Wednesday, 9 May 2018

Nợ công, bội chi và rủi ro vẫn gia tăng (Bài đăng trên TBKTSG, 9/5/2018, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/272078/no-cong-boi-chi-va-rui-ro-van-gia-tang-.html

Thủ tướng Chính phủ vừa ký quyết định phê duyệt kế hoạch vay, trả nợ của Chính phủ năm 2018. Theo đó, năm nay Chính phủ sẽ vay 384 nghìn tỉ đồng, trong đó vay trong nước là 276 nghìn tỉ, còn lại là vay nước ngoài.


Kế hoạch vay và trả nợ của Chính phủ qua các năm
(Nghìn tỷ đồng)
2014
2015
2016
2017
2018
Nguồn vay
463
436
452
342
384
% thay đổi so với năm trước
--
-5,8%
3,7%
-24,3%
12,3%
Vay trong nước
367
400
336
243
276
Vay nước ngoài (gồm ODA, vay ưu đãi...)
96
36
99
99
108
Khác (trái phiếu ngoại tệ…)
Không rõ
Không rõ
17
Không rõ
Không rõ
Sử dụng vốn vay
367
436
452
342
384
Bù đắp bội chi
197
226
254
172
195
Trả nợ gốc (đảo nợ)
70
125
95
144
147
Cho vay lại
Không rõ
Không rõ
43
26
42
Đầu tư (từ vốn trái phiếu)
100
85
60
Không rõ
Không rõ
Kế hoạch trả nợ
209
Không rõ
273
260
257 (275)
Nợ trực tiếp của Chính phủ
Không rõ
Không rõ
154
243
238 (257)
Nợ dự án cho vay lại
Không rõ
Không rõ
24
17
19
Đảo nợ
Không rõ
Không rõ
95
Không rõ
Không rõ
Ghi chú: Số liệu các năm trước năm 2018 lấy từ www.thesaigontimes.vn/159899/Thay-gi-tu-ke-hoach-vay-va-tra-no-cua-Chinh-phu.html


Nợ công, bội chi và rủi ro vẫn đang gia tăng
Theo bảng trên, con số vay nợ của năm nay sẽ tăng tới 12,3% so với con số vay nợ tương ứng trong năm 2017 là 342 nghìn tỉ đồng. Tốc độ tăng này có khả năng sẽ vượt so với tốc độ tăng GDP danh nghĩa của Việt Nam năm nay nên có thể suy ra rằng tỷ lệ nợ công/GDP năm nay sẽ tăng trở lại, nhất là trong bối cảnh con số trả nợ theo kế hoạch năm nay lại nhỏ hơn năm trước (nếu là 257 tỉ đồng trong năm 2018, so với con số 260 tỉ đồng năm 2017; xem giải  thích ở phần dưới).

Về nguồn vay, kế hoạch sẽ là vay 276 nghìn tỷ từ các nguồn trong nước, chiếm 72% tổng vay nợ năm nay, tăng nhẹ so với năm 2017 (71%). Tuy nhiên, so với những năm trước đây thì tỷ lệ vay trong nước trong hai năm qua đang ở mức thấp nhất. Đây là một vấn đề cần tiếp tục được cải thiện để giảm thiểu rủi ro đối mặt bởi nợ công khi phải phụ thuộc nhiều vào vay nợ nước ngoài, đặc biệt khi lãi suất vay nợ thương mại trên thế giới đang có chiều hướng gia tăng.

Về sử dụng vốn vay, năm nay dự định dùng 195 nghìn tỉ đồng để bù đắp bội chi, tăng 13,4% so với năm 2017 (172 nghìn tỷ đồng). Nếu các điều kiện khác không thay đổi, khi phải tăng bù đắp bội chi thì có nghĩa là bội chi tiếp tục phình ra. Vì mức tăng bù đắp bội chi 13,4% này chắc chắn sẽ lớn hơn tốc độ tăng GDP danh nghĩa năm nay nên đây là một chỉ báo nữa cho thấy tỷ lệ bội chi ngân sách/GDP và cùng với đó là tỷ lệ nợ công/GDP năm nay sẽ tăng trở lại sau khi sụt giảm mạnh trong năm 2017.

Đáng chú ý là khoản vay về để cho vay lại năm nay lại tăng mạnh lên 42 nghỉn tỷ đồng so với 26 nghìn tỷ đồng năm 2017. Vì vay để cho vay lại về bản chất cũng không khác gì Nhà nước bảo lãnh các khoản vay cho doanh nghiệp (nhà nước) và địa phương nên đây cũng là một lĩnh vực rủi ro, cần hạn chế. Do đó, việc gia tăng vay để cho vay lại năm nay là một diễn biến đi ngược chiến lược kiểm soát an toàn nợ công của Việt Nam.

Về trả nợ, Chính phủ dự định năm nay trả 257 nghìn tỉ đồng nợ, trong đó trả nợ trực tiếp của Chính phủ cũng đúng bằng 257 nghìn tỉ đồng. Lưu ý rằng trả nợ các dự án cho vay lại dự định sẽ là 19 nghìn tỉ đồng. Như vậy, đây có thể là một “lỗi đánh máy”, bởi nếu đã có khoản trả nợ các dự án cho vay lại (19 nghìn tỉ đồng) thì hoặc là trả nợ trực tiếp của Chính phủ sẽ chỉ còn là 257 – 19 = 238 nghìn tỉ đồng, hoặc là tổng giá trị trả nợ năm nay phải là 257 + 19 = 275 nghìn tỉ đồng. Chính phủ cần phải cải chính, làm rõ chi tiết này. Tuy nhiên, vì nợ công vẫn đang gia tăng nếu tính theo giá trị tuyệt đối nên có nhiều khả năng con số kế hoạch trả nợ năm nay sẽ phải là 275 nghìn tỉ, để phản ánh đúng mức nợ gốc và lãi đang gia tăng.

Tính gộp GDP của nền kinh tế ngầm là vô nghĩa

Nhìn trên góc độ rộng hơn, bất chấp năm qua việc cổ phần hóa và thoái vốn tại các doanh nghiệp nhà nước đã đem về cho ngân sách một khoản thu lớn lên đến nhiều tỉ đô la Mỹ (hàng trăm nghìn tỉ đồng) nhưng kế hoạch vay và trả nợ của Chính phủ cho thấy tình hình ngân sách tiếp tục thêm căng thẳng, bội chi ngân sách/GDP có xu hướng gia tăng trở lại trong năm nay (trở đi). Đây là điều hiển nhiên và dễ hiểu khi nguồn thu từ cổ phần hóa và thoái vốn chỉ là nhất thời, trong khi chi tiêu ngân sách ngày càng phình to.

Do đó, trong bối cảnh nợ công đã tiến sát ngưỡng trần cho phép ở Việt Nam, nên cũng là dễ hiểu khi Chính phủ muốn áp dụng những giải pháp khá là cực đoan như tính gộp GDP của nền kinh tế ngầm vào GDP của nền kinh tế chính thức nhằm làm cho tỷ lệ nợ công/GDP hay tỷ lệ bội chi ngân sách/GDP trở nên “đẹp” hơn, an toàn hơn, hoặc làm tăng dư địa để vay mượn nhiều hơn.

Giải pháp trên không những chỉ là liệu pháp tinh thần mà còn không có ý nghĩa ở chỗ là nó đi ngược lại thông lệ thế giới, là điều mà Chính phủ rất hay viện dẫn để biện minh cho một kế hoạch hành động nào đó tạo bất lợi cho dân, ví dụ như tăng thuế.

Cụ thể hơn, một số nghiên cứu quốc tế đã đưa ra một vài ngưỡng an toàn nợ công tính chung cho thế giới (trong số này có những nghiên cứu điển hình, rất có ảnh hưởng, nhưng sau này bị phát hiện là sai lầm). Dựa trên những nghiên cứu này, một số nước đưa ra một ngưỡng nợ công an toàn cho mình. Điều cần lưu ý là ngưỡng nợ công này được tính trên GDP của khu vực kinh tế chính thức, không bao gồm GDP của khu vực kinh tế ngầm.

Vì vậy, nếu theo đúng cách mà Việt Nam đang muốn thực hiện là tính gộp cả GDP của khu vực kinh tế ngầm vào khu vực kinh tế chính thức thì ngưỡng nợ công an toàn trên thế giới (nếu có) sẽ phải, theo logic, nhỏ hơn ngưỡng an toàn hiện tại. Để dễ hiểu hơn, giả sử quy mô nền kinh tế ngầm của thế giới tương đương với 30% nền kinh tế chính thức, và nếu ngưỡng nợ công an toàn chung cho thế giới được xác định là 65% GDP của khu vực kinh tế chính thức (bằng với ngưỡng nợ công ở Việt Nam), thì ngưỡng mới về an toàn nợ công trên thế giới (và, do đó, của Việt Nam) sẽ giảm xuống còn 50%/GDP (gộp).

Nói cách khác, dù có tính gộp GDP của khu vực kinh tế ngầm với khu vực kinh tế chính thức thì sự gia tăng mức vay nợ ở Việt Nam cũng sẽ không được cải thiện tương ứng như kỳ vọng của Chính phủ.

Tuesday, 1 May 2018

Bảo lãnh chính phủ lại được nới lỏng (Bài đăng trên TBKTSG, 1/5/2018)

http://www.thesaigontimes.vn/271825/bao-lanh-chinh-phu-lai-duoc-noi-long.html

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 433/QĐ-TTg sửa đổi bổ sung Quyết định 544/QĐ-TTg ngày 20-4-2017 về việc phê duyệt chương trình quản lý nợ trung hạn 2016-2018. Theo đó, Chính phủ sẽ “hạn chế việc cấp mới bảo lãnh chính phủ cho các khoản vay trong và ngoài nước của doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư để đảm bảo các chỉ tiêu an toàn nợ trong giới hạn đã được Quốc hội phê duyệt”.
Nếu chỉ căn cứ vào nội dung của quyết định như trên thì có thể hiểu rằng quản lý nợ công của Chính phủ đang tiếp tục đi đúng hướng với bảo lãnh chính phủ sẽ được hạn chế, tiếp tục thắt chặt lại. Nhưng cần lưu ý rằng trong Quyết định 544 năm 2017, điều khoản tương ứng nêu rõ: “Tạm dừng toàn bộ việc cấp mới bảo lãnh chính phủ cho các khoản vay trong và ngoài nước”.
Như vậy, Quyết định 433 đã nối lại việc cấp mới bảo lãnh chính phủ, dù rằng việc này sẽ bị hạn chế. Nói cách khác, so với năm trước, việc bảo lãnh chính phủ đã được nới lỏng. Từ đây, một số khả năng được đặt ra liên quan đến động thái này.
Khả năng thứ nhất là do tình hình nợ công đã được cải thiện nên Chính phủ thấy rằng có thể nối lại việc cấp mới bảo lãnh chính phủ. Nếu căn cứ vào một số báo cáo của các cơ quan hữu trách thì dường như khả năng này là hiện hữu. Chẳng hạn, theo Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia (NFSC), tỷ lệ nợ công/GDP năm 2017 ước ở mức 62,6%, thấp hơn so với mức 63,6% cuối năm 2016 do tăng trưởng kinh tế khả quan cùng với các giải pháp đồng bộ về cơ cấu lại ngân sách, nợ công của Chính phủ. Theo đó, dư nợ và áp lực trả lãi của Chính phủ có xu hướng giảm. Dư nợ chính phủ so với GDP giảm xuống mức 51,8% (năm 2016 là 52,6%).
Tuy nhiên, một điểm cần lưu ý là tỷ lệ nợ công cải thiện trong năm 2017 có phần đóng góp thiết yếu nhờ những khoản cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước (DNNN) lên đến nhiều tỉ đô la Mỹ, giúp giảm thâm hụt ngân sách và kéo giảm tỷ lệ nợ công/GDP. Do việc cổ phần hóa và thoái vốn DNNN chỉ là những hoạt động mang tính thời điểm (không kéo dài mãi được, bán/thoái hết thì thôi) nên năm nay và những năm sau nữa không thể trông chờ vào những khoản thu tương tự cho ngân sách. Do đó, cũng không thể hy vọng tình hình nợ công sẽ được cải thiện nếu chỉ trông vào bên nguồn thu mà không tìm cách cắt giảm chi tiêu, trong đó có việc cấp bảo lãnh chính phủ, vốn có nguy cơ làm tăng nợ công khi doanh nghiệp được bảo lãnh không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán nợ của mình.
Việc nới lỏng bảo lãnh chính phủ trong bối cảnh nền quản trị và hiệu quả hoạt động của các DNNN không có mấy cải thiện so với trước đây, sẽ phải đối mặt với rủi ro tỷ lệ nợ công tiếp tục sớm tăng trở lại.
Khả năng thứ hai có thể giải thích cho việc nới lỏng cấp mới bảo lãnh chính phủ là do Chính phủ thấy rằng không thể không có bảo lãnh chính phủ cho nhiều dự án của các DNNN để các dự án có tính thuyết phục hơn về mặt tài chính. Nhờ bảo lãnh chính phủ, việc vay vốn các ngân hàng trong và ngoài nước sẽ dễ dàng hơn, với chi phí thấp hơn do rủi ro của dự án đã được Chính phủ “gánh”. Với bảo lãnh của Chính phủ, dự án vì thế sẽ có tính khả thi hơn, hiệu quả hơn, dễ được chấp nhận và phê chuẩn bởi các cấp có thẩm quyền.
Khả năng thứ ba là sau một thời gian tạm dừng toàn bộ việc cấp mới bảo lãnh, Chính phủ nhận thấy việc này đã được chấn chỉnh, và sau khi xem xét kỹ khả năng thu hồi vốn của những dự án được bảo lãnh, Chính phủ quyết định nối lại việc cấp mới bảo lãnh, mặc dù với phương châm “hạn chế”. Tuy nhiên, cho đến nay dư luận chưa thấy bất cứ một báo cáo nào cho thấy việc chấn chỉnh, tăng cường chất lượng xét duyệt bảo lãnh đã được diễn ra ở mức độ thỏa đáng để đảm bảo các dự án được tiếp tục cấp mới bảo lãnh là những dự án có hiệu quả, chắc chắn thu hồi được vốn (đúng hạn) nên cũng không thể khẳng định rằng Chính phủ quyết định nới lỏng việc cấp mới bảo lãnh là bởi khả năng này.
Như vậy, có thể tạm cho rằng sự nới lỏng việc cấp mới bảo lãnh chính phủ cho các khoản vay trong và ngoài nước trong năm nay là sự kết hợp của sự cải thiện về tỷ lệ nợ công/GDP và bản chất “dựa dẫm”, không thể tách rời “bầu sữa” ngân sách nhà nước của các DNNN, dù là gián tiếp, thông qua bảo lãnh chính phủ.
Như trên đã phân tích, do sự cải thiện tỷ lệ nợ công/GDP năm trước chỉ là tạm thời, ngắn hạn nên việc nới lỏng bảo lãnh chính phủ trong bối cảnh nền quản trị và hiệu quả hoạt động của các DNNN không có mấy cải thiện so với trước đây, sẽ phải đối mặt với rủi ro tỷ lệ nợ công tiếp tục sớm tăng trở lại.
Để giảm thiểu rủi ro này có lẽ Chính phủ nên khống chế một mức trần cụ thể cho bảo lãnh trong năm nay (và các năm sau), thay vì nói chung chung là “hạn chế” như trong Quyết định 433, để trong trường hợp xấu nhất thì nợ công cũng không vì thế mà tăng vọt.

Monday, 23 April 2018

Singapore có dễ dãi với tiền ảo? (Bài đăng trên TBKTSG, 24/4/2018, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/271546/singapore-co-de-dai-voi-tien-ao-.html

Vụ việc nhiều người Việt sập bẫy tiền ảo iFan, Pincoin, là những đồng tiền có nguồn gốc được cho là tương ứng từ Singapore và Dubai đã làm dấy lên câu hỏi phải chăng việc thành lập doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp Fintech, quá đơn giản, thậm chí được khuyến khích ở những nơi này, đã “tiếp tay” giúp sức cho những doanh nghiệp thành lập và phát hành tiền ảo tại đây “bành trướng” sang các nước khác trong đó có Việt Nam để lừa đảo?
Trước tiên, xin đề cập đến lập trường của Chính phủ Singapore về tiền ảo và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Trả lời chất vấn tại Nghị viện Singapore ngày 5/2/2018, ông Tharman Shanmugaratnam, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng phụ trách Cơ quan tiền tệ Singapore (MAS, đóng vai trò như ngân hàng trung ương) cho biết, tiền ảo là một thí điểm. Con số và dạng thức tiền ảo đang tăng lên trên thế giới nhưng vẫn quá sớm để nói chúng có thành công hay không. Dù một số tiền ảo đã thành công nhưng cũng chưa thể đánh giá đầy đủ tác động của chúng.
Theo ông Shanmugaratnam, MAS đang theo dõi sát sao sự phát triển và những rủi ro tiềm tàng của các đồng tiền ảo nhưng hiện nay chưa thấy có lý do thuyết phục để cấm giao dịch tiền ảo. Thậm chí, Singapore vẫn nhìn nhận mặt tích cực của tiền ảo. Nền tảng công nghệ của tiền ảo là blockchain, vốn có khả năng được áp dụng để thúc đẩy thanh toán thương mại. Theo hướng này, MAS đã tham gia và khuyến khích một số thí điểm công nghệ blockchain trong ngành tài chính.
Tuy vậy, Singapore cũng cảnh báo nhiều rủi ro trong việc sử dụng tiền ảo. Một trong những rủi ro lớn nhất là rửa tiền và tài trợ khủng bố, do bản chất các giao dịch tiền ảo là ẩn danh, phi tập trung và diễn ra hầu như tức thời. Bởi vậy, những chủ thể tham gia vào giao dịch tiền ảo với tư cách người mua, bán, trao đổi hoặc làm trung gian, môi giới đã, kể từ năm ngoái, bị chế tài bởi các quy định pháp luật liên quan đến rửa tiền và chống tài trợ khủng bố. Song song đó, cơ quan chức năng nước này cũng đang tích cực theo dõi, giám sát các hành vi bất hợp pháp liên quan đến mua bán tiền ảo, một phần dựa vào những tố giác của bất kỳ người dân nào, và cũng là theo quy định của luật, khi thấy có những hành vi và giao dịch đáng ngờ.
Mặt khác, Chính phủ Singapore cũng luôn cảnh báo người dân Singapore, trên các phương tiện thông tin đại chúng, rằng họ sẽ thậm chí “không còn áo mà mặc” nếu đầu tư vào tiền ảo, bởi sự biến động mạnh về giá của chúng bị thao túng bởi giới đầu cơ. Tiền ảo cũng được giao dịch trên các thị trường dưới chuẩn nên nhà đầu tư không được bảo vệ bởi pháp luật.
Ngoài ra, Chính phủ Singapore cũng cảnh báo nhà đầu tư cảnh giác trước các hoạt động marketing, quảng cáo của giới điều hành chào mời, dẫn dụ nhà đầu tư vào tiền ảo, nhất là khi giá tiền ảo rơi tự do với hy vọng sẽ thu lợi nhuận lớn khi giá phục hồi. Đặc biệt cần cẩn trọng với những chủ thể ngoài lãnh thổ Singapore do có mức độ rủi ro lừa đảo cao hơn cũng như khó xác định tính chính danh và mức độ khả tín của chúng hơn.
Như vậy, có thể thấy Singapore có một thái độ rất rõ ràng, đồng thời không kém phần thực dụng về việc phát hành và trao đổi, giao dịch tiền ảo, theo phương châm “dao nhọn nguy hiểm nhưng không vì thế mà cấm dùng”. Tuy nhận thức rõ và cũng luôn muốn người dân của mình nhận thức rõ những rủi ro gắn liền với tiền ảo nhưng Chính phủ nước này vẫn chấp nhận tiền ảo và các công ty điều hành chúng, thậm chí khuyến khích ứng dụng rộng rãi công nghệ tiền ảo vào các ngành, lĩnh vực kinh tế, xã hội tại đây. Để hạn chế mặt trái của tiền ảo, Singapore tập trung nỗ lực giám sát, quản lý vào việc ngăn ngừa các hoạt động tội phạm liên quan đến tiền ảo gồm rửa tiền và tài trợ khủng bố (chứ không phải ngăn ngừa, cấm đoán tiền ảo).
Với trường hợp tiền ảo iFan và vụ lừa đảo ở Việt Nam. Trước tiên, hầu như không có thông tin gì chứng tỏ công ty phát hành/sở hữu iFan là từ, có trụ sở chính ở Singapore. Trên trang chủ ở địa chỉ https:ifan.io hoàn toàn vắng bóng thông tin về người sáng lập cũng như trụ sở đăng ký ở đâu. Trong Sách trắng (Whitepaper) lấy xuống từ trang này cũng không thấy bất cứ thông tin liên quan nào, ngoài duy nhất một dòng khó hiểu “IFan is Singapore’s independent company” (IFan là một công ty độc lập của Singapore).
Tuy nhiên, điều quan trọng là dù iFan và người sáng lập có thể là “người thật, việc thật”, có thể khởi nguồn từ Singapore, nhưng về đến Việt Nam chúng đã bị lợi dụng nhằm mục đích lừa đảo. Như báo chí đã đưa tin, nhóm 7 người Việt lập dự án huy động vốn iFan hứa hẹn chia sẻ lợi nhuận 48%/tháng với thời gian hoàn vốn 4 tháng. Trong thời gian đầu, nhà đầu tư được thanh toán bằng tiền thật. Sau đó, họ bất ngờ được thanh toán bằng iFan với giá quy ước là 5 USD/iFan, trong khi giá của iFan trên thị trường gần như bằng 0.
Hãy tưởng tượng nếu iFan là Bitcoin và có ai đó mời chúng ta đầu tư vào đồng tiền ảo này với lãi suất tương tự như trên nhưng rốt cuộc chỉ đồng ý trả lãi bằng bitcoin với cái giá quy đổi “trên trời”, chẳng hạn là 25.000 USD/Bitcoin (trong khi giá đỉnh điểm của đồng tiền này cho đến nay chỉ là 20.000 USD) thì chúng ta sẽ hiểu ngay lỗi/tội đồ ở đây không phải tại Bitcoin hay người sáng lập, điều hành Bitcoin.
Tóm lại, có thể thấy (chính sách của) Chính phủ Singapore chẳng có liên quan gì đến vụ việc lừa đảo iFan và Pincoin ở Việt Nam hiện nay. Ngay ở Việt Nam thì cơ quan chức năng cũng đã cảnh báo trước các rủi ro về đầu tư vào tiền ảo. Nhưng lừa đảo vẫn xảy ra, nên chung quy cũng chỉ tại chữ tham, mù quáng, liều… của nhà đầu tư mà thôi.  

