Saturday, 7 November 2015

Lãi suất sẽ chỉ tăng chứ không giảm (Bài đăng trên TBKTSG, 8/11/2015)

http://www.thesaigontimes.vn/137973/Lai-suat-se-chi-tang-chu-khong-giam.html

Một số ngân hàng thương mại gần đây đã tiếp tục điều chỉnh tăng lãi suất từ 0,1-0,5 điểm phần trăm, đồng thời đưa ra các chương trình khuyến mãi để tăng thêm tính cạnh tranh nhằm thu hút tiền gửi từ dân cư.

Dư luận lo ngại rằng chiều hướng đi lên của như thế này của lãi suất sẽ tiếp tục trong thời gian tới, chất thêm gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp trong bối cảnh môi trường kinh doanh chung vẫn còn nhiều khó khăn, chưa thấy có triển vọng cải thiện nhiều.
 
Quả thật, lo ngại này là hoàn toàn có cơ sở nếu phân tích từ góc độ những yếu tố cơ sở hình thành và tác động đến mặt bằng lãi suất ở Việt Nam hiện nay và trong thời gian sắp tới.
 
Cán cân cung cầu tiền đang lệch mạnh
 
Thứ nhất, xét về cung tiền. Tính đến ngày 21-9, tổng phương tiện thanh toán (M2) tăng 8,88% so với cuối năm 2014. Nếu chỉ nhìn vào con số này có thể nói là tăng trưởng cung tiền không hề thấp. Nhưng nếu so với con số cùng kỳ năm 2014, ở mức 10,73% (tính đến ngày 30-9-2014), và so với con số tăng trưởng dự báo cho năm 2015 mà Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đưa ra vào tháng 9-2014 là khoảng 16-18%, thì có thể kết luận rằng cung tiền đã tăng chậm lại đáng kể trong năm nay so với năm trước và so với kỳ vọng của NHNN.
 
Thứ hai, xét về cầu tiền. Theo Tổng cục Thống kê, tính đến ngày 21-9-2015 tăng trưởng tín dụng là 10,78%. Con số này không những bỏ xa tăng trưởng cung tiền mà còn là mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 2011. Tăng trưởng tín dụng cùng kỳ năm trước (tính đến cuối tháng 9-2014) chỉ đạt xấp xỉ 7%. Nếu cũng so với dự báo của Thống đốc NHNN đưa ra hồi tháng 9 năm ngoái, với dư nợ tín dụng tăng khoảng 12-14% so với cuối năm 2014 thì có thể thấy tăng trưởng tín dụng cho năm nay hoàn toàn có thể vượt mức kế hoạch.
 
Như phân tích ở trên, cung tiền tăng chậm lại trong khi cầu lại tăng mạnh nên dễ hiểu tại sao mặt bằng lãi suất trong năm 2015, đặc biệt là mấy tháng gần đây, lại có chiều hướng tăng lên chứ không thể giảm đi so với năm 2014 (là năm mà tăng trưởng M2 mạnh hơn nhiều so với tăng trưởng tín dụng).
 
...Và tiếp tục lệch trong tương lai gần
 
Về triển vọng lãi suất trong thời gian tới, đương nhiên là phụ thuộc phần lớn vào diễn biến tăng trưởng M2 và tăng trưởng tín dụng. (Nói là “phần lớn” vì còn có thể có thêm yếu tố can thiệp hành chính của NHNN như quy định hay siết chặt trần lãi suất huy động và/hoặc cho vay).
 
Trong thời gian tới, cung tiền M2 nhiều khả năng sẽ còn tăng chậm, chủ yếu là do tỷ giá tiếp tục bị kìm nén. NHNN xem ra rất quyết liệt trong việc giữ ổn định tỷ giá trong những tháng cuối năm và sang đầu năm 2016, bất chấp khả năng Mỹ sẽ tăng lãi suất hoặc những biến động bất lợi trong và ngoài nước khác. Để đạt được mục tiêu này, NHNN đã huy động hầu như tất cả các công cụ và biện pháp có thể, từ các biện pháp kinh tế như thắt chặt hơn cung tiền đồng, bán ngoại tệ can thiệp đến các biện pháp hành chính như giảm trần lãi suất huy động đô la Mỹ và thắt chặt điều kiện mua/vay ngoại tệ... Không gian chính sách còn lại cho NHNN bởi vậy là rất hạn hẹp.
Trong bối cảnh có những ràng buộc về tỷ giá và lạm phát thì cung tiền khó có khả năng tăng mạnh, còn nhu cầu về vốn/tín dụng cho nền kinh tế nói chung và cho Chính phủ nói riêng lại tiếp tục tăng, do đó mặt bằng lãi suất tiền đồng sẽ có xu hướng đi lên, chứ không thể giảm.
 
Do đó, việc nới lỏng mạnh cung tiền M2 để giảm áp lực lên lãi suất là lựa chọn rất khó xảy ra trong chừng mực NHNN vẫn tiếp tục kiên định với chính sách neo tỷ giá như hiện tại.
 
Ngược lại, về phía cầu tiền, tín dụng nhiều khả năng tiếp tục được (cho phép) đẩy mạnh để “thúc” tăng trưởng GDP cao, hơn các năm trước. Đáng lo ngại hơn, Chính phủ đang phải đối mặt với áp lực huy động vốn thông qua các kênh vay nợ, mà nếu thực hiện ráo riết thì sẽ gây ra hiệu ứng “cào bớt” vốn cho khu vực dân doanh, dẫn đến mặt bằng lãi suất trong nền kinh tế sẽ bị nâng lên.
 
Nếu Chính phủ phát hành trái phiếu bằng tiền đồng huy động trong nước, và để thành công, Chính phủ buộc phải tăng lãi suất huy động cao hơn mức hiện tại, khi đó sẽ gây áp lực tăng mặt bằng lãi suất trong nước.
 

Giả sử Chính phủ lựa chọn phát hành trái phiếu bằng đô la Mỹ vì cho rằng việc này không làm tăng mặt bằng lãi suất tiền đồng trong nước, Chính phủ sẽ phải bán số đô la Mỹ huy động được này cho hệ thống ngân hàng hoặc (cuối cùng là) NHNN. Nếu NHNN không tung lượng tiền đồng đối ứng ra để thu hút lượng ngoại tệ tăng lên này thì cầu tiền đồng sẽ tăng lên đột ngột trong khi cung tiền đồng không thay đổi, dẫn đến áp lực lãi suất tiền đồng tăng lên.
 
Không những vậy, tiền đồng lại có xu hướng lên giá so với đô la Mỹ, gây thêm tác hại cho nền kinh tế thông qua kênh thương mại khi hàng hóa sản xuất tại Việt Nam càng trở nên kém cạnh tranh hơn so với hàng ngoại.
 
Ngược lại, nếu NHNN tung tiền đồng ra để mua lại lượng đô la Mỹ huy động được thì lại gây áp lực lên lạm phát. Hiện tại, lạm phát vẫn còn đang rất thấp và chưa là mối lo hiện hữu, nhưng nếu các luồng vốn ngoại tệ (ODA, kiều hối, đầu tư gián tiếp...) tiếp tục đổ vào Việt Nam thì trong tương lai không xa lạm phát sẽ bùng phát trở lại, tương tự như bối cảnh các năm hậu WTO. Để giảm thiểu khả năng này, NHNN sẽ phải thận trọng với việc trung hòa lượng đô la Mỹ chảy vào Việt Nam thông qua tăng cung tiền đồng, tức là giới hạn khả năng giảm lãi suất tiền đồng.

Điều quan trọng hơn là trong tương lai gần khi lượng trái phiếu/vay nợ đô la Mỹ này đến hạn thanh toán thì Chính phủ và các con nợ sẽ phải huy động tiền đồng với lãi suất cao hơn để mua và trả nợ gốc và lãi các khoản vay đô la Mỹ. Việc này hoặc sẽ làm tăng mặt bằng lãi suất tiền đồng, hoặc sẽ làm tăng áp lực lên tỷ giá nếu NHNN không bán ngoại tệ can thiệp.
 
Nếu Chính phủ vay mượn trực tiếp từ NHNN như khoản 30.000 tỉ đồng mới đây, về bản chất là việc NHNN phát hành tiền cho Chính phủ vay, điều này sẽ làm tăng cung tiền dẫn đến áp lực lên tỷ giá, buộc NHNN phải trung hòa bằng cách rút bớt tiền đồng từ lưu thông thông qua phát hành tín phiếu NHNN.
 
Như vậy, mặt bằng lãi suất sẽ không có điều kiện để giảm đi từ kênh này của NHNN. Đáng chú ý là khi Chính phủ trả lại khoản vay này cho NHNN (nếu có) thì Chính phủ lại phải tăng cường huy động, vay mượn đâu đó ở trong nước để huy động cho đủ số này, nên lúc đó mặt bằng lãi suất lại chịu áp lực tăng lên.
 

Tóm lại, có thể kết luận rằng trong bối cảnh có những ràng buộc về tỷ giá và lạm phát thì cung tiền khó có khả năng tăng mạnh trong khi nhu cầu về vốn/tín dụng cho nền kinh tế nói chung và cho Chính phủ nói riêng sẽ gia tăng mạnh, làm cho mặt bằng lãi suất tiền đồng ở Việt Nam sẽ có xu hướng đi lên trong thời gian tới.

Tác động của TPP nhìn từ chương Đối xử quốc gia và Tiếp cận thị trường hàng hóa (Bài đăng trên CafeF, 7/11/2015)


http://cafef.vn/vi-mo-dau-tu/tac-dong-cua-tpp-nhin-tu-chuong-doi-xu-quoc-gia-va-tiep-can-thi-truong-hang-hoa-20151107161259889.chn


TPP hướng tới tạo lập một sân chơi bình đẳng cho doanh nghiệp và người lao động của mỗi nước thành viên trên thị trường các nước thành viên khác. Bằng việc xóa bỏ thuế nhập khẩu và xuất khẩu (hoặc cắt giảm theo lộ trình) cho các hàng hóa lưu thông giữa các nước thành viên, TPP được kỳ vọng sẽ đảm bảo mọi chủ thể kinh tế từ nông dân đến chủ trang trại, nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ, và các doanh nghiệp nhỏ ở mỗi quốc gia thành viên đều có cơ hội cạnh tranh bình đẳng với các đối thủ ở các nước thành viên khác trên một thị trường cực kỳ rộng lớn gồm 12 nước thành viên của khu vực kinh tế Châu Á Thái Bình Dương năng động.


Nếu cạnh tranh thành công ở một hay nhiều nhóm hàng hóa nào đó thì các quốc gia thành viên sẽ có điều kiện mở rộng sự hiện diện của các nhóm hàng hóa đóng mác “Made in...” ở nước mình ra toàn bộ khu vực TPP và nhờ đó tạo thêm công ăn việc làm và thu nhập cho công dân của mình. Nói cách khác, TPP sẽ tạo ra cái thế “Win-Win” (cùng thắng) cho tất cả các thành viên. Vậy ai sẽ là người thua thiệt? Đó là nhà xuất khẩu ở các nước phi thành viên TPP vốn đang xuất khẩu vào khu vực TPP. Khi TPP hình thành và xóa bỏ hàng rào thuế quan nội khối, hàng hóa xuất khẩu của các nước bên ngoài khối đột nhiên trở nên bất lợi so với hàng hóa tương đương sản xuất trong nội khối dẫn đến sụt giảm khối lượng và kim ngạch xuất khẩu vào thị trường TPP.


Ngược lại, nếu yếu thế, nhiều mặt hàng hiện đang được sản xuất và được bảo hộ bởi hàng rào thuế quan cao trong mỗi nước thành viên sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị đào thải bởi hàng nhập khẩu từ các nước thành viên khác. Do đó, công ăn việc làm và thu nhập của các ngành và doanh nghiệp tương ứng sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Bởi vậy, có thể nói TPP (hay bất cứ một thỏa thuận thương mại tự do – FTA – nào khác, ở mức độ thấp hơn) buộc các nước thành viên phải tái cấu lại nền kinh tế của họ, và họ có phát triển được hay không là nhờ có phát huy những thế mạnh của mình hay không.


Với Việt Nam, lợi thế có thể thấy ngay khi TPP có hiệu lực là nó sẽ xóa bỏ ngay hàng rào thuế quan hiện đang ở mức tương đối cao cho một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào các nước thành viên TPP.  Theo một tính toán của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách phối hợp với JICA thì những mặt hàng này là gạo (có mức thuế suất trung bình 33,5% vào năm 2011), sản phẩm sữa (22,3%), sản phẩm giày dép (14,6%), quần áo (10,8%) và dệt (8,4%). Khi chưa có TPP, ảnh hưởng bất lợi của những mức thuế suất cao như vậy lên những hàng hóa xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào thị trường trong khối càng được khuyếch đại hơn khi nhiều nước trong khối có những FTA với các nước và khu vực khác, trong và ngoài TPP, ví dụ như NAFTA, và nhờ đó hàng hóa xuất khẩu giữa các nước thành viên của các FTA này đã và đang được hưởng thuế suất 0% tạo nên ưu thế áp đảo so với hàng xuất khẩu của Việt Nam.


Tương tự như vậy trên phương diện nhập khẩu. Khi TPP có hiệu lực, Việt Nam sẽ phải xóa bỏ ngay hàng rào thuế quan cho một số nhóm hàng hóa nhập khẩu từ các nước thành viên hiện đang có thuế suất nhập khẩu cao như gạo (trung bình là 24,4% vào năm 2011, cũng theo nguồn tính toán nêu trên), thịt gia súc (13,6%), các loại thịt khác (17,5%), thực phẩm chế biến (12,1%), quần áo (13,2%), sản phẩm gỗ (6,1%) và các hàng hóa chế tạo khác (6,5%)...


TPP đã dành hẳn một chương, Đối xử quốc gia và Tiếp cận thị trường (gọi tắt là chương Hàng hóa), quy định những nghĩa vụ cơ bản cho các nước thành viên TPP xóa bỏ thuế quan cho những hàng hóa nhập khẩu từ nội khối đáp ứng điều kiện hưởng thuế 0% và đối xử với các hàng hóa này như với hàng hóa sản xuất trong nước (đối xử quốc gia). Việc xóa bỏ hàng rào thuế quan sẽ diễn ra ngay lập tức với phần lớn hàng hóa nhập khẩu, và theo lộ trình với một số hàng hóa khác.


Để ngăn chặn tình trạng “lách luật” bởi các nước thành viên khi họ một mặt xóa bỏ hàng rào thuế quan nhưng mặt khác lại tìm cách duy trì hay mở rộng hàng rào bảo hộ phi thuế quan, chương Hàng hóa áp dụng các nghĩa vụ về hạn chế xuất nhập khẩu của WTO. Thêm vào đó, chương này cấm việc cấp giấy phép nhập khẩu có điều kiện theo tình trạng hoạt động (ví dụ, để được nhập khẩu với thuế suất 0% thì nhà nhập khẩu phải sử dụng hàng hóa hay dịch vụ trong nước ở mức nào đó, hoặc phải xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ ở mức nào đó), hoặc nhà xuất khẩu phải có quan hệ hợp đồng với nhà phân phối trong nước của nước thành viên đó.


Vì việc cấp phép nhập khẩu là một quá trình tốn kém và là một trở ngại cho nhà xuất khẩu, do đó có thể trở thành một rào cản phi thuế quan nên chương Hàng hóa quy định các nước thành viên phải thông báo và cập nhật cho các thành viên khác về quy trình cấp phép nhập khẩu cụ thể. Họ cũng không thể tự ý áp dụng giấy phép nhập khẩu nếu không thông báo về nó và lý do tại sao lại áp dụng nó cho các thành viên khác.


Chương Hàng hóa cũng yêu cầu các nước thành viên miễn thuế cho các hàng hóa tái nhập khẩu sau khi được xuất khẩu để sửa chữa, thay đổi; hàng hóa tạm nhập như dụng cụ chuyên dụng, mẫu vật trưng bầy, dụng cụ thể thao, sản phẩm in ấn để quảng cáo... nhằm giảm chi phí cho các hoạt động thương mại, gồm dịch vụ chuyên môn trong nội khối.
Để xóa bỏ một trong những biện pháp bóp méo thương mại nông sản mạnh nhất – trợ cấp xuất khẩu nông sản – các thành viên cam kết trong chương Hàng hóa xóa bỏ trợ cấp xuất khẩu nông sản cho mọi nông sản xuất khẩu trong thị trường nội khối. Như vậy, những biện pháp trợ cấp điển hình như hoàn thuế xuất khẩu sẽ không còn được áp dụng bởi các nước thành viên nếu họ muốn xuất khẩu nông sản vào thị trường các thành viên khác. Các thành viên cũng thỏa thuận tiếp tục xây dựng các nguyên tắc đa phương về tín dụng xuất khẩu, bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, và các chương trình bảo hiểm xuất khẩu... trong một nỗ lực cải cách thương mại nông sản toàn diện.


Về những hạn chế xuất khẩu lương thực, thực phẩm, vốn có thể gây tác động tiêu cực đến nguồn cung trên thị trường nội khối, đặc biệt với những nước nghèo hơn, làm gia tăng lạm phát cũng như khủng hoảng cung ở những nước này, chương Hàng hóa chỉ cho phép các thành viên hạn chế xuất khẩu các mặt hàng này trong vòng 6 tháng và phải thông báo trước cho các thành viên khác, đồng thời phải tham vấn với các thành viên liên quan có nhập khẩu những mặt hàng này nếu những hạn chế này được kéo dài trên 12 tháng.


Để hạn chế những bất lợi cho dòng chảy thương mại trong khối từ các hành vi lũng đoạn của các doanh nghiệp thương mại nhà nước, các thành viên thỏa thuận trong chương Hàng hóa hướng đến bãi bỏ đặc quyền được xuất khẩu nông sản và tiếp cận nguồn tài chính ưu đãi của các doanh nghiệp thương mại nhà nước, cũng như yêu cầu các thành viên minh bạch hơn trong hoạt động của và việc duy trì các doanh nghiệp thương mại nhà nước.


Ngoài những quy định chính trên, chương Hàng hóa còn có một số quy định mới khác như về hàng hóa tái/phục chế (ví dụ hàng hóa đã qua sử dụng nhưng được làm lại như mới), theo đó các thành viên không được cấm nhập khẩu các hàng hóa đã qua sử dụng nhưng được nhập khẩu cho mục đích phục chế, miễn là những hàng hóa sau phục chế phải thỏa mãn một số điều kiện để được coi là hàng như mới. Hoặc quy định về quy trình cấp phép xuất khẩu, theo đó quy trình này phải công khai, minh bạch và cụ thể hóa để nó không bị lạm dụng bởi một nước thành viên nào đó nhằm hạn chế xuất khẩu những hàng hóa và nguyên liệu thiết yếu để lũng đoạn giá của chúng trên thị trường khu vực và thế giới, cũng như tạo lợi thế bất công bằng cho những doanh nghiệp chế biến nội địa sử dụng những hàng hóa và nguyên liệu này so với những doanh nghiệp tương tự ở các nước phải nhập khẩu khác.


Tóm lại, chương Hàng hóa, một cấu thành thiết yếu của TPP, sẽ tạo ra nền tảng mới và vững chắc để các nước thành viên khai thác một thị trường tự do lớn nhất trên thế giới đồng thời hạn chế những hành vi và tập quán cạnh tranh không lành mạnh, đảm bảo cơ hội thịnh vượng công bằng cho mọi đối tượng ở mọi quốc gia thành viên.


Với Việt Nam, cơ hội là rất lớn nếu biết tận dụng việc xóa bỏ hàng rào thương mại và phi thương mại lên hàng hóa xuất khẩu của mình ở thị trường các nước thành viên. Ngược lại, Việt Nam cũng sẽ phải thực hiện các cam kết tương tự, nhất là các cam kết liên quan đến hàng rào phi thuế quan. Cho đến nay, ít hay nhiều thì hầu như Việt Nam đã và đang áp dụng các biện pháp như nêu ở trên, ví dụ như giấy phép xuất nhập khẩu, trợ cấp xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu, ưu đãi các doanh nghiệp thương mại nhà nước v.v... Việc phải thay đổi hay từ bỏ những biện pháp này chắc chắn bước đầu sẽ tạo thêm áp lực và khó khăn cho nhiều ngành và chủ thể kinh tế trong nước.

Friday, 6 November 2015

Tác động tiêu cực của việc phát hành trái phiếu quốc tế (Bài đăng trên TBKTSG, 6/11/2015)

http://www.thesaigontimes.vn/137984/Tac-dong-tieu-cuc-cua-viec-phat-hanh-trai-phieu-quoc-te.html

TBKTSG) - Chính phủ đã kiến nghị cho phát hành 3 tỉ đô la Mỹ trái phiếu quốc tế kỳ hạn từ 10 đến 30 năm trong giai đoạn 2015-2016 để tái cơ cấu trái phiếu chính phủ (TPCP). Trong phần giải thích của Chính phủ, có lẽ tác động tiêu cực của việc phát hành trái phiếu quốc tế đã bị xem nhẹ.

Theo Chính phủ, giai đoạn 2015-2016, nguồn vay để bù đắp bội chi còn hạn chế, chỉ tập trung vào vay ở thị trường trong nước. Trong khi đó, khối lượng TPCP đến hạn trong giai đoạn này lên tới 363.166 tỉ đồng, cần thiết phải thực hiện tái cơ cấu. Các nguồn tài chính trong nước khác đã được huy động tối đa nên không thể huy động để tái cơ cấu danh mục nợ này. Việc đa dạng hóa kỳ hạn và sử dụng nguồn vốn từ phát hành trái phiếu quốc tế được Chính phủ nhìn nhận là về cơ bản không làm tăng dư nợ Chính phủ.
 
Dù để đảo nợ nhưng tổng nghĩa vụ nợ vẫn tăng
 
Xét về mặt tổng dư nợ Chính phủ. Cho dù như Chính phủ khẳng định việc phát hành trái phiếu này chỉ là để tái cơ cấu nợ (thay đổi nợ kỳ hạn ngắn thành nợ kỳ hạn dài), chứ không phải là vay nợ thêm, nhưng trên thực tế, việc phát hành trái phiếu như thế này sẽ làm tăng tổng nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ.

Đúng là nếu dùng hết 3 tỉ đô la Mỹ trái phiếu quốc tế huy động được để trả khoản nợ vay trong nước (tương ứng 66.000 tỉ đồng) đến hạn trong năm 2015-2016, thì tổng số nợ gốc sẽ không thay đổi.
 
Nhưng xét về tiền lãi, vì trái phiếu 3 tỉ đô la Mỹ có kỳ hạn lên tới 10-30 năm nên Chính phủ sẽ phải tiếp tục trả lãi cho nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu này trong từng đó thời gian. Do đó, nếu cộng thêm tiền lãi phụ trội phải trả này thì tổng nghĩa vụ nợ của Chính phủ sẽ phải tăng đáng kể, ít nhất vài chục phần trăm (với lãi suất tạm tính là 5%/năm) tính trên số nợ được đảo trong 2 năm 2015-16 hay các khoản nợ sắp đến hạn trong vài năm tới.
 
Đảo nợ tiền đồng bằng nợ đô la Mỹ sẽ rủi ro hơn
 
Chính phủ cho rằng do huy động trong nước (bằng tiền đồng) khó khăn nên phải huy động ở nước ngoài (bằng đô la Mỹ). Ngoài lý do là các đợt phát hành TPCP bằng tiền đồng gần đây đều không thành công như kế hoạch, việc phát hành trái phiếu quốc tế được đặt ra còn bởi quan niệm rằng vay nước ngoài sẽ “rẻ” hơn vay từ các nguồn trong nước do lãi suất vay bằng đô la Mỹ chắc chỉ quanh quẩn 5%/năm (như khoản phát hành trái phiếu 1 tỉ đô la Mỹ cho Vietcombank với lãi suất 4,8%/năm), thấp hơn nếu so với lãi suất huy động bằng tiền đồng (lên đến 7,45% cho kỳ hạn năm năm, và không bán được cho ai TPCP có kỳ hạn dài hơn trong phiên đấu thầu trái phiếu của VDB gần đây).
 
Thực ra, bài toán vay trong nước hay ngoài nước sẽ rẻ hơn đã trở nên rõ ràng trong thời gian gần đây, khi nhiều doanh nghiệp Việt Nam thay vì tìm đến các nguồn tín dụng bằng đô la Mỹ vì tỷ giá đã được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) bảo đảm không biến động quá 2% trong năm qua và năm nay, đã phải quay lại chấp nhận vay vốn bằng VND cho dù lãi suất cao hơn nhiều. Họ chuyển hướng như vậy vì lý do kinh tế, khi yếu tố rủi ro tỷ giá được đưa vào. Hiện tại, NHNN chỉ khẳng định quyết tâm giữ ổn định tỷ giá đến đầu năm sau chứ không kéo dài cho cả năm sau hoặc các năm sau đó nữa. Chưa kể, quyết tâm là một chuyện nhưng có thực hiện được không lại là một chuyện khác. Nên nếu doanh nghiệp tiếp tục đi vay bằng đô la Mỹ để mong hưởng lãi suất thấp hơn so với vay bằng tiền đồng thì họ có thể bị thiệt hại lớn nếu tỷ giá tăng vọt trong tương lai. Điều tương tự cũng sẽ xảy ra với Chính phủ nếu huy động trái phiếu bằng đô la Mỹ nhằm mục đích trả lãi thấp hơn so với tiền đồng.
 
Ngoài rủi ro tỷ giá, khi Chính phủ tăng cường vay mượn nước ngoài, lãi suất mà nhà đầu tư nước ngoài đòi hỏi sẽ phụ thuộc vào mức độ tín nhiệm của Chính phủ. Chính phủ càng vay nợ nhiều, thì mức độ tín nhiệm của Chính phủ có khả năng càng đi xuống tương ứng. Lúc đó, nhà đầu tư nước ngoài sẽ càng đòi hỏi mức lãi suất cao thì mới bỏ tiền mua TPCP Việt Nam. Nói cách khác, bằng việc tăng cường vay mượn nước ngoài ngày hôm nay để đảo nợ thì Chính phủ càng tự mình thu hẹp đường thoát cho mình khi cần thiết trong tương lai (trông vào vay nợ nước ngoài như một nguồn tài chính cuối cùng).
 
Giải pháp khả thi hơn
 
Thay vì tính đến phát hành trái phiếu quốc tế để đảo/trả nợ trong nước bằng tiền đồng thì Chính phủ cần thiết phải tăng cường phát hành trái phiếu bằng tiền đồng trong nước.
Có thể nói, lý do duy nhất để Chính phủ không thành công trong việc phát hành trái phiếu, nhất là trái phiếu kỳ hạn dài, là lãi suất mời thầu không đủ hấp dẫn các nhà đầu tư. Nguyên nhân cho lý do này là bởi Chính phủ muốn tiết kiệm ngân sách dùng để trả nợ, và/hoặc lo ngại tác động bất lợi đến mặt bằng lãi suất trong nước nếu Chính phủ nâng lãi suất huy động trái phiếu lên. Nhưng so với tác động bất lợi từ việc phát hành trái phiếu quốc tế như nói trên thì việc phát hành trái phiếu trong nước sẽ có lợi hơn, là giải pháp đỡ xấu hơn, hoặc ít ra còn dễ xoay xở hơn với Chính phủ.

Tác động tiêu cực của việc tăng lãi suất mời thầu cho trái phiếu trong nước lên gánh nặng trả nợ của Chính phủ tuy là điều không thể tránh khỏi nhưng đằng nào thì Chính phủ cũng đã lâm vào tình trạng vay mới để trả nợ cũ. Hơn nữa, gánh nặng trả nợ này cũng không phải là quá đáng nếu so với gánh nặng từ rủi ro tỷ giá khi Chính phủ phát hành trái phiếu quốc tế, nhất là trong những kỳ hạn dài đến hàng chục năm.
 
Với tác động tiêu cực lên mặt bằng lãi suất trong nước, điều này có thể được hóa giải một phần nếu NHNN cung ứng đủ vốn cho nền kinh tế nói chung và cho nhu cầu phát hành gia tăng trái phiếu của Chính phủ nói riêng. Tất nhiên, làm như vậy thì có thể NHNN sẽ phải hy sinh mục tiêu ổn định tỷ giá và lạm phát của mình.
 
Nếu cứ nhất định không muốn phải trả những cái giá trên thì giải pháp cơ bản duy nhất chỉ là Chính phủ phải hạn chế tối đa chi tiêu để giảm thiểu nhu cầu phát hành trái phiếu bù đắp bội chi. Tuy việc này đã muộn nhưng làm ngay bây giờ thì vẫn hơn là không. 
--------------------------------------------------
Cải chính
Do sơ suất của người viết và tòa soạn mà bài viết này trên TBKTSG, báo in ra ngày 5-11, có đoạn đầu tiên (Dù để đảo nợ.... các khoản nợ đến hạn trong vài năm tới) không chính xác do nhầm lẫn về con số. TBKTSG và tác giả thành thật xin lỗi bạn đọc và xin được sửa lại như bản đăng trên TBKTSG Online.

Friday, 30 October 2015

Mua ngân hàng 0 đồng - đâu chỉ chuyện câu chữ (Bài đăng trên TBKTSG, 30/10/2015)

http://www.thesaigontimes.vn/137670/Mua-ngan-hang-0-dong---dau-chi-chuyen-cau-chu.html


Thêm một lần nữa đại diện Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và một số chuyên gia, quan chức khác lên tiếng khẳng định, việc mua lại các ngân hàng 0 đồng chỉ đơn thuần là quan hệ mua bán chứ không phải là quốc hữu hóa các ngân hàng này.
Thêm nữa, quan hệ mua bán này được nhấn mạnh ở chỗ là NHNN chỉ mua cổ phiếu của các ngân hàng này (mua theo giá thị trường được xác định ở mức 0 đồng), chứ không phải là mua (bản thân) các ngân hàng này.


Xem ra vấn đề này không phải chỉ là chuyện câu chữ, mặc dù về nguyên nhân và bản chất thì đã rõ!
 
Về nguyên nhân, với vai trò là người “cầm trịch”, bảo đảm sự an toàn cho hệ thống ngân hàng, được giao trách nhiệm cũng như quyền lực trong các quy định pháp luật, việc NHNN quyết định mua lại một số ngân hàng với giá 0 đồng như vừa qua hoàn toàn có thể được coi là cần thiết và hợp pháp.
 
Về bản chất, trên danh nghĩa NHNN đúng là chỉ mua lại (bắt buộc toàn bộ) cổ phiếu của các ngân hàng 0 đồng này, chứ không phải mua lại các ngân hàng đó, và mua với giá là 0 đồng. Nhưng bằng việc mua lại này, NHNN đã chính thức thế chân toàn bộ cổ đông hiện hữu của các ngân hàng này, dù là cổ đông lớn hay nhỏ, tổ chức hay cá nhân, để trở thành chủ sở hữu duy nhất của chúng, với tên gọi chính thức là ngân hàng thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên (XYZ), do Nhà nước làm chủ sở hữu.
 
Do đó, việc chuyển đổi hình thức sở hữu ở các ngân hàng này từ sở hữu tư nhân (cổ phần) sang thuộc sở hữu hoàn toàn của Nhà nước với đại diện là NHNN thì về bản chất chính là, phải được gọi là quốc hữu hóa - biến một tài sản nào đó thuộc sở hữu phi nhà nước thành sở hữu nhà nước (bằng những phương pháp như trưng thu, tịch thu, mua lại), cho dù tài sản này có thể không còn giá trị gì.
Việc chuyển đổi hình thức sở hữu ở các ngân hàng từ tư nhân (cổ phần) sang thuộc sở hữu hoàn toàn của Nhà nước, về bản chất, phải được gọi là quốc hữu hóa, cho dù tài sản này có thể không còn giá trị gì.
 
Tương tự, việc mua lại toàn bộ cổ phiếu của các ngân hàng này để thành chủ sở hữu duy nhất của chúng thì thực chất cũng là mua lại bản thân các ngân hàng này, và việc này về bản chất cũng giống như việc một nhà đầu tư đứng ra thâu tóm toàn bộ cổ phiếu của một công ty nào đó, và người này sẽ được coi là đã mua lại chính công ty đó (và mọi thứ liên quan đến nó như các quyền lợi và nghĩa vụ).


Vậy thì có lý do nào để các cơ quan chức năng e ngại không muốn nhìn nhận đúng bản chất của sự việc mua lại ngân hàng 0 đồng này?
 
Lý do đầu tiên có thể nghĩ đến là khái niệm quốc hữu hóa thường gắn liền với chuyện tổn thất cho ngân sách nhà nước. Khi quốc hữu hóa một công ty nào đó đang ăn nên làm ra thì đương nhiên chẳng người nộp thuế nào phàn nàn, nếu như phí tổn bỏ ra là thấp hơn những gì mà công ty này sẽ mang lại cho ngân sách. Tất nhiên là chuyện “không dưng” đi quốc hữu hóa những công ty tốt này là thuộc một chủ đề khác.
 

Nhưng ngược lại, nếu các công ty bị quốc hữu hóa hoạt động yếu kém, thua lỗ, gây ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế nói chung và khi bị Nhà nước mua lại để biến thành sở hữu nhà nước thì Nhà nước sẽ phải dùng ngân sách để xử lý các nghĩa vụ nợ nần, dùng ngân sách để rót vốn cho chúng hoạt động và lành mạnh trở lại...
 
Nói cách khác, cho dù trong trường hợp NHNN mua lại (cổ phiếu của) các ngân hàng 0 đồng với giá 0 đồng thì NHNN vẫn có thể phải tiêu tốn một số tiền nào đó để vực các ngân hàng này hoạt động lành mạnh trở lại để có thể bán đi thu hồi vốn.
 
Lấy ví dụ trường hợp của Ngân hàng Xây dựng (VNCB), NHNN cho biết họ sẽ “đưa ra 40.000 tỉ đồng để đưa VNCB trở lại hoạt động bình thường”. Vấn đề đáng nói còn lại ở đây chỉ là về nguồn gốc của số tiền này. Cho dù nó không được coi là tiền từ ngân sách thì ít nhiều nó cũng dính dáng đến ngân sách ở một khía cạnh nào đó, đơn giản vì là tiền do NHNN “đưa ra”! Minh bạch hóa nguồn gốc, mục đích sử dụng, khả năng thu hồi vốn, mức độ tác động thế nào đến ổn định vĩ mô của nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng... không phải là một trách nhiệm dễ chịu và dễ thực hiện với các cơ quan chức năng khi phải sử dụng đến vốn (liên quan đến) ngân sách.
 
Lý do thứ hai dẫn đến chuyện không muốn thừa nhận việc mua lại là quốc hữu hóa có thể xuất phát từ e ngại rằng sẽ tạo ra hình ảnh nhà nước can thiệp quá sâu rộng và mạnh vào các hoạt động kinh tế trong nước. Trên hết, trong bối cảnh Việt Nam đã tham gia TPP, nếu thừa nhận quốc hữu hóa một số ngân hàng thương mại thì Việt Nam sẽ phải đối mặt với một số rủi ro.
 
Theo nguyên tắc chính phủ không được ưu đãi riêng cho các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong khuôn khổ của TPP, có thể thấy Việt Nam sẽ không được phép phân biệt đối xử giữa các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước (SOCB) với các ngân hàng tư nhân và nước ngoài khác, vì các SOCB về bản chất là các DNNN. Nếu Chính phủ Việt Nam có những hành động phân biệt đối xử nào đó giữa các SOCB với các ngân hàng tư nhân và nước ngoài khác thì những ngân hàng này có quyền kiện Chính phủ Việt Nam ra các tòa trọng tài quốc tế.


Điều đáng nói là ngoài những SOCB truyền thống như Vietcombank, VietinBank, BIDV, và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện nay Việt Nam còn có thêm một vài ngân hàng có thể coi là SOCB mới, chính là những ngân hàng bị NHNN mua lại với giá 0 đồng như VNCB. Vì các SOCB mới này vẫn đang trong quá trình được NHNN tái cơ cấu và vực dậy bên bờ vực phá sản nên đều đòi hỏi NHNN phải rót thêm vốn, tạo thêm cơ chế, trao thêm nhiều cơ hội kinh doanh để chúng mau bình phục, lớn mạnh trở lại.
 
Tất cả những đối xử khác biệt này là cơ sở để các ngân hàng khác, nhất là ngân hàng nước ngoài khởi kiện. Khả năng này sẽ buộc NHNN phải thay đổi cách thức tiếp cận và phương pháp thực hiện tái cơ cấu hệ thống ngân hàng trong tương lai gần, kể cả phải sửa đổi lại những quy định luật pháp có liên quan đến tái cơ cấu và xử lý ngân hàng yếu kém như Quyết định 48/2013/QĐ-TTg.

Monday, 26 October 2015

Quản lý sử dụng vốn, tài sản tại DNNN: vẫn chưa có giải pháp căn bản (Bài đăng trên TBKTSG, 26/10/2015)

http://www.thesaigontimes.vn/137338/Quan-ly-su-dung-von-tai-san-tai-DNNN-van-chua-co-giai-phap-can-ban.html


Trên cơ sở Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 91/2015/NĐ-CP về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại  DNNN hoặc doanh nghiệp có vốn của Nhà nước. Đã có hy vọng rằng tình hình quản lý sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp sẽ được cải thiện mạnh, tránh được tình trạng thua lỗ, mất vốn... Vấn đề có lẽ không đơn giản, một chiều như vậy.


Luật chỉ có ý nghĩa trên giấy tờ


Nhìn chung, điểm yếu cố hữu của các DNNN là hoạt động không hiệu quả (thua lỗ, mất vốn, nợ nần lớn...) và nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do “đồng tiền không đi liền với khúc ruột”, tức là người trên danh nghĩa là chủ sở hữu (toàn dân) của DNNN trên thực tế lại không có quyền gì để biết điều gì đang xảy ra với DNNN, không có quyền lựa chọn, bổ nhiệm và miễn nhiệm ban quản lý DNNN. Những công việc này được người đại diện cho toàn dân là Nhà nước, cụ thể hơn, là các cơ quan chủ quản của DNNN đảm nhiệm. Nhưng bản thân những người đại diện toàn dân này cũng chỉ là người đại diện trên danh nghĩa, không có quyền lợi gắn chặt với hoạt động của DNNN nên các DNNN hoạt động có yếu kém đến đâu thì cũng không mấy ảnh hưởng đến vị trí và quyền lợi của họ, và cũng vì vậy mà họ sẽ không vật vã ngày đêm tìm cách vực dậy các DNNN yếu kém đó như với trường hợp của các ông chủ tư nhân.


Giải pháp căn bản là phải gắn chặt được trách nhiệm và quyền lợi của người đại diện chủ sở hữu DNNN với tình hình hoạt động của DNNN như trong mối quan hệ chặt chẽ giữa cổ đông với doanh nghiệp cổ phần và ban lãnh đạo của nó.
Trước áp lực ngày càng tăng của người dân - người chủ thực sự nhưng yếu thế của các DNNN, Nhà nước đã phải ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật theo hướng siết chặt trách nhiệm của các cơ quan hữu quan cũng như sự tự tung tự tác của cán bộ quản lý DNNN để giảm thiểu khả năng sử dụng không hiệu quả, làm thất thoát vốn nhà nước tại các DNNN này.
 
Nghị định 91 nhấn mạnh rằng DNNN tự chịu rủi ro và trách nhiệm trước pháp luật về vay, sử dụng và trả nợ vốn vay. Nhà nước không chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ do DNNN trực tiếp vay, trừ các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh. Điều này là cần thiết để tránh gặp lại những “quả đắng” như Vinashin khi Nhà nước phải đứng ra trả nợ thay doanh nghiệp này, kể cả những khoản vay nợ không có bảo lãnh. Tuy nhiên, trên thực tế, điều này không dễ thực hiện. Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khi nói về lý do tại sao không để Vinashin phá sản đã phải thừa nhận rằng Vinashin là tập đoàn 100% vốn Nhà nước, nếu cho phá sản thì Nhà nước cũng phải trả nợ thay cho Vinashin, vừa mất tiền, mất uy tín, chỉ số tín nhiệm thấp và đặc biệt là hàng ngàn gia đình không ổn định cuộc sống (Phó thủ tướng trả lời chất vấn của Quốc hội hồi tháng 6-2013). Tương tự như vậy, với các DNNN khác khi gặp khó khăn, trên bờ vực phá sản, chắc chắn Nhà nước sẽ phải rất đắn đo khi quyết định không trả nợ thay cho họ, dù đã có quy định rõ ràng như vậy.
 
Và mang tính trói buộc, triệt tiêu động lực
 
Cũng trong chuyện huy động vốn của DNNN, Nghị định 91 quy định tổng mức huy động vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh của DNNN không được vượt quá ba lần vốn chủ sở hữu. Quy định này nhằm tránh tình trạng thường xảy ra trên thực tế với nhiều DNNN: vay nợ dễ dãi để đầu tư tràn lan vào nhiều thứ không rõ hiệu quả để rồi nợ nần đầm đìa, mất khả năng chi trả. Tuy có lý và có cơ sở, nhưng quy định này nhiều khi lại là một trói buộc cứng nhắc và thái quá với nhiều DNNN gặp những cơ hội mới trên thị trường cần phải mở rộng sản xuất, kinh doanh hoặc đang phải đối mặt với những biến động bất lợi của thị trường cần phải vay vốn để tiếp tục cầm cự, và/hoặc theo đuổi những dự án đầu tư (dở dang)...
 
Rất nhiều doanh nghiệp tư nhân, cổ phần lớn trên thế giới, kể cả những doanh nghiệp có tiếng tăm, uy tín vẫn có những thời kỳ rơi vào tình trạng nợ nần lớn, thậm chí lên đến hàng chục lần vốn chủ sở hữu. Thế nhưng, vẫn có nhiều ngân hàng sẵn sàng tiếp tục cho họ vay, đơn giản vì họ nhìn thấy tương lai của doanh nghiệp và ngành nghề đó, cũng như tin vào khả năng chèo chống của ban lãnh đạo doanh nghiệp. Với DNNN ở Việt Nam cũng vậy, không phải luôn luôn và lúc nào họ cũng là những doanh nghiệp không hiệu quả, nên nếu cứ áp dụng cùng một khuôn như những DNNN có vấn đề khác thì chỉ làm giảm thiểu cơ hội phục hồi, tăng trưởng của họ.


Về phân phối lợi nhuận, Nghị định 91 quy định chặt chẽ các mức phân chia lợi nhuận, trong đó có quỹ khen thưởng người quản lý doanh nghiệp và kiểm soát viên - tối đa bằng 1,5 tháng lương. Đương nhiên là quy định này cũng để hạn chế tình trạng lãnh đạo DNNN tự thưởng cho mình quá cao. Nhưng ngược lại, nếu quy định “mức trần” cứng nhắc như vậy, không gắn chặt kết quả tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp với quyền lợi vật chất của ban lãnh đạo, thì sẽ làm triệt tiêu động lực làm việc của họ hướng đến tăng trưởng và lợi nhuận cao hơn. Nhìn rộng ra, với việc cả lương và thưởng cho người quản lý DNNN đều bị ấn định mức trần, dẫn đến tổng thu nhập của họ trong những trường hợp tốt nhất đều có xu hướng thấp xa so với các vị trí tương đương ở khối doanh nghiệp phi nhà nước, thì hoặc là khó có thể mong chờ viễn cảnh các DNNN sẽ tốt đẹp hơn, hoặc là phải thừa nhận và chấp nhận một thực tế rằng người quản lý trong DNNN không phải sống bằng lương và thưởng mà bằng những khoản thu nhập ngầm lớn hơn thế nhiều, có nguồn gốc chủ yếu từ “rút ruột” chính các DNNN đó.
 
Giải pháp nào?
 
Giải pháp chắc chắn không phải là xóa bỏ toàn bộ DNNN vì ít nhiều thì DNNN vẫn có một vai trò nhất định trong xã hội (nhưng cần giảm thiểu khu vực này). Cũng không phải là tăng cường sửa đổi các luật lệ hiện tại hoặc ban hành các luật lệ mới vì, như đã phân tích, điều đó chỉ làm tăng thêm sự chồng chéo, phức tạp, không minh bạch, trói buộc bất hợp lý, giảm khả năng thực thi...
 
Giải pháp căn bản là phải gắn chặt được trách nhiệm và quyền lợi của người đại diện chủ sở hữu DNNN với tình hình hoạt động của DNNN như trong mối quan hệ chặt chẽ giữa cổ đông với doanh nghiệp cổ phần và ban lãnh đạo của nó. Tìm ra ai là người thích hợp để làm đại diện chủ sở hữu DNNN (rất có thể không phải là các bộ/cơ quan chủ quản) và làm thế nào để gắn kết chặt chẽ các đại diện này với DNNN, buộc họ đồng hành cùng DNNN theo hướng tiến bộ sẽ là những điều cần làm. Lúc đó, Nhà nước không phải loay hoay tìm cách vá víu các lỗ hổng pháp luật hay “quyết liệt” đốc thúc các bên liên quan để rồi kết quả chẳng bao giờ được như ý.

Friday, 23 October 2015

TPP tác động thế nào đến hệ thống ngân hàng Việt Nam? (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, 24/10/2015)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=360829

Việt Nam cùng với 11 nước chung biển Thái Bình Dương khác đã thỏa thuận hoàn tất đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đầu tháng này. Trong số những ngành nghề sẽ chịu tác động của TPP chắc chắn sẽ có ngành ngân hàng với những thách thức không hề nhỏ.
Trước tiên, khi TPP có hiệu lực, ngay lập tức Việt Nam sẽ không được phép phân biệt đối xử giữa các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước (SOCB) với các ngân hàng tư nhân và nước ngoài khác. Các SOCB về bản chất là các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), là đối tượng của nguyên tắc chính phủ không được ưu đãi riêng cho các DNNN trong khuôn khổ của TPP. Nếu chính phủ Việt Nam có những hành động phân biệt đối xử nào đó giữa các SOCB với các ngân hàng tư nhân và nước ngoài khác thì những ngân hàng này có quyền kiện chính phủ Việt Nam ra các tòa trọng tài quốc tế.
Những phân biệt đối xử này có thể ở dưới dạng như SOCB được đặc quyền nhận vốn giải ngân từ các tổ chức song phương và đa phương quốc tế trong các khoản vay của chính phủ, với lãi suất cực thấp. SOCB cũng có thể là nơi được chính phủ chỉ định để gửi các khoản thu ngân sách từ nhiều nguồn như thuế, phí, là nơi thực hiện các giao dịch trả lương cho công viên chức nhà nước với lãi suất thấp... Mặt khác, SOCB cũng thường là cánh tay nối dài của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) để thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ cũng như các dự án công cộng, dân sinh và xã hội, với nhiều quyền lợi đi kèm khi cung cấp những dịch vụ này. Ví dụ, nhờ được giao việc trả lương cho công viên chức nên các ngân hàng này được nhận thêm một cơ sở khách hàng mới mang đến nhiều dịch vụ tiềm năng như thẻ tín dụng, tín dụng tiêu dùng... Khi thực hiện các dự án xã hội, NHNN sẽ cấp vốn với lãi suất thấp để các SOCB cho vay lại các đối tượng của dự án với biên độ lãi được đảm bảo trong khi không mấy khi chịu rủi ro mất vốn vì thường nhà nước cũng phải xóa nợ cho nhiều đối tượng vay nợ trong các dự án thuộc loại này khi họ không trả nợ hoặc mất khả năng thanh toán.
Thứ hai, TPP có thể ảnh hưởng đến quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng ở Việt Nam. Ngoài những SOCB truyền thống như Vietcombank, Vietinbank, BIDV, và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện nay Việt Nam còn có thêm một vài ngân hàng có thể coi là SOCB mới, vốn là những ngân hàng bị NHNN mua lại với giá 0 đồng biến thành sở hữu nhà nước trong năm nay, như Ngân hàng Đại dương (OCB) và Ngân hàng Xây dựng (CB). Điều đáng nói với những SOCB mới này là chúng vẫn đang trong quá trình được NHNN tái cơ cấu và vực dậy bên bờ vực phá sản. Quá trình tái cơ cấu và phục hồi các ngân hàng này đòi hỏi NHNN phải rót thêm vốn, tạo thêm cơ chế, trao thêm nhiều cơ hội kinh doanh để chúng mau bình phục, lớn mạnh trở lại để NHNN bán đi thu hồi vốn. Tất cả những đối xử khác biệt này nếu bị bộc lộ với bằng chứng rõ ràng sẽ là điều kiện để các ngân hàng khác, nhất là ngân hàng nước ngoài khởi kiện, buộc NHNN phải thay đổi phương pháp thực hiện, dẫn đến khả năng quá trình tái cơ cấu ngân hàng sẽ bị đình trệ hoặc ảnh hưởng không theo ý đồ của NHNN.
Thứ ba, TPP cho phép các ngân hàng và tổ chức tài chính nước ngoài (thành viên TPP) cung cấp dịch vụ ngân hàng tài chính cho các khách hàng ở trên lãnh thổ Việt Nam và điều chuyển nhân viên của mình đến các chi nhánh ở lãnh thổ Việt Nam trong một thời gian dài như bất cứ một ngân hàng nội địa nào khác. Những dịch vụ ngân hàng tài chính này bao gồm tư vấn đầu tư và dịch vụ quản lý quỹ đối với các quỹ như quỹ hưu trí, và dịch vụ bảo hiểm liên quan đến rủi ro trong vận tải thủy và hàng không dân dụng quốc tế. TPP cũng làm giảm gánh nặng quy chế lên các tổ chức, công ty nước ngoài tìm cách xuất khẩu các dịch vụ của họ. Ví dụ, TPP cho phép các tổ chức tài chính chuyển thông tin và dữ liệu vào và ra khỏi lãnh thổ để tiến hành xử lý với chi phí tối ưu nhất. Như thế, TPP sẽ làm gia tăng đáng kể mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở Việt Nam, tạo thêm áp lực lên doanh thu và lợi nhuận cho các ngân hàng và tổ chức tài chính nội địa. Nhưng ngược lại, trên cùng một mặt bằng bình đẳng, các ngân hàng và tổ chức tài chính Việt Nam cũng sẽ có thêm cơ hội để mở rộng hoạt động của mình ra các nước thành viên TPP, nắm bắt những cơ hội mà họ có lợi thế riêng để tiếp cận.
Cuối cùng, TPP cũng làm giới hạn đáng kể quyền lực của các cơ quan quản lý chức năng của Việt Nam như NHNN trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, dẫn đến rủi ro cao hơn cho những bất ổn trong hệ thống tài chính ngân hàng của Việt Nam. Cụ thể hơn, TPP không cho phép sự giới hạn quy mô của các tổ chức tài chính ngân hàng ở Việt Nam (là một nguyên tắc để bảo đảm không bị rơi vào tình trạng “quá lớn để cho phá sản”), cấm áp đặt các vách ngăn (về lĩnh vực hoạt động) giữa các loại hình tổ chức tài chính (ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm), không cho phép cấm các sản phẩm tài chính độc hại nào đó, và cấm áp dụng các biện pháp kiểm soát lưu chuyển vốn vào ra khỏi lãnh thổ Việt Nam vốn có tác dụng ngăn chặn các cuộc khủng hoảng tài chính.

Saturday, 17 October 2015

Nghị định 87: giám sát DNNN vẫn còn nhiều vấn đề! (Bài đăng trên TBKTSG, 17/10/2015, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/137021/Nghi-dinh-87-giam-sat-DNNN-van-con-nhieu-van-de.html

Ngày 6/10, Chính phủ đã ban hành Nghị định (NĐ) 87/2015/NĐ-CP về giám sát đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp, giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và doanh nghiệp có vốn nhà nước. NĐ 87 có hiệu lực thi hành từ 1/12/2015 và thay thế NĐ 61/2013/NĐ-CP về việc ban hành quy chế giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính đối với doanh nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu và doanh nghiệp có vốn nhà nước.

Trong quá trình thực thi, NĐ 61 đã bộc lộ nhiều vướng mắc và hạn chế như: chỉ thực hiện giám sát đối với công ty mẹ của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty mà bỏ qua các công ty con; chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm của doanh nghiệp và cơ quan đại diện chủ sở hữu trong việc tổ chức giám sát; thời gian để các Tập đoàn hoàn thành Báo cáo giám sát còn ngắn so với thực tế của doanh nghiệp; các doanh nghiệp có thể hạ thấp kế hoạch năm để dễ hoàn thành hoặc hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch; tiêu chí xếp loại doanh nghiệp về tính tuân thủ pháp luật chưa phù hợp với thực tế; các chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá, xếp loại phải quy định từ quý đầu tiên của năm kế hoạch là chưa phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; doanh nghiệp sẽ bị đặt vào tình trạng giám sát tài chính đặc biệt nếu tình hình tài chính thuộc chỉ một trong một số ít các trường và phải lập phương án tái cơ cấu dù thuộc trường hợp nào là chưa phù hợp với thực tế; chưa có cơ chế giám sát công tác công khai thông tin...

Dựa trên kết quả khảo sát của cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước và các tập đoàn, tổng công ty, NĐ 87 đã được soạn thảo và ban hành nhằm mục đích khắc phục những vướng mắc trên. Đồng thời, NĐ 87 còn có thêm một phạm vi điều chỉnh quan trọng là giám sát đầu tư vốn vào DNNN Như vậy, NĐ 87 về cơ bản là đầy đủ, chặt chẽ và cụ thể hơn nhiều NĐ 61 để có thể kỳ vọng rằng tình hình tài chính và sử dụng vốn đầu tư nhà nước cũng như tính hiệu quả trong hoạt động của các DNNN và doanh nghiệp có vốn nhà nước sẽ được công khai và giám sát chặt chẽ.

Tuy vậy, đó mới chỉ là trên lý thuyết. Thực tế cho thấy từ xây dựng các văn bản pháp luật đến thực thi chúng luôn có một khoảng cách lớn ở Việt Nam. Việc thực thi NĐ 61 là một trong những minh họa rõ nét cho điều này. Tuy NĐ 61đã yêu cầu công khai các thông tin và báo cáo cụ thể, nhưng tính đến ngày 31/8/2014, tức sau hơn một năm NĐ 61 được ban hành và có hiệu lực, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa có Báo cáo giám sát tài chính và Báo cáo xếp loại doanh nghiệp, cũng như chưa công khai thông tin tài chính và quản trị doanh nghiệp trên website của họ. Dù vậy, và dẫu rằng NĐ 61cũng đã quy định khá cụ thể trách nhiệm của các bên liên đới (Mục 4: Chế độ khen thưởng kỷ luật), nhưng dường như chưa có (người đại diện) DNNN hoặc doanh nghiệp có vốn nhà nước nào bị xử lý vì đã không thực hiện tốt các yêu cầu của NĐ 61.

Do đó, tuy NĐ 87 là một bước phát triển hơn nếu so với NĐ 61 nhưng sẽ không có gì để đảm bảo rằng các doanh nghiệp, đặc biệt những doanh nghiệp đã vi phạm NĐ 61, sẽ không tiếp tục “chây ỳ” không thực hiện nghiêm chỉnh NĐ 87, mặc dù, cũng như NĐ 61, NĐ 87 cũng có hẳn một chương (Chương 4) quy định về khen thưởng và xử lý vi phạm. Phải chăng sẽ cần thêm một vài NĐ, văn bản pháp luật nào đó để xử lý những cơ quan, tập thể và cá nhân đã để xảy ra tình trạng chây ỳ, không thực hiện nghiêm chỉnh NĐ 87? Và rốt cuộc ai sẽ thực hiện những NĐ, văn bản đó?

Với nhiều quy định chi tiết, chặt chẽ, bao phủ phạm vi rộng lớn hơn, NĐ 87 tạo ra thêm nhiều nội dung công việc phải làm cho mọi chủ thể liên quan, dẫn đến sự phình to của bộ máy quản lý nhà nước chức năng từ Bộ Tài chính đến các cơ quan đại diện chủ sở hữu và ngay tại doanh nghiệp để thực hiện đầy đủ các quy định và yêu cầu của NĐ 87. Lấy ví dụ trong việc giám sát tài chính doanh nghiệp, cơ quan đại diện chủ sở hữu phải xây dựng hệ thống công nghệ thông tin để thu thập trực tiếp thông tin từ các doanh nghiệp. Về phía doanh nghiệp, phải thi hành thêm một loạt công việc như xây dựng quy trình quản lý phục vụ giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức giám sát trong nội bộ doanh nghiệp, xây dựng hệ thống công nghệ thông tin hỗ trợ cho giám sát nội bộ, thuê dịch vụ tư vấn tài chính để xây dựng chỉ tiêu giám sát tài chính đặc thù (nếu có), thuê công ty kế toán, kiểm toán độc lập để soát xét lại số liệu của doanh nghiệp theo yêu cầu của cơ quan đại diện chủ sở hữu v.v... Khi số lượng quy trình với văn bản nhiều lên, nhiều công việc cần phải thực hiện hơn, bộ máy quản lý phình to ra với nhiều cấp ràng buộc lẫn nhau thì đương nhiên hậu quả sẽ là tính minh bạch, hữu hiệu giảm đi, đồng thời chi phí tăng lên. Đó là chưa kể càng nhiều quy định, nhiều việc phải làm thì sẽ càng có thêm khả năng các doanh nghiệp và cơ quan liên đới không thể đáp ứng được đúng yêu cầu, để rồi tình trạng như với NĐ 61 sẽ tái diễn.

Đi sâu hơn vào nội dung NĐ 87, có thể thấy vẫn còn nhiều vướng mắc và hạn chế khác. Ví dụ, trong việc giám sát đầu tư vốn nhà nước với các dự án đầu tư (trang 6), NĐ 87 chỉ xác định các nội dung giám sát gồm nguồn vốn huy động, tiến độ thực hiện dự án, tiến độ giải ngân vốn, mà không có những nội dung tối quan trọng như tính hiệu quả của dự án, vốn là nguồn gốc gây thất thoát lớn vốn nhà nước vì đã “chảy” vào những dự án vô bổ. Nếu nói rằng những nội dung đó là không cần thiết vì chúng thuộc trách nhiệm của cơ quan phê duyệt dự án thì những nội dung giám sát nêu trên có trong NĐ 87 cũng là thuộc trách nhiệm của cơ quan phê duyệt và thực thi dự án, nên nêu ra trong NĐ 87 chỉ làm phức tạp thêm vấn đề một cách không cần thiết.

NĐ 87 có nội dung giám sát tình hình huy động vốn và sử dụng vốn huy động, phát hành trái phiếu mà không thấy đề cập đến giám sát tính hiệu quả của nguồn vốn huy động cũng như sử dụng vốn huy động. Có thể hình dung bối cảnh ở đó những người có trách nhiệm ở doanh nghiệp hoặc các cơ quan liên đới vì động cơ vụ lợi nên sẵn sàng đi huy động vốn với chi phí cao hơn mặc dù mọi thứ đều “đúng quy trình” để không ai có thể bắt bẻ gì được.

Trong việc tổ chức giám sát tài chính doanh nghiệp, mặc dù cơ quan đại diện chủ sở hữu được quy định rõ phải cảnh báo kịp thời cho doanh nghiệp khi phát hiện tình hình tài chính doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro và có những biện pháp ngăn chặn, khắc phục các rủi ro, yếu kém, nhưng đồng thời NĐ 87 cũng quy định Bộ Tài chính có trách nhiệm cảnh báo doanh nghiệp có dấu hiệu mất an toàn tài chính, có trách nhiệm trả lời các kiến nghị, đề xuất của doanh nghiệp. Quy định này đã gây ra tình trạng chồng chéo về chức năng và nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước, gây rối thêm cho doanh nghiệp.

Tóm lại, tuy được thiết kế ra để giám sát chặt chẽ tình hình tài chính và sử dụng vốn đầu tư nhà nước cũng như tính hiệu quả trong hoạt động của các DNNN và doanh nghiệp có vốn nhà nước, nhưng NĐ 87 hay những NĐ sau này sửa đổi, bổ sung, thay thế nó vẫn đã và sẽ khó có thể khắc phục một cách hữu hiệu những điểm yếu cố hữu với các DNNN và doanh nghiệp có vốn nhà nước xuất phát từ tình trạng “cha chung không ai khóc”, mặc dù mọi thứ vẫn đã và sẽ “đúng quy trình”.

Friday, 2 October 2015

Cần tăng cường quản lý tín dụng tiêu dùng (Bài đăng trên CafeF, 3/10/2015)

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/can-tang-cuong-quan-ly-tin-dung-tieu-dung-20151003085930144.chn

Tín dụng tiêu dùng đang trên đà khởi sắc ở Việt Nam từ vài năm nay với một loạt yếu tố hỗ trợ tích cực.  Mặt bằng lãi suất đã giảm dần từ mức rất cao trong giai đoạn 2011-2013 xuống mức 6%-7% (lãi suất tiền gửi) như hiện nay. Vì vậy, tuy người tiêu dùng vẫn còn khá thận trọng với việc tăng chi tiêu nhưng họ cũng đã cởi mở với và sẵn sàng hơn trong việc đi vay để mua sắm tiêu dùng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của mình và gia đình.
Mặt khác, lạm phát đã và đang trên đà giảm mạnh trong mấy năm qua, nhất là giá xăng dầu đã giảm mạnh bắt đầu từ năm trước trong khi tăng trưởng kinh tế và, do đó, thu nhập vẫn tiếp tục xu hướng được cải thiện nên người tiêu dùng đã trút bớt đi được gánh nặng chi phí cho cuộc sống vốn gia tăng mạnh trong giai đoạn lạm phát bùng phát 2011-2013. Chi phí và lo toan cho cái ăn cái mặc thường nhật giảm bớt đi sẽ giúp người tiêu dùng có thêm động lực mua sắm hàng hóa lâu bền và có giá trị cao. Ngoài ra, khi cuộc sống “dễ thở” hơn thì nhu cầu cải thiện điều kiện nơi ăn chốn ở đã được chú trọng hơn với nhiều người tiêu dùng. Bởi vậy, người tiêu dùng hiện nay cũng ngày càng quan tâm hơn đến vay trả góp để mua hay sửa chữa nhà cửa.

Về phía ngân hàng và công nghệ ngân hàng, công nghệ thanh toán, sự phổ cập thẻ tín dụng đã diễn ra với tốc độ nhanh chóng nhờ sự gia tăng mạnh của ngành bán lẻ qua sự phổ cập ngày càng sâu rộng của mạng Internet, nhờ ngày càng có nhiều điểm bán lẻ chấp nhận thanh toán thẻ tín dụng, và nhờ sự quảng bá, khuyến mại, khuyếch trương rộng rãi bởi các ngân hàng cho nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ nói chung và thẻ tín dụng nói riêng trong cộng đồng người tiêu dùng tiềm năng. Những yếu tố này đã cộng hưởng mạnh với nhu cầu mua sắm tiêu dùng cao hơn của người tiêu dùng để tạo ra một thị trường tín dụng tiêu dùng đầy tiềm năng tăng trưởng ở Việt Nam.
Tuy vậy, tín dụng tiêu dùng mới chỉ có lịch sử tương đối ngắn ở Việt Nam. Chẳng hạn, trong lĩnh vực thẻ tín dụng, thẻ tín dụng đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam vào năm 1990 do Ngân hàng Ngoại thương phát hành, trong khi đó thẻ tín dụng đã xuất hiện và trở nên phổ biến ở các nước phát triển, nhất là ở Bắc Mỹ từ đầu những năm 1950. Có lẽ một phần bởi lý do này nên ngoài những chính sách tạo điều kiện cho tín dụng tiêu dùng phát triển mạnh hơn, dường như mảng dịch vụ này vẫn chưa được các cơ quan quản lý nhà nước chú trọng đúng mức và có những biện pháp quản lý thích hợp như ở những nước phát triển để hạn chế rủi ro cho cả 2 bên, người tiêu dùng và ngân hàng cũng như các tổ chức tài chính, tín dụng cung cấp dịch vụ tín dụng tiêu dùng. Thậm chí gần đây giải pháp khuyến khích phát triển mạnh tín dụng tiêu dùng từ hệ thống tài chính ngân hàng còn được nhiều người đề xuất như là một giải pháp hữu hiệu để chống lại nạn tín dụng đen.

Lấy ví dụ trường hợp ở Singapore, Chính phủ nước này từ mấy năm gần đây đã từng bước siết chặt các quy chế và luật lệ về cho vay tiêu dùng không có bảo đảm, thế chấp. Nguyên nhân một phần vì họ lo ngại gánh nặng trả lãi và gốc của các khoản vay mua bất động sản ngày càng tăng lên vượt quá khả năng chi trả của người tiêu dùng. Để hạn chế rủi ro mất khả năng chi trả này, Chính phủ Singapore đặt ra các quy định như phải rà soát, xem xét tổng số nợ của các cá nhân và hộ gia đình cũng như hạn mức tín dụng cho họ trước khi phát hànhthẻ tín dụng hