ Tết Âm lịch là gìn giữ được một nét văn hóa, tín ngưỡng lâu đời của dân tộc. Có không ít người nói đây chỉ là văn hóa và tín ngưỡng của dân tộc Kinh chứ không phải của vài chục dân tộc khác đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Theo họ, nếu dân tộc Kinh có Tết của riêng mình và được nghỉ Tết thì các dân tộc khác cũng phải được hưởng quyền tương tự một cách bình đẳng. Điều này về logic không sai nhưng… không thể thực hiện! Vì nó cũng tương tự như việc không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia đa sắc tộc, tôn giáo khác vẫn phải chọn ra một (số) ngôn ngữ làm quốc ngữ, một (số) tôn giáo làm quốc giáo v.v…
Cũng có người lập luận rằng phong tục ăn Tết Âm lịch thực ra là của người Hoa, chứ cũng chẳng phải là của người Việt (Kinh), nên xóa bỏ Tết Âm lịch thì cũng chỉ giống như xóa bỏ một thứ văn hóa ngoại lai. Điều này chỉ… hơi hơi đúng! Bởi dù có nguồn gốc ngoại lai nhưng rốt cuộc đã được người Việt tiếp thu, "thuần hóa", biến thành của người Việt từ cả ngàn năm nay. Mà nếu xét một cách thật sự công bằng, có thứ văn hóa, tín ngưỡng phổ biến nào trên thế giới hiện nay lại không phải là kết quả của một quá trình khuyếch tán từ nơi sản sinh và được du nhập  (và biến dạng) vào nước sở tại sau một quá trình lâu dài nhiều năm?
Vậy thì hãy để Tết đến và vui với Tết như thường lệ. Hãy cùng nhau giữ gìn những nét đẹp của Tết và xóa bỏ những hủ tục, tác động xấu của Tết (như chuyện đốt pháo). Và xin đừng "vùi dập" Tết chỉ vì nó không mang lại niềm vui, hạnh phúc cho mình!

Wednesday, 14 February 2018

Rủi ro tăng trưởng tín dụng cao của Việt Nam (Bài đăng trên TBKTSG, 15/2/2018)

http://www.thesaigontimes.vn/268887/Rui-ro-tang-truong-tin-dung-cao-cua-Viet-Nam.html


Cuối tháng trước, Moody’s, một trong những tổ chức xếp hạng tín dụng chủ chốt trên thế giới, trong một email trả lời các câu hỏi (của giới báo chí?) và được đăng tải trên một số nguồn như Bloomberg (1), đã đưa ra cảnh báo rủi ro đi kèm với tăng trưởng tín dụng cao cho Việt Nam.

Việc cảnh báo về rủi ro đi kèm với tăng trưởng tín dụng cao ở Việt Nam đã từng được Moody’s đề cập đôi lần mà mới đây nhất là hồi tháng 10 năm 2017 khi họ nâng cấp triển vọng của hệ thống ngân hàng lên thành tích cực từ mức ổn định trước đó. Cũng dịp đó, trong những cuộc thảo luận tại Singapore với người viết về tình hình sức khỏe của hệ thống tài chính Việt Nam, tổ chức này cùng với các tổ chức xếp hạng tín dụng chủ chốt khác như Standard and Poor's và Fitch cũng đều bày tỏ mối quan ngại tương tự cho Việt Nam.

Không phải là vô cớ mà các tổ chức xếp hạng tín dụng nói riêng và các tổ chức quốc tế đa phương nói chung như World Bank và IMF đều chung một mối quan ngại với Việt Nam. Lý do có lẽ nằm ở quan niệm của họ rằng, đối với Việt Nam, thông thường tăng trưởng kinh tế đòi hỏi tăng trưởng tín dụng phải ở mức tương ứng (tỷ lệ thuận). Do đó, khi Chính phủ nhắm mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao hơn thì cũng có nghĩa là họ sẽ phải thực thi một chính sách tiền tệ nới lỏng tương ứng, làm tăng rủi ro bất ổn vĩ mô và nợ xấu.

Trở lại với cảnh báo cuối tháng trước và được trích dẫn bởi Bloomberg, Moody’s nhận định rằng Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ có thể tiếp tục theo đuổi chính sách tiền tệ trung lập thiên về nới lỏng trong bối cảnh Chính phủ tiếp tục chú trọng hơn đến thúc đẩy tăng trưởng. Theo Moody’s, chính sách tiền tệ nới lỏng hơn sẽ làm xói mòn ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng cao. Nếu tăng trưởng tín dụng được đẩy cao hơn nữa thì nó sẽ làm tăng rủi ro cho hệ thống ngân hàng do làm suy yếu cơ sở vốn của các ngân hàng.

Do Moody’s không cho biết cụ thể thêm nên khó có thể biết cơ sở cũng như bằng chứng để Moody’s đưa ra cảnh báo rủi ro tăng trưởng tín dụng cao để nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh hơn. Nhưng Bloomberg trích dẫn ý kiến của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cho rằng tăng trưởng kinh tế năm nay có thể đạt tốc độ như của năm 2017 là 6,8%, cao hơn so với mục tiêu Chính phủ đặt ra là 6,7%, như để minh họa cho ý của Moody’s rằng Chính phủ đang tiếp tục cố gắng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Ở một vế khác, cũng không rõ Moody’s dựa vào đâu để nhận định rằng NHNN có thể sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách tiền tệ thiên nới lỏng. Trong khi đó, Bloomberg nêu ra rằng tốc độ tăng trưởng cho vay năm 2017 là 18,2% và “NHNN dự đoán” tăng trưởng cho vay năm nay ở mức 17%. Thêm vào đó, Bloomberg cũng trích dẫn cảnh báo của World Bank hồi tháng 12 rằng tăng trưởng tín dụng cao sẽ khuyến khích cho vay các lĩnh vực rủi ro và làm xấu đi chất lượng tài sản. Bằng việc đưa ra những số liệu và nhận định này dường như Bloomberg muốn chứng minh rằng đang có xu hướng nới lỏng tiền tệ ở Việt Nam kèm theo đó là những hậu quả tiêu cực, phù hợp với cảnh báo của Moody’s.

Tuy nhiên, nếu những con số và dự đoán như trên là đúng thì người ta phải thấy rằng tình hình thực ra đang không diễn biến theo chiều hướng rủi ro hơn, nếu không muốn nói ngược lại là đang được kiểm soát theo hướng tốt hơn, theo đúng định hướng chính sách tiền tệ của NHNN được trích dẫn bởi Bloomberg là sẽ “quản lý tăng trưởng tín dụng một cách linh hoạt và thận trọng để hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, trong khi vẫn hạn chế được rủi ro trong một số ngành kinh tế”.

Cụ thể hơn, rõ ràng là con số tăng trưởng tín dụng 18,2% đạt được trong năm 2017 là thấp hơn đáng kể mục tiêu ít nhất là 21-22% mà Thủ tướng Chính phủ đặt ra trước đó, trong năm 2017, cho NHNN. Điều này chứng tỏ sự thận trọng đáng ghi nhận của NHNN khi đã không cố gắng “ép” tín dụng của hệ thống ngân hàng phải tăng nhanh hơn nữa theo ý chí của Chính phủ. Nói cách khác, tuy chính sách tiền tệ của NHNN vẫn có xu hướng nới lỏng nhưng sự nới lỏng là có mức độ, được dựa trên những căn cứ xác đáng như diễn biến của lạm phát và lãi suất. Và cũng cần lưu ý thêm rằng tăng trưởng tín dụng năm 2017 cũng chỉ tương đương như năm 2016, mặc dù (nhu cầu tăng trưởng tín dụng để thúc đẩy) tăng trưởng kinh tế là cao hơn nhiều so với năm 2016.

Sang năm 2018, như trích dẫn của Bloomberg, NHNN còn thể hiện sự thận trọng hơn nữa khi “dự báo” tăng trưởng tín dụng chỉ là 17% mặc dù tăng trưởng kinh tế năm nay, nếu đúng như mục tiêu mà Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nêu  ra, vẫn bằng năm 2017. Đó là chưa kể khả năng năm nay lạm phát ở Việt Nam sẽ đạt mức cao hơn năm trước (ít nhất là do yếu tố giá cả thế giới đã và đang gia tăng song hành với một đồng đô la Mỹ suy yếu) và điều này sẽ buộc NHNN – được Quốc hội “trói” bằng chỉ tiêu kiềm chế lạm phát – phải thận trọng với tăng trưởng cung tiền hơn nữa (và có nghĩa là hạ thấp tốc độ tăng trưởng tín dụng hơn nữa).

Như vậy, rõ ràng là dường như đang diễn ra xu hướng có thể coi là “nghịch lý” ở Việt Nam trong nhiều năm qua, ít nhất là nhìn từ góc độ các con số thống kê chính thức, là tốc độ tăng trưởng kinh tế có xu hướng cao hơn còn tốc độ tăng trưởng tín dụng lại có xu hướng giảm tốc, không nhất thiết giống như mối quan ngại của Moody’s và các tổ chức khác. Và điều này cần được tiếp tục nghiên cứu, mổ xẻ để Chính phủ có thêm cơ sở tiếp tục điều hành nền kinh tế theo đúng xu hướng tích cực này.

 ___________

1. Xem trong đường dẫn sau: https://www.bloomberg.com/news/articles/2018-01-28/moody-s-cautions-vietnam-against-easing-monetary-policy-further

Hoặc: http://www.businesstimes.com.sg/government-economy/moodys-cautions-vietnam-against-easing-monetary-policy-further

Monday, 12 February 2018

Tết đến nói chuyện thống kê (Bài đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 13/2/2018)

http://www.thesaigontimes.vn/269080/Tet-den-noi-chuyen-thong-ke.html

Năm hết, Tết đến, số liệu của Tổng cục Thống kê (TCTK) cho hay chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 1-2018 tăng 0,51% so với tháng trước, tăng 2,65% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng cao nhất trong vòng 4 năm trở lại đây.


Theo lý giải của TCTK, lạm phát của tháng 1-2018, tháng giáp Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018, tăng là điều dễ hiểu, khi mà đây là tháng có Tết Dương lịch và là tháng giáp Tết Nguyên đán, cũng là thời điểm nhu cầu tiêu dùng, mua sắm bắt đầu tăng.
Ngoài ra, bên cạnh những lý do “khách quan” khác như ngành điện tăng giá điện, ngành y tế tăng mức phí khám chữa bệnh v.v…, TCTK còn cho rằng lạm phát tháng 1-2018 tăng là do tháng cuối năm nhu cầu sửa chữa nhà cửa tăng làm cho giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,35%, giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,38%.
Giải thích trên của TCTK xem ra cũng có lý, vì rõ ràng là trong tháng giáp Tết thì ai hầu như cũng hối hả với việc chi tiêu, mua sắm, không mua sắm đồ ăn Tết thì cũng mua sắm đồ trang trí hoặc mua… quà biếu sếp, dẫn đến nhu cầu tiêu dùng tăng vọt. Và vì cũng là tháng giáp Tết nên nhiều gia đình có nhu cầu sửa chữa nhà cửa cho khang trang hơn để đón năm mới. Bởi thế, TCTK cứ đều đặn hàng năm vào tháng 1 hoặc những tháng có nhu cầu tiêu dùng của xã hội tăng vọt, ví dụ như tháng 8 (là tháng giáp với tháng có khai giảng năm học mới) đều tích cực vận dụng lại công thức “là tháng có nhu cầu tiêu dùng, mua sắm bắt đầu tăng” để giải thích hiện tượng CPI tăng mạnh và hầu như chẳng có ai, kể cả giới chuyên gia, thắc mắc hay phản đối gì.
Tương tự, vào quí 1 hàng năm, tốc độ tăng trưởng GDP thường là thấp nhất so với 3 quí còn lại của năm trong bất cứ năm nào. Ngoài một số lý do cụ thể nào đó, TCTK và một số lãnh đạo ngày giải thích sự tăng trưởng chậm chạp này là do quí 1 là quý có hai cái Tết, Dương lịch và Nguyên đán, nên có nhiều ngày nghỉ, làm gián đoạn hoạt động sản xuất, kinh doanh, ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP. Và rồi lời giải thích này cũng luôn làm yên lòng dư luận bởi xem ra… quá đúng!
Nhưng không cần phải ngẫm kỹ lắm thì cũng sẽ nhận ra sự bất ổn trong lời giải thích mang tính “thời vụ” (seasonal; không phải tháng nào cũng vậy) kiểu trên. Vì lạm phát mà ta đang nói đến ở đây là lạm phát hàng tháng, thể hiện tốc độ tăng giá cả tiêu dùng của một tháng cụ thể nào đó so với cùng tháng đó ở năm trước liền kề. Có nghĩa là tháng 1 này năm trước cũng là tháng có Tết Dương lịch và giáp Tết Nguyên đán. Vậy mà sao lạm phát của tháng 1 (những) năm trước lại thấp hơn lạm phát của tháng 1 năm nay?
Cũng giống như vậy là chuyện tăng trưởng GDP. Cũng là quí 1, nhưng tại sao tăng trưởng GDP của quí 1 của năm nào đó lại chậm hơn của (những) năm trước đó, mặc dù quí 1 năm nào cũng đều có 2 cái Tết, với số ngày nghỉ gần tương tự nhau?
Vậy thì, rõ ràng, những yếu tố mang tính thời vụ như trên không phải là, không được phép trở thành lý do để biện minh hoặc dùng để giải thích cho bất cứ sự bất thường nào đó về kinh tế, xã hội. Hay nói ngược lại, chính bởi tính thất thường, thời vụ như vậy mà người ta phải dùng đến phép so sánh trong cùng giai đoạn, cùng thời kỳ, thời điểm để loại bỏ những “nhiễu” thống kê này nhằm có được những con số thống kê có ý nghĩa.
Cần lưu ý thêm rằng các cơ quan thống kê thế giới đều tiến hành thu thập số liệu lạm phát cơ bản (loại trừ biến động giá cả của lương thực, thực phẩm tươi sống, xăng dầu…) như là một nỗ lực để loại bớt ảnh hưởng của yếu tố thời vụ (ví dụ, do mất mùa ở một nước nào đó làm tăng giá nhập khẩu lương thực thế giới, kéo theo giá lương thực trong nước).
Mặc dù TCTK cũng thu thập và công bố số liệu về lạm phát cơ bản hàng tháng nhưng điều đáng tiếc là họ lại thường không cung cấp giải thích cần thiết tại sao lạm phát cơ bản của, ví dụ, tháng 1/2018 lại tăng 0,18% so với tháng trước và tăng 1,18% so với cùng kỳ, nhờ đó giúp cho giới làm chính sách và công luận hiểu được thực sự điều gì đang xảy ra với lạm phát (và tăng trưởng) và làm thế nào để kiềm chế lạm phát (và phục hồi tăng trưởng).
Do đó, mong là từ nay về sau chúng ta sẽ không phải được nghe chuyện nghỉ Tết với tăng tiêu dùng và nhu cầu sửa chữa nhà cửa trước Tết như là một cái cớ hoàn hảo cho sự tăng lên về lạm phát hay chậm lại về tăng trưởng GDP ở Việt Nam. Thay vào đó, lý do nền tảng đằng sau hiện tượng giá cả tăng lên và tăng trưởng chậm lại là những điều cần được báo cáo, phân tích và mổ xẻ kịp thời, thấu đáo để đưa ra được những giải pháp xử lý thích hợp nhất có thể.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).