Sunday, 22 April 2018

Những rủi ro liên quan đến cho vay vượt giới hạn (Bài đăng trên TBKTSG, 22/4/2018)

http://www.thesaigontimes.vn/271543/nhung-rui-ro-lien-quan-den-cho-vay-vuot-gioi-han-.html

Chính phủ vừa ban hành Quyết định 13/2018/QĐ-TTg quy định về điều kiện, hồ sơ, trình tự đề nghị chấp thuận mức cấp tín dụng tối đa vượt giới hạn của tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài áp dụng đối với một khách hàng, một khách hàng và người có liên quan với một số điều kiện.

Ở mặt tích cực, quyết định trên đã tạo thêm nhiều dư địa để TCTD tự chủ trong việc cấp tín dụng, dựa trên khẩu vị rủi ro và chiến lược hoạt động của riêng mình mà ít bị cản trở bởi cùng một chiếc áo – quy định hoạt động – “may đo” bởi NHNN chung cho cả hệ thống, miễn là các tiêu chí, giới hạn và tỷ lệ dảm bảo an toàn không bị vi phạm.

Ngược lại, quyết định này làm gợn lên lo ngại có thể bị lợi dụng để một số doanh nghiệp đầu tư vào những dự án được phép cho vay vượt giới hạn theo kiểu “tay không bắt giặc”, trong rất nhiều ngành nghề, lĩnh vực được quy định khá chung chung như “dự án, phương án có ý nghĩa kinh tế - xã hội quan trọng, cấp thiết nhằm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, phục vụ nhu cầu thiết yếu của đời sống nhân dân thuộc các ngành, lĩnh vực: điện, than, dầu khí, xăng dầu, giao thông, vận tải công cộng và các lĩnh vực khác theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ từng thời kỳ”, và “các chương trình, dự án đầu tư được Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư; đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích theo nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ”.

Một ví dụ cụ thể cho lo ngại trên là đầu tư trong lĩnh vực BOT xây dựng đường cao tốc. Nhiều nhà đầu tư không có năng lực tài chính nhưng vẫn trúng thầu các dự án này đã phải hầu như dựa hoàn toàn vào vốn tín dụng ngân hàng để triển khai dự án, dẫn đến những hệ lụy như triển khai chậm tiến độ, chi phí cao, phải kéo dài thời gian thu phí sử dụng để bù đắp chi phí…

Tuy nhiên, trong quyết định trên có một điều khoản mà nếu thực hiện đúng thì có thể làm giảm khả năng xảy ra rủi ro trên. Cụ thể, theo Điều 3 về điều kiện xem xét khoản cấp tín dụng vượt giới hạn, tại thời điểm đề nghị cấp tín dụng vượt giới hạn, TCTD (phải) đáp ứng các yêu cầu về giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động theo quy định của Luật các TCTD và các quy định pháp luật có liên quan.

Với điều khoản này, TCTD sẽ phải thận trọng khi cho vay vượt giới hạn với khách hàng để tuân thủ các giới hạn và tỷ lệ đảm bảo an toàn. Ngược lại, nếu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) muốn hạn chế tín dụng vào những lĩnh vực mà họ cho là rủi ro như BOT trong giao thông thì họ có thể nâng các giới hạn và tỷ lệ đảm bảo an toàn này như là những cái van hãm dòng tín dụng vào những lĩnh vực mà họ không khuyến khích, mặc dù các lĩnh vực này có thể là những lĩnh vực được phép cho vay vượt giới hạn.

Nhưng đến đây lại có thể thấy rủi ro về sự chèn lấn, chồng chéo thẩm quyền. Giả sử tại thời điểm đề nghị cấp tín dụng vượt giới hạn, mỗi TCTD nói riêng và hệ thống nói chung đều đã tiệm cận mọi giới hạn và tỷ lệ bảo đảm an toàn hoạt động do NHNN đề ra. Theo nguyên tắc, NHNN sẽ phải từ chối phê duyệt các dự án cho vay vượt giới hạn và sẽ không trình lên Thủ tướng. Nhưng nếu Chính phủ, Thủ tướng và Quốc hội đều muốn đẩy mạnh cho vay các dự án ưu tiên, cần khuyến khích thì NHNN rơi vào thế khó. Nếu NHNN, với tư cách là một cơ quan trực thuộc Chính phủ, tuân thủ theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng, và Quốc hội thì phải sửa lại các giới hạn và tỷ lệ bảo đảm an toàn hoạt động theo hướng nới lỏng hơn, tức là kém an toàn hơn cho hệ thống ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung, trong khi một trong những sứ mệnh của NHNN là phải bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống các TCTD nói riêng và ổn định kinh tế vĩ mô nói chung.

Bên cạnh đó, quyết định trên sẽ tạo ra gánh nặng, áp lực (và cả đặc quyền) lớn cho việc quản lý và phê chuẩn dự án cho NHNN, các bộ, ngành, địa phương và Chính phủ, Thủ tướng. Theo quy định, mọi khoản vay vượt giới hạn đều phải được báo cáo, giải trình trước tiên với NHNN, sau đó, thông qua NHNN, đến các bộ, ngành, địa phương và cuối cùng lên Thủ tướng. Như vậy, những giao dịch cấp tín dụng giữa TCTD và khách hàng của họ, vốn thuần túy mang tính thương mại, đã bị biến thành giao dịch mang tính hành chính, có hơi hướng xin cho, “huy động cả hệ thống chính trị”, lên đến tận cấp Thủ tướng. Trừ khi cả nước chỉ có một vài dự án thuộc dạng này, nếu không sẽ khó mà tính được phí tổn xã hội và cả những rủi ro liên quan cho những việc như vậy.

Tóm lại, tuy có thể những quyết định tương tự như thế này là cần thiết ở một khía cạnh nào đó, trong ngắn hạn, nhưng cần thiết phải được hạn chế và hủy bỏ trong thời gian tới để nền kinh tế nói chung và hệ thống TCTD nói riêng vận hành theo đúng quy luật thị trường, minh bạch và không có các giấy phép “con” dưới dạng các bản giải trình, xin xỏ các cơ quan quản lý chức năng.

Wednesday, 18 April 2018

Tình hình xử lý nợ xấu qua báo cáo tài chính của VAMC (Bài đăng trên TBKTSG, 18/4/2018, bản gốc)


http://www.thesaigontimes.vn/271243/Tinh-hinh-xu-ly-no-xau-qua-bao-cao-tai-chinh-cua-VAMC.html

Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đã đăng tải Báo cáo tài chính năm 2016 trên website của mình ngày 19/3/2018. Từ việc đăng thông tin như thế này và nội dung các báo cáo tài chính của VAMC có thể thấy được một số điểm đáng chú ý.
Lại vẫn là chuyện công bố thông tin chậm và không đầy đủ
Điều trước tiên có thể nói về VAMC là việc công bố chậm chễ và không đầy đủ của bản thân VAMC lẫn cơ quan chủ quản, tức Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và cả Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) về báo cáo tài chính định kỳ của VAMC theo quy định của pháp luật hiện hành.
Như trên đã nêu, đến tận ngày 19/3/2018 VAMC mới đăng tải Báo cáo tài chính năm 2016. Ngày này cũng là ngày mà VAMC đăng Báo cáo tài chính năm 2015 (nhưng không có Báo cáo tài chính năm 2014). Trong khi đó, ở trang đầu của Báo cáo tài chính 2016 có hình con dấu với nội dung “Cục thuế Hà Nội tiếp nhận hồ sơ hành chính thuế năm 2017 ngày 17-03 loại kê khai thuế”. Lưu ý thêm rằng trong Báo cáo tài chính năm 2015 và 2016 không có dấu hay thông tin xác nhận của công ty kiểm toán độc lập, nên có thể hiểu rằng các báo cáo (đăng tải) này chưa được kiểm toán.
Những chi tiết trên cho thấy đã có sự vi phạm Điều 18 của Nghị định 81/2015/NĐ-CP về công bố báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Theo đó, VAMC đã: (i) không công bố báo cáo tài chính sáu tháng; (ii) không công bố báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán; (iii) không công bố báo cáo tài chính đúng thời hạn (không muộn hơn ngày 15/8 của năm báo cáo đối với báo cáo tài chính sáu tháng và không muộn hơn ngày 31/5 của năm liền sau năm báo cáo đối với báo cáo tài chính năm).
Đồng thời, NHNN – cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước của VAMC – và Bộ KHĐT cũng đã không thực hiện đúng Điều 18 của Nghị định 81/2015 khi không công bố báo cáo tài chính sáu tháng và báo cáo tài chính năm (đã được kiểm toán) của VAMC trong vòng năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo tài chính của VAMC (theo Nghị định 81 thì VAMC phải gửi các báo cáo này cho hai cơ quan này không muộn hơn ngày 15/8 của năm báo cáo đối với báo cáo tài chính sáu tháng và không muộn hơn ngày 31/5 của năm liền sau năm báo cáo đối với báo cáo tài chính năm). 
Cũng có thể VAMC đã không gửi hoặc gửi không đúng hạn các báo cáo tài chính của mình cho NHNN và Bộ KHĐT như quy định, nhưng hai cơ quan này phải có trách nhiệm cũng như chế tài thích ứng để buộc VAMC cung cấp các báo cáo tài chính đúng hạn, theo quy định của Nghị định 81/2015.
Chuyện công bố thông tin muộn không những chỉ là một sự vi phạm nghiêm trọng pháp luật hiện hành mà còn không cung cấp cho công luận kịp thời và đầy đủ thông tin về nợ xấu và tình hình xử lý nợ xấu, ảnh hưởng tiêu cực đến việc đưa ra những giải pháp xử lý nợ xấu phù hợp và hữu hiệu.
Tỷ lệ nợ xấu thực tế lớn hơn nhiều con số công bố
NHNN cho biết tổng mức nợ xấu (gồm nợ tiềm ẩn, nợ VAMC đã mua, và nợ xấu nội bảng tại ngân hàng) đến cuối năm 2016 là 600 nghìn tỷ đồng, tương đương với tỷ lệ 10,08% (1).
Tuy nhiên, theo Báo cáo tài chính năm 2016, VAMC đã mua 207,6 nghìn tỷ đồng nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt (TPĐB) tính đến ngày 31/12/2016, và con số này được hạch toán nội bảng bởi VAMC (trang 17). Trong khi đó, VAMC lại có đến 399 nghìn tỷ đồng nợ mua bằng TPĐB được hạch toán ngoại bảng tính đến ngày 31/12/2016 (trang 4). Như vậy, nếu cộng hai khoản này thì chỉ riêng nợ xấu mà VAMC đã mua về bằng TPĐB đã lên tới 607 nghìn tỷ đồng.
Với tổng dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng tính đến cuối tháng 12/2016 là hơn 5,5 triệu tỷ đồng (2), chỉ riêng số nợ xấu nằm tại hoặc quản lý bởi VAMC đã tương đương với tỷ lệ khoảng 10,9%.
Nếu cộng thêm với tỷ lệ nợ xấu nội bảng tại ngân hàng đến cuối năm 2016 là 2,46%, theo công bố của NHNN (1) thì tỷ lệ nợ xấu đã lên đến trên 13%, lớn hơn nhiều con số đã được công bố. Lưu ý thêm rằng con số tỷ lệ nợ xấu tạm tính này chưa bao gồm nợ xấu tiềm ẩn.
Xử lý và thu hồi nợ xấu vẫn rất chậm
Năm 2015, theo Bảng cân đối kế toán, VAMC phát hành 195,4 nghìn tỷ đồng TPĐB theo mệnh giá để mua nợ xấu, nhưng chỉ thu hồi được 8,6 nghìn tỷ đồng (trang 3), tức chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn là 4,4%. Năm 2016, tỷ lệ này đạt 4,3%, cho thấy không có cải thiện chút nào trong việc thu hồi nợ xấu đã mua bằng TPĐB.
Nói cách khác, VAMC về thực chất vẫn chỉ là một nơi thu gom nợ xấu. Việc thu hồi nợ xấu là rất hạn chế, và có được chủ yếu là bởi những khoản nợ xấu mua về là những khoản nợ xấu có chất lượng do đã được VAMC lựa chọn khi mua. Đó là chưa kể vì một số lý do nào đó mà đến 2/3 nợ xấu mà VAMC mua về lại được cơ quan này hạch toán ngoại bảng, và điều này càng chứng tỏ sự giới hạn trong khả năng xử lý nợ xấu của VAMC.
Có cấp thêm vốn cũng không khác biệt nhiều
Trong Báo cáo tài chính năm 2016 VAMC có “phàn nàn” rằng mặc dù vốn điều lệ của VAMC đã được phê duyệt tăng từ 500 tỷ đồng lên 2.000 tỷ đồng có hiệu lực từ 5/4/2015 (trang 10), nhưng đến 31/12/2016 VAMC vẫn chưa nhận được số vốn bổ sung.
Trong khi đó, VAMC mua nợ xấu hoàn toàn bằng TPĐB, không dùng một đồng vốn điều lệ nào để mua nợ xấu. Hơn nữa, Báo cáo tài chính năm 2016 cho thấy VAMC có tới hơn 14 nghìn tỷ đồng tiền mặt và tiền gửi tại các tổ chức tín dụng. VAMC, về nguyên tắc, hoàn toàn có thể dùng một phần trong số này, ít nhất là phần tiền gửi có kỳ hạn (dài) tại các ngân hàng, để mua (kinh doanh) nợ xấu, nếu muốn. 
Như vậy, có lẽ VAMC không cần phải được cấp thêm vốn để họ mua nợ xấu bằng “tiền tươi thóc thật” nhằm làm tăng tốc độ và hiệu quả xử lý nợ xấu như là một giải pháp đề xuất bởi nhiều chuyên gia, quan chức. 
Khả năng bù đắp bằng tài sản thế chấp ngày càng suy giảm
Đối với 345 nghìn tỷ đồng nợ xấu đã mua bằng TPĐB và được VAMC hạch toán ngoại bảng năm 2015, giá trị tài sản thế chấp, cầm cố là 368,5 nghìn tỷ, tức tương đương với 107% (lưu ý rằng VAMC không công bố giá trị tài sản thế chấp, cầm cố cho phần nợ xấu hạch toán nội bảng). Con số tương ứng năm 2016 đã giảm xuống còn 103%. Điều này có thể một phần là do nợ lãi ngày càng tăng khi nợ gốc không được xử lý, phải tiếp tục mang sang các năm sau, trong khi giá trị tài sản thế chấp, cầm cố thì vẫn vậy, không sinh ra đồng lãi nào. Lưu ý rằng năm 2016 thì giá trị bất động sản – loại tài sản thế chấp phổ biến – cũng đã phục hồi và tăng mạnh so với những năm trước đó nên niềm hy vọng giá trị bất động sản còn tăng mạnh hơn trong những năm sau này để đảm bảo việc thu hồi các khoản nợ xấu ngày càng trở nên mong manh hơn.
Thực tế trên chứng tỏ mức độ bất an và khả năng thu hồi nợ xấu ngày càng suy giảm khi giá trị tài sản thế chấp, cầm cố ngày càng giảm sút và tiệm cận đến mức ngang bằng hoặc thậm chí thấp hơn giá trị nợ gốc và nợ lãi vay, tước đi động cơ trả nợ đầy đủ và kịp thời của con nợ.
Tóm lại, qua việc công bố báo cáo tài chính của VAMC có thể thấy sự “nhờn” một cách nghiêm trọng với pháp luật hiện hành về công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước và các cơ quan liên đới. Thông tin từ VAMC cũng cho thấy tình hình xử lý nợ xấu rất phức tạp vì ngay đến con số tổng nợ xấu trong nền kinh tế là bao nhiêu cũng không được NHNN thống kê và công bố chính xác, đầy đủ.
Nếu thông tin về VAMC được công bố sớm hơn, cập nhật hơn (và lẽ ra đã phải công bố Báo cáo tài chính năm 2017 vào thời điểm này), giải pháp xử lý nợ xấu dựa vào VAMC có lẽ cũng đã phải được xem xét lại từ cách đây cả năm khi khả năng xử lý và thu hồi nợ xấu có hạn của tổ chức này được bộc lộ rõ ràng.


(1)    http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/tien-te-bao-hiem/2017-11-17/thong-doc-le-minh-hung-ty-le-no-xau-giam-con-861-50489.aspx


(2)    http://thoibaonganhang.vn/den-cuoi-nam-2016-du-no-tin-dung-dat-hon-55-trieu-ty-dong-61893.html

Friday, 6 April 2018

Số liệu tăng trưởng GDP: Ước tính và chính thức hoàn toàn khớp nhau có hợp lý? (Bài đăng trên TBKTSG, 7/4/2018, tiêu đề do báo đặt lại)

http://www.thesaigontimes.vn/270945/So-lieu-tang-truong-GDP-Uoc-tinh-va-chinh-thuc-hoan-toan-khop-nhau-co-hop-ly.html

Từ lâu nay dư luận vẫn đặt dấu hỏi về chất lượng của các con số thống kê do Tổng cục Thống kê (TCTK) công bố. Tuy nhiên, TCTK luôn khẳng định độ tin cậy của những con số này và cho biết việc tính toán được thực hiện theo đúng quy trình và thông lệ quốc tế.
Làm sáng tỏ chất lượng thống kê quả thật là một bài toán khó, bởi người ngoài không có mấy căn cứ để kiểm chứng độ chính xác các số liệu do TCTK công bố, mặc dù cảm nhận thực tế cho thấy có sự “vênh” nhất định giữa con số trên giấy và thực tiễn.
Tuy nhiên, có những dấu hiệu để dễ nhận thấy sự không chính xác về số liệu công bố của TCTK. Ví dụ, về các con số thống kê cả năm như tăng trưởng GDP cả năm, TCTK thường công bố vào cuối tháng 12 của năm đó. Đây là một “thông lệ” khác người, bởi các nước trên thế giới thường công bố tăng trưởng GDP năm trước vào tháng 2, tháng 3, thậm chí là tháng 4 năm sau đó.
Cứ tạm chấp nhận rằng đây chỉ là con số ước tính, sơ bộ do TCTK đưa ra. Điều này không có gì lạ vì nhiều nước cũng đưa ra những dự báo cho cả năm sau đó, hoặc trước thời điểm công bố chính thức cả một vài tháng.
Nhưng đến đây, điều “lạ” với trường hợp của TCTK là những con số ước tính, sơ bộ về tăng trưởng GDP lại thường hoàn toàn trùng khớp với con số chính thức mà họ công bố sau này (sau chỉnh lý, điều chỉnh, nếu có).
Bảng dưới đây minh họa rõ vấn đề này. Con số tăng trưởng GDP, xuất khẩu và nhập khẩu sơ bộ được tác giả lấy từ các báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội do TCTK công bố trên trang web của TCTK vào tháng 12 hàng năm. Còn con số tăng trưởng GDP, xuất khẩu và nhập khẩu chính thức tác giả lấy từ mục “Số liệu thống kê”, là mục chứa số liệu có thể coi là chính thức, đã được chỉnh lý, điều chỉnh. Lưu ý thêm rằng tác giả chỉ lấy số liệu tăng trưởng GDP kể từ năm 2013 vì TCTK đã thay đổi giá cơ sở từ năm 1994 sang năm 2010 cho những năm từ 2013 trở đi (và có công bố trên trang web).


Trong bảng này, tuy số liệu tăng trưởng GDP sơ bộ trùng hợp hoàn toàn với số liệu chính thức, nhưng số liệu về xuất khẩu, nhập khẩu sơ bộ và chính thức lại khác nhau ở mức đáng kể. Vì xuất khẩu, nhập khẩu là những cấu phần của GDP nên, theo logic, khi số liệu xuất khẩu, nhập khẩu thay đổi (so với con số sơ bộ) thì GDP cũng phải thay đổi theo tương ứng.
Nhưng đáng tiếc là sự thay đổi về xuất khẩu, nhập khẩu và, do đó, xuất khẩu ròng, lại không làm thay đổi con số thống kê về tăng trưởng GDP ở Việt Nam do TCTK công bố trong những năm qua.
Cũng có thể có ai đó sẽ lập luận rằng mức chênh lệch xuất khẩu ròng giữa sơ bộ và chính thức là quá nhỏ (vài trăm triệu đô la Mỹ) để có thể làm ảnh hưởng đến con số GDP chính thức. Nhưng cần lưu ý rằng vài trăm triệu đô la Mỹ cũng là đáng kể nếu so với GDP ở mức quanh quẩn 200 tỉ đô la Mỹ hoặc nhỏ hơn của Việt Nam.
Ví dụ, mức chênh lệch xuất khẩu ròng 600 triệu đô la Mỹ năm 2015 tương đương với trên 0,3 điểm phần trăm GDP của Việt Nam trong năm đó. Do đó, theo nguyên tắc, tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2015 cần phải điều chỉnh giảm đi ít nhất 0,3 điểm phần trăm, chỉ còn khoảng 6,3-6,4% chứ không phải 6,68% như TCTK đã báo cáo chính thức, nếu các điều kiện khác không thay đổi (ví dụ, đầu tư, tiêu dùng và tỷ giá).

Sunday, 1 April 2018

Thu thuế hay tịch thu - chỉ là xử lý hậu quả (Bài đăng trên TBKTSG, 2/4/2018, tiêu đề do báo đặt lại)

http://www.thesaigontimes.vn/270682/Thu-thue-hay-tich-thu---chi-la-xu-ly-hau-qua.html

Chính phủ đang trình Quốc hội xem xét đưa vào trong dự án Luật phòng chống tham nhũng (sửa đổi) đề xuất truy thu thuế thu nhập cá nhân với thuế suất 45% với tài sản, thu nhập lớn hơn tài sản, thu nhập đã kê khai, hoặc không giải trình hợp lý. Ngoài ra, Chính phủ cũng thêm rằng việc truy thu thuế này không loại trừ việc xử lý trách nhiệm hình sự và tịch thu tài sản đối với người kê khai, nếu các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự khác chứng minh được tài sản kê khai không trung thực, tài sản tăng thêm không giải trình được một cách hợp lý có được hoặc có nguồn gốc từ hành vi phạm tội. 
Tuy nhiên, cũng có nhiều người cho rằng nếu không chứng minh được nguồn gốc hoặc giải trình không rõ ràng, minh bạch thì phải coi là tài sản bất minh, cần tịch thu , xử lý trách nhiệm hình sự chứ không chỉ đánh thuế cao như đề xuất.
Cả hai luồng ý kiến trên đều hoặc là cực đoan hóa hoặc bỏ sót những trường hợp nằm trong vùng xám.
Với trường hợp đánh thuế thu nhập cá nhân 45%, mức thuế này không là gì cả, không có tác dụng phòng chống tham nhũng. Nếu tài sản do tham nhũng mà có thì dù có bị đánh thuế, người tham nhũng vẫn còn thu về được 55% tài sản tham nhũng, tức là tài sản do phạm pháp (ăn cắp) mà có. Lẽ ra, trong những trường hợp này, nếu chứng minh được đây là tài sản tham nhũng thì tài sản này cần bị tịch thu và người tham nhũng cần bị xử lý hình sự, như luồng ý kiến thứ hai nêu trên đề xuất.
Nhưng nếu tài sản, thu nhập là “bất minh” ở dưới giác độ là chủ sở hữu tài sản này không giải trình được (hợp lý) tại sao mà có, trong khi cơ quan hữu trách cũng không có bằng chứng gì chỉ ra được rằng đây là tài sản, thu nhập có được từ tham nhũng thì rõ ràng trong trường hợp này không thể chỉ duy nhất áp dụng chung thuế suất thuế thu nhập 45% được như đề xuất của Chính phủ, mà cũng chẳng tịch thu được như luồng ý kiến phản đối.
Hướng xử lý trong những trường hợp vùng xám này sẽ khác nhau. Chẳng hạn, nếu đương sự giải trình rằng tài sản, thu nhập có được là do hoạt động sản xuất, kinh doanh (hợp pháp, nhưng không đăng ký, khai báo về thu nhập) thì cần truy thu thuế theo thuế suất phạt như trong các quy định pháp luật hiện hành (không nhất thiết là 45%) và, nếu nghiêm trọng/cần thiết, cần truy cứu trách nhiệm hình sự tội trốn thuế, gian lận thuế.
Như trong trường hợp của một vị quan chức nọ nói là buôn chổi đót mà có được bất động sản triệu đô, chừng nào cơ quan chức năng không chứng minh được điều gì khác thì có lẽ đành phải chấp nhận lời giải trình này. Điều mà cơ quan chức năng có thể và cần phải làm trong trường hợp này là truy thu thuế thu nhập cá nhân theo quy định hiện hành về hành vi trốn thuế, và, nếu cần thiết, phải xử lý hình sự tội kinh doanh trốn thuế (do quy mô lớn của hành vi này). Còn việc tịch thu tài sản trong trường hợp này hoặc các trường hợp tương tự khác thì là vô căn cứ, dù ai cũng cho/biết rằng giải trình nguồn gốc tài sản lớn như vậy từ buôn chổi đót là không hợp lý.
Cũng có nhiều trường hợp hợp lý hóa tài sản là do được thừa kế, biếu tặng. Tuy nhiều trong những trường hợp này xem ra rất đáng ngờ nhưng bởi cũng chẳng có bằng chứng gì khác chống lại đương sự (trừ khi, ví dụ, chứng minh được nguồn gốc phi pháp của tài sản thừa kế, biếu tặng này) nên hãy chấp nhận như vậy, và xử lý theo các điều khoản pháp luật hiện hành tương ứng về thừa kế, biếu tặng…, mà không thể tịch thu được những tài sản này.
Những ví dụ và trường hợp nêu trên cho thấy xử lý bằng việc truy thu thuế (ở một mức ấn định, 45%) với tài sản, thu nhập “bất minh” hoặc tịch thu tài sản, thu nhập này là không thỏa đáng. Quan trọng hơn, đây chỉ là việc xử lý hậu quả (và phần lớn cũng đã được chế tài trong khuôn khổ pháp luật hiện thời), trong khi điều cần làm trước tiên là phải làm tốt, làm nghiêm việc kê khai tài sản, thu nhập của quan chức cũng như việc thẩm tra, theo dõi, giám sát việc kê khai và thay đổi tài sản, thu nhập quan chức từ các cơ quan chức năng liên đới, đồng thời xử lý nghiêm khắc các hành vi vi phạm các quy định liên quan này.
Để việc kê khai và kiểm tra tài sản, thu nhập là bộ lọc hữu hiệu đầu tiên trong công tác phòng chống tham nhũng thì cần thiết phải đưa vào luật sửa đổi một số điều khoản cứng rắn như, ví dụ, nếu phát hiện ra cán bộ nào không trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập thì lập tức sẽ bị cách chức, đình chỉ công tác (bất luận vì lý do gì).
Tiếp đó, các thông tin về tài sản, thu nhập của cán bộ có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập cần được công khai rộng rãi ra công chúng (thông qua, ví dụ, đăng tải trên website của cơ quan), chứ không chỉ bó gọn trong phạm vi cơ quan, đoàn thể nơi người này công tác trong nhiều trường hợp, như trong dự thảo luật hiện nay. Muốn thành tâm phòng chống tham nhũng và có hiệu quả thì càng phải minh bạch tài sản, thu nhập của những công bộc ăn lương từ tiền thuế của dân như kinh nghiệm các nước minh bạch với tham nhũng đã cho thấy. 

Định giá không hợp lý thì mang nhau ra tòa (Bài đăng trên TBKTSG, 1/4/2018)

http://www.thesaigontimes.vn/270670/Dinh-gia-khong-hop-ly-thi-mang-nhau-ra-toa.html

Cho đến nay tại Việt Nam có không ít vụ việc lùm xùm liên quan đến việc định giá tài sản để phục vụ cho việc đầu tư, đặc biệt là khi liên quan đến các doanh nghiệp nhà nước hoặc có vốn nhà nước. Điển hình gần đây nhất là vụ việc Mobifone mua AVG và Sabeco thoái vốn tại dự án đất vàng tại thành phố Hồ Chí Minh. Trong cả hai vụ việc này các cơ quan chức năng đã vạch ra những sai lầm, thiếu sót trong việc định giá tài sản, cổ phần, dẫn đến khả năng gây thiệt hại lớn cho ngân sách nhà nước.
Vì thiệt hại cho ngân sách nhà nước là điều khó có thể tránh khỏi nên các công ty cung cấp dịch vụ định giá liên đới trong những vụ việc này không thể phủi tay, rũ trách nhiệm. Ngoài ra, việc truy trách nhiệm những công ty này còn tạo ra những tiền lệ mang tính răn đe những công ty cung cấp dịch vụ định giá khác, buộc chúng phải hoạt động chuyên nghiệp hơn với chất lượng cao hơn trên tinh thần trung lập và có trách nhiệm cao với dịch vụ của mình. Xử lý nghiêm những vụ việc sai phạm có nguồn gốc từ (cố tình) định giá sai giá trị tài sản cũng là một kênh hữu hiệu góp phần thúc đẩy cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước, cũng như phòng chống tham nhũng, thất thoát từ việc cổ phần hóa, thoái vốn, hoặc đầu tư có yếu tố nhà nước.
Nhưng vấn đề đặt ra là cần truy trách nhiệm và xử lý những công ty định giá trong các vụ việc này như thế nào. Tuy đây là một vấn đề gần như không có tiền lệ ở Việt Nam nhưng điều này không có nghĩa là cơ quan chức năng nhà nước sẽ mặc nhiên tiến hành các biện pháp hành chính như phạt tiền, tước giấy phép hoạt động của các công ty liên đới hoặc hình sự hóa các vụ việc này.
Ở nước ngoài, cách thức xử lý các vụ việc nảy sinh từ vấn đề định giá tài sản, kể cả khi liên quan đến nhà nước, thường là mang tính kinh tế, thông qua kênh tố tụng dân sự để buộc các công ty định giá phải bồi thường khi chứng tỏ được là chúng đã (cố tình) làm sai.
Vụ Chính phủ Mỹ kiện S&P là một ví dụ phù hợp và có tính chất tương thích trong trường hợp này, mặc dù S&P không phải là một công ty định giá tài sản, mà là một hãng xếp hạng tín nhiệm. Hồi đầu năm 2013, Bộ Tư pháp Mỹ cáo buộc S&P có trách nhiệm trong việc gây thiệt hại hàng nhiều tỷ đô la Mỹ cho nhà đầu tư trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, do hãng này đã thổi phồng xếp hạng tín nhiệm các loại chứng khoán thế chấp bằng bất động sản nhằm có thêm nhiều thương vụ kinh doanh mới, từ đó làm lợi cho các nhà phát hành. Trên cơ sở đó, Bộ Tư pháp Mỹ đòi S&P phải bồi thường 5 tỷ đô la Mỹ.
Phản ứng lại, S&P tuyên bố kết quả xếp hạng của mình được bảo vệ bởi quyền được tự do phát biểu, và cáo buộc ngược lại rằng cáo buộc của Bộ Tư pháp Mỹ là một hành động trả đũa do hãng này đã hạ xếp hạng tín nhiệm của Chính phủ Mỹ.
Tuy nhiên, sau hàng loạt thương lượng, đến đầu năm 2015 S&P đồng ý chi trả 1,5 tỷ đô la để khép lại các vụ kiện bởi Bộ Tư pháp và chính quyền ở nhiều bang. S&P cũng đồng ý chi trả 125 triệu đô la cho Quỹ hưu trí California với cùng lý do.
Trong những thương vụ giữa các công ty tư nhân hoặc cá nhân khác, nếu có bên nào đó cho là mình bị hại bởi kết quả định giá tài sản không chính xác thì nơi và người giải quyết cũng vẫn là tòa án.
Năm trước, cũng tại Mỹ, một chủ bất động sản đã kiện công ty bất động sản online Zilow vì cho rằng công cụ “Zestimate” gây lùm xùm của công ty này đã luôn định giá thấp hơn giá trị thật bất động sản của mình, làm cản trở lớn đến việc bán nhà của người này. Người chủ muốn bán bất động sản của mình ở vị trí đẹp với  giá 626 ngàn đô la, gần bằng giá bà mua năm 2009. Nhà đối diện ở bên kia đường lớn hơn một chút nhưng được bán với giá cao hơn nhà bà 100 ngàn đô la. Tuy nhiên, hệ thống định giá tự động của Zilow lại sử dụng giá nhà mới hoàn thiện ở những vị trí kém hơn trong cùng địa hạt để làm giá so sánh, và đưa ra cái giá chỉ là 562 ngàn cho nhà bà này. Bà kiện Zilow để buộc công ty này hoặc phải bỏ công cụ Zestimate hoặc phải sửa đổi nó.
Zilow đã bác bỏ cáo buộc “vô lý” này, cho rằng công cụ này được xây dựng bằng “công thức đặc quyền”, là công cụ kiếm ăn chủ yếu của công ty vì đã được sử dụng rộng rãi để định giá cho hàng trăm triệu bất động sản khắp nước Mỹ và qua đó thu tiền bán quảng cáo.
Nhưng nhiều công ty bất động sản và định giá khác cũng lên tiếng phê phán Zilow bởi nhiều trường hợp giá của Zilow đưa ra quá chênh lệch với giá họ đưa ra và giá mua bán thực tế, làm rối người tiêu dùng. Bản thân Zilow cũng thừa nhận có sai sót. Và tuy không thừa nhận là “nhà định giá” nhưng Zestimate lại ước tính giá bất động sản, tức là đã kinh doanh không phép. Bởi vậy, Zilow rơi vào thế bất lợi và nếu bị xử thua thì rất có thể có nhiều người tiêu dùng ở các nơi khác tiếp tục lôi công ty này ra tòa.
Quay trở lại với các trường hợp liên quan, có yếu tổ nhà nước ở Việt Nam. Với Mobifone, giả sử “không may” mà thương vụ mua AVG suôn sẻ và chỉ sau này thì vấn đề định giá thổi phồng AVG mới được đặt ra. Lúc này, ngoài chuyện xử lý trách nhiệm hình sự cho những sai phạm, cố ý làm trái của Mobifone và các bộ liên đới, điều có thể và cần làm là cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước của Mobifone (tức Bộ Thông tin và Truyền thông) đứng ra kiện các công ty định giá AVG vì đã thổi phồng giá trị của AVG, gây thiệt hại cho nhà nước.
Tương tự, đại diện phần vốn nhà nước của Sabeco (tức Bộ Công thương) có thể đứng ra kiện công ty định giá với cáo buộc đã dùng các phương pháp và cách thức định giá không thích hợp (gồm có việc điều chỉnh các yếu tố khác biệt không trên cơ sở chứng cứ thị trường, theo ý kiến trong báo cáo của Kiểm toán Nhà nước), làm giảm đáng kể giá trị doanh nghiệp làm cơ sở xác định giá khởi điểm.

Tuesday, 27 March 2018

Tỉ giá biến động mạnh vì sao? (Bài đăn trên CafeF, 28/3/2018)

http://cafef.vn/ti-gia-bien-dong-manh-vi-sao-20180328080513968.chn

Tỉ giá VND/USD đã bật tăng mạnh từ tuần trước nối tiếp sang tuần này, hiện đã lên trên mức 22.800, gần bằng mức đỉnh đạt được một năm trước và là mức cao nhất trong lịch sử.

Diễn biến tỉ giá này là một điều khá ngạc nhiên với nhiều người, xét trong bối cảnh dự trữ ngoại hối đã tăng liên tục, đã đạt gần 60 tỷ USD (theo các thông tin gần đây) – mức cao nhất trong lịch sử dự trữ ngoại hối ở Việt Nam. Trong khi đó, cán cân thương mại vẫn đang ở mức thặng dư mấy tháng đầu năm, với mức xuất siêu hàng tỷ USD. Xét về mặt tâm lý, hai yếu tố này là đủ để nâng đỡ và giúp cho sự ổn định của tỉ giá, bởi nhà đầu tư thường có thái độ "trông giỏ bỏ thóc", và họ sẽ tự tin hơn khi thấy nguồn cung USD ở Việt Nam sẽ không gặp trở ngại gì lớn.

Tuy nhiên, nếu nhìn nhận kỹ thì sẽ thấy tỉ giá tăng đáng kể trong thời gian gần đây là một xu hướng tất yếu, bởi sự kết hợp của nhiều yếu tố cơ bản quyết định chiều hướng tỉ giá.
Thứ nhất, về dự trữ ngoại hối, có thể đúng là nó đã tăng nhanh và đạt được mức cao lịch sử. Nhưng, như đã đề cập đến nhiều lần, dự trữ ngoại hối của Việt Nam ở mức cao lịch sử mới chỉ là tính trên mức độ tuyệt đối. Còn trên mức độ tương đối, dự trữ ngoại hối của Việt Nam mới chỉ ở mức "sạch nước cản", chỉ tương đương khoảng đúng 3 tháng nhập khẩu của Việt Nam, là mức tối thiểu được quốc tế khuyến nghị để đảm bảo an toàn vĩ mô.

Quan trọng hơn, xét cho cùng, dự trữ ngoại hối cũng chỉ phản ánh (và là kết quả của) chênh lệch cung cầu USD – là yếu tố quyết định diễn biến tỉ giá VND/USD. Nên sự ổn định của tỉ giá trong hai năm qua cho đến những tháng đầu năm nay có được không phải là do dự trữ ngoại hối tăng liên tục, mà thực chất là trực tiếp bởi nguồn cung USD dồi dào so với cầu USD tại Việt Nam.

Khi cung USD tăng nhanh hơn cầu USD, tỉ giá sẽ có xu hướng giảm đi (VND mạnh lên so với USD). Do điều này là không có lợi cho xuất khẩu nên Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phải mua vào USD để giảm áp lực tăng giá VND. Việc này đã góp phần làm tăng dự trữ ngoại hối. Nói cách khác, dự trữ ngoại hối không phải là chỉ báo hay yếu tố hỗ trợ cho sự ổn định tỉ giá – điều hay được đề cập đến khi phân tích và dự đoán xu hướng tỉ giá ở Việt Nam.

Thứ hai, xét về nguồn cung USD. Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, tính chung trong quý 1/2018, tổng vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài là 5,8 tỷ USD, giảm tới 24,8% so với cùng kỳ 2017. Trong khi đó, tuy không có số liệu chính thức về vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trong quý này, nhưng căn cứ vào hành động bán ròng của khối nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán trong hai tuần qua thì cũng có thể suy đoán rằng dòng vốn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam cũng bị ảnh hưởng. Như vậy, giả sử các yếu tố khác không thay đổi, sự tụt giảm nguồn cung USD từ nhà đầu tư nước ngoài (cả gián tiếp lẫn trực tiếp) đã và sẽ tiếp tục tạo áp lực làm suy yếu VND, tức làm tăng tỉ giá VND/USD.

Nếu lập luận rằng cung USD cũng được hậu thuẫn bởi cán cân thương mại thặng dư trong quý 1 này, thì đây là điều chưa chắc chắn. Nên nhớ rằng các hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hóa thường phải được thanh toán trước khi diễn ra hoạt động thông quan tại cơ quan hải quan, nơi đưa ra thống kê thương mại hàng tháng. Do đó, cho dù thương mại trong quý có đạt được thặng dư nhưng rất có thể dòng tiền đã chảy vào nền kinh tế từ trước đó cả một thời gian chứ không đợi đến khi hàng hóa nhập vào hoặc xuất đi một cách vật lý qua biên giới. Nói cách khác, dù có thặng dư thương mại trong tháng này, quý này, nhưng điều này không có nghĩa là Việt Nam đã thu được từng đó ngoại tệ trong cùng tháng, cùng quý.

Thứ ba, xét về cầu USD. Thống kê cho thấy trong vòng 5 tuần vừa qua, NHNN đã hút ròng lượng tiền khổng lồ, lên đến 147.800 tỷ đồng (riêng tuần qua là 20.200 tỷ đồng, so với 58.100 tỷ đồng tuần trước đó). Điều này chứng tỏ đã có sự dư thừa lớn về thanh khoản tiền đồng trong thời gian dài, gây áp lực lên không chỉ lạm phát (đã tăng lên trong 2 tháng đầu năm) mà còn tỉ giá, vì nhà đầu tư có nhiều hơn một lượng tiền đồng sẵn sàng đổi lấy cùng một lượng USD có sẵn trong nền kinh tế.

Bên cạnh đó, việc Fed tăng lãi suất tại Mỹ gần đây (và sắp tới trong năm nay) cũng làm tăng cầu USD ở nước ngoài, trong đó có Việt Nam, để đầu tư vào Mỹ và/hoặc các tài sản tài chính niêm yết bằng USD.

Tóm lại, xét tổng quát về cung cầu USD trong thời gian qua tại Việt Nam, có thể nhìn thấy rõ áp lực làm tỉ giá tăng hơn là ổn định.

Tỉ giá VND/USD trong 5 năm qua (Nguồn: xe.com)
Tỉ giá biến động mạnh vì sao? - Ảnh 1.

Friday, 23 March 2018

Lỗ hổng phòng chống tham nhũng nhìn từ vụ AVG (Bài đăng trên TBKTSG, 24/3/2018, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/270367/Lo-hong-phong-chong-tham-nhung-nhin-tu-vu-AVG.html

Vụ việc Mobifone mua 95% cổ phần của AVG với giá gần 9000 tỷ đồng từ đầu năm 2016 đã bị Thanh tra Chính phủ phát hiện có nhiều sai phạm đặc biệt nghiêm trọng và bị đề nghị chuyển cơ quan công an khởi tố điều tra.

Đọc Thông báo của Thanh tra Chính phủ về kết quả điều tra, chắc chắn nhiều người sẽ không tránh khỏi cảm giác bàng hoàng và phẫn nộ với một màn kịch “hoành tráng” được đạo diễn hết sức khéo léo, kín kẽ, nhiều lớp lang (thậm chí tính đến cả đường thoát hiểm), và hoàn toàn… đúng quy trình của một số cá nhân liên đới, đến độ thiếu chút nữa thì đúng là “bàn tay che nổi mặt trời”.

Trong vụ này có những sai phạm gì, như thế nào và của ai thì hầu như đã được làm rõ trong Thông báo của Thanh tra Chính phủ và sẽ còn tiếp tục được làm rõ hơn khi cơ quan công an bắt tay điều tra nghiêm túc. Điều quan trọng không kém là bài học về công tác phòng chống tham nhũng rút ra từ vụ việc này.

Khi chất lượng “đúng quy trình” bị bỏ quên!

Một trong những lời biện minh các cá nhân và tập thể liên đới để chạy tội phổ biến nhất trong các vụ việc có hơi hướng tham nhũng là họ đã làm đúng quy trình. Câu thần chú này không hiếm khi có hiệu nghiệm. Bởi quả thật là các quy định hiện hành của pháp luật thường chỉ tập trung vào việc quy định (chi tiết) quy trình thực hiện một cái gì đó, trong khi chất lượng việc thực hiện quy trình này của các cán bộ liên quan ra sao thì lại thường bị bỏ ngỏ, ngoài những câu chữ định tính hết sức chung chung như “thực hiện nghiêm”, “thực hiện đúng”.

Trở lại vụ việc AVG. Ví dụ về vai trò và trách nhiệm của Bộ Thông tin Truyền thông (TTTT) trong việc phê duyệt dự án mua AVG. Theo đúng quy trình, bộ này cũng thành lập Tổ thẩm định dự án với Tổ trưởng là một Vụ trưởng. Tổ thẩm định cũng so sánh các mức giá đưa ra bởi các nguồn khác nhau, trong đó có tổ chức định giá độc lập (và lấy mức giá thấp nhất). Tổ này cũng tổ chức lấy ý kiến phản biện. Dự án chỉ được lãnh đạo bộ phê duyệt sau khi Tổ trưởng thẩm định đã có tờ trình quyết định phê duyệt dự án đầu tư…

Tuy nhiên, trên thực tế, như Thông báo của Thanh tra Chính phủ đã chỉ rõ, Bộ TTTT đã cố ý làm trái nhiều vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm và thẩm quyền của mình. Ví dụ Tổ thẩm định không xem xét, phân tích các thông tin, sử dụng thông tin về giá mà AVG “định bán” cho đối tác nước ngoài, không tổng hợp đầy đủ các ý kiến phản biện…

Như vậy, mặc dù là đã thực hiện đúng quy trình nhưng rõ ràng là chất lượng thực hiện quy trình này là rất có vấn đề, và đã không được kịp thời phát hiện.


Khi minh bạch bị “yểm bùa”
Câu hỏi được đặt ra ở đây là, tại sao những sai phạm, cố ý làm trái rành rành, nghiêm trọng như vậy lại không được phát hiện kịp thời bởi những cấp, những cơ quan có thẩm quyền?
Giả sử nếu công luận ngay từ đầu biết được tình trạng thực của AVG, giá trị giao dịch, cách thức thực hiện giao dịch… thì chắc chắn giao dịch mua bán này sẽ gặp ngay áp lực phản đối lớn và rốt cuộc sẽ bị hủy bỏ (tại mức giá đề xuất). Nói cách khác, nếu mọi việc đều được minh bạch, ít nhất ở một mức nào đó, ví dụ như giá trị giao dịch, thì chắc chắn sẽ không có giao dịch (với mức giá gần 9000 tỷ đồng) này.
Nhưng giao dịch vẫn diễn ra thành công. Và lý do là bởi sự minh bạch đã bị trấn yểm bằng lá bùa mang tên “Mật”!
Lá bùa này được vẽ nên bởi sự bắt tay tinh vi và rất đúng bài bản giữa những cá nhân liên đới trong Bộ TTTT và Bộ Công an. Phía Bộ TTTT thì gửi văn bản “đề nghị” Bộ Công an cho ý kiến đưa giao dịch mua AVG này vào danh mục Mật. Được tham vấn thì trả lời, Bộ Công an đã “thống nhất” với yêu cầu này của Bộ TTTT. 
Được khoác danh “Mật” với thời hạn không xác định do Bộ Công an xác nhận thì dự án đầu tư này đương nhiên thoát được khỏi nghĩa vụ minh bạch hóa, dù Mobifone là doanh nghiệp nhà nước, dù Bộ TTTT là cơ quan đại diện chủ sở hữu và đồng thời là cơ quan quản lý nhà nước về thông tin, truyền thông nên phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật hiện hành về công bố thông tin.
Bài học
Như vậy, cái thiếu vắng hiện nay trong phòng chống tham nhũng không phải là sự thiếu vắng, không hoàn chỉnh của hệ thống pháp luật hiện hành. Bởi vậy, nỗ lực phòng chống tham nhũng không nên, không chỉ tập trung vào “tiếp tục hoàn thiện” khuôn khổ pháp luật, tiếp tục đề ra và hoàn thiện các quy trình đầu tư, xét duyệt... như là một giải pháp hữu hiệu.
Thay vào đó, sự minh bạch hóa của doanh nghiệp nhà nước, của các cơ quan quản lý  là điểm rất yếu, yếu nhất trong công tác phòng chống tham nhũng hiện nay. Dù đã được chế tài khá đầy đủ bằng hàng loạt quy định pháp luật liên quan nhưng các đối tượng có nghĩa vụ minh bạch thông tin vẫn “nhởn nhơ” không công bố hoặc công bố không đầy đủ thông tin theo yêu cầu. Quan trọng hơn, sự vi phạm pháp luật trắng trợn này diễn ra đều đều, thường xuyên, nhưng hầu như chưa bao giờ bị xử lý (nghiêm túc, có tính răn đe mạnh), bất chấp những lời từ kiến nghị đến “quyết liệt” cảnh báo, răn đe, kể cả từ cấp cao trong Chính phủ.
Nguy hại hơn, vụ việc AVG có lẽ là lần đầu tiên còn cho thấy đã có sự bắt tay và lũng đoạn có hệ thống không chỉ trong nội bộ của một cơ quan, doanh nghiệp, mà còn ở cấp độ “liên bộ” hoặc cao hơn, dễ dàng vô hiệu hóa hiệu lực của hệ thống phòng chống tham nhũng. Nếu không có sự kiên quyết chỉ đạo của Ban Bí thư, có lẽ rồi vụ việc sẽ chìm vào im lặng bởi những lá bùa trấn yểm quá độc và những thế lực đằng sau đó quá lớn.
Bởi vậy, song song với thực hiện nghiêm minh việc minh bạch hóa thông tin, cơ quan phòng chống tham nhũng cần có người đứng đầu liêm chính, có bàn tay sắt và tinh thần chống tham nhũng tới cùng.

Wednesday, 14 March 2018

Bảo hộ - cần tỉnh táo, rạch ròi (Bài đăng trên TBKTSG, 14/3/2018)

http://www.thesaigontimes.vn/269748/Bao-ho---can-tinh-tao-rach-roi.html


Tự do hóa thương mại là có lợi cho nền kinh tế toàn cầu nói chung và các quốc gia nói riêng. Điều này không chỉ được chứng minh trên lý thuyết mà còn đúng trên thực tế khi các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương liên tục được hình thành và phát triển.

Trong dòng chảy toàn cầu như vậy, chủ nghĩa bảo hộ nhân danh quyền lợi quốc gia chưa bao giờ chết hay mất đi sức mạnh và tầm ảnh hưởng. Sự “trường tồn” của chủ nghĩa bảo hộ được nuôi dưỡng có thể bởi động cơ chính trị của các chính trị gia khi vận động tranh cử hoặc khi đang tại quyền muốn lợi dụng bảo hộ để thu phục sự ủng hộ của những nhóm lợi ích bị thiệt hại bởi tự do hóa thương mại. Bên cạnh đó, chủ nghĩa bảo hộ cũng có thể được nuôi dưỡng bởi sự vận động hành lang của các nhóm lợi ích như một công cụ bảo vệ đặc quyền của họ.

Trong một số trường hợp, bảo hộ thực sự có ý nghĩa và cần thiết khi nó được dùng như một công cụ trong một gói chính sách để trợ giúp phát triển các ngành công nghiệp địa phương non trẻ nhưng có tiềm năng. Đặc biệt, bảo hộ cũng là cần thiết và xác đáng khi các nhà sản xuất nội địa bị cạnh tranh một cách không công bằng với các nhà sản xuất nước ngoài do các nhà sản xuất nước ngoài được, ví dụ, trợ giá bởi chính phủ của họ, hoặc họ bán phá giá để giành thị phần tại nước ngoài. Đây là trường hợp điển hình khiến Mỹ gần đây đã xem xét đánh thuế cao hơn đối với một số mặt hàng nhập khẩu vào Mỹ như máy giặt, pin mặt trời, thép và nhôm... - là hành động mà trong con mắt của nhiều người, đã làm trỗi dậy chủ nghĩa bảo hộ, vốn có khả năng châm ngòi cho chiến tranh thương mại với các đối tác của mình.

Ở Việt Nam, chính sách bảo hộ đã in đậm dấu ấn trong một số ngành mà điển hình là ô tô và mía đường. Danh sách ngành được bảo hộ thỉnh thoảng còn được bổ sung thêm những ngành mà các doanh nghiệp của ngành (nhiều khi là các doanh nghiệp nhà nước) làm ăn thua lỗ, bị cạnh tranh khốc liệt bởi hàng nhập khẩu, như phân bón, polyester lớn tiếng “kể khổ” để rồi được Chính phủ ra tay cứu vớt bằng các hàng rào thuế quan và phi thuế quan.

Điểm chung của các ngành được bảo hộ ở Việt Nam là chúng không phải là những ngành công nghiệp non trẻ nữa, và cũng không phải là công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp xanh, có tính sáng tạo, có tiềm năng thành công và cần khuyến khích phát triển bằng mọi giá. Và khác với Mỹ, sản phẩm của nhiều trong số những ngành này ở Việt Nam không cạnh tranh được với sản phẩm nhập khẩu đơn giản vì các doanh nghiệp sản xuất bằng những công nghệ lạc hậu, quy mô nhỏ, chi phí cao, phụ thuộc nặng nề vào nguyên phụ liệu và bán thành phẩm nhập khẩu.
Trong nhiều trường hợp, các dự án sản xuất được “vẽ” ra và thực thi một cách duy ý chí và/hoặc để có điều kiện tham nhũng, từ khâu thiết kế, xây dựng đến vận hành và tiêu thụ sản phẩm mà bất chấp hiệu quả của dự án, với tâm lý lỗ đâu thì “kêu” Nhà nước đến đó.

Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp trong các ngành được bảo hộ được cho ra đời hoặc bắt tay vào sản xuất sản phẩm nhiều khi chỉ đơn giản bởi chạy theo lối tư duy kinh tế thời bao cấp rằng cái gì phải nhập khẩu (nhiều) thì hãy sản xuất ở trong nước mà bất chấp các tính toán thiệt hơn về lợi thế so sánh với các nước xuất khẩu.

Các phong trào như phát triển xi măng lò đứng và chương trình mía đường quốc gia theo các đề án quy hoạch mang nặng dấu ấn kinh tế kế hoạch hóa cũng là những tác nhân chủ yếu dẫn đến hậu quả các địa phương đua nhau xây nhà máy xi măng, trồng mía và chế biến đường, để rồi sản phẩm làm ra chất đống trong kho do chất lượng kém, giá thành cao, bán trong nước không được, xuất đi cũng không xong, tạo liên tưởng đến chương trình “Đại nhảy vọt” của Trung Quốc năm nào. Từ đây lại xảy ra tâm lý “đâm lao phải theo lao”, Chính phủ buộc phải “tháo gỡ khó khăn” bằng các biện pháp bảo hộ và trợ cấp cho các doanh nghiệp.

Để biện minh và làm tăng thêm sức nặng cho lời kêu gọi bảo hộ từ Nhà nước, các doanh nghiệp và hiệp hội thường nhấn mạnh đến hậu quả hàng ngàn công nhân trong ngành mất việc, hàng triệu nông dân sản xuất, nuôi trồng nguyên liệu sẽ bị ảnh hưởng nặng nề khi các nhà máy đóng cửa. Đương nhiên là khi vận động như vậy, lợi ích tổng thể của một nền kinh tế với gần 100 triệu người tiêu dùng không bao giờ được đề cập đến.

Trong bối cảnh này, Chính phủ cần tỉnh táo, rạch ròi trước khi đưa ra những chính sách bảo hộ (mới). Chính sách bảo hộ cần phải tránh là hậu quả của sự vận động hành lang của nhóm lợi ích liên quan hay bản thân người làm chính sách chỉ để bảo vệ đặc lợi của họ mà không công tâm xét đến tính cần thiết của bảo hộ. Lắng nghe công luận thì sẽ biết được chính sách bảo hộ phục vụ ai và có xứng đáng không.

Và cũng như trên đã nói, nếu lỗi của sự cạnh tranh yếu không nằm ở phía nước ngoài, mà là hậu quả có yếu tố nội tại như sự phát triển tràn lan theo quy hoạch bất hợp lý, công nghệ và thiết bị lạc hậu, quy mô nhỏ, tham nhũng nặng nề, trong khi bản thân chúng không phải là những ngành, những sản phẩm non trẻ, có tiềm năng, cần khuyến khích và hỗ trợ của Chính phủ... thì Chính phủ cần (dũng cảm) bỏ tư duy “đâm lao phải theo lao”, nói không với bảo hộ, kể cả những ngành có sự hiện diện của các doanh nghiệp nhà nước.

Tất nhiên là nếu không bảo hộ thì sẽ có ngay hàng ngàn người có quyền lợi liên đới bị ảnh hưởng. Nhưng kể cả khi phải trợ cấp, giải quyết gánh nặng kinh tế như mất việc, chuyển đổi sản xuất, kinh doanh, trồng trọt, chăn nuôi... thì chi phí mà Nhà nước phải bỏ ra có thể sẽ chỉ bằng một phần phí tổn mà Nhà nước nói riêng và cả nền kinh tế phải gánh chịu khi phải “cưu mang” những doanh nghiệp và những ngành sản xuất không hiệu quả, không ít trong số chúng là các “xác sống”.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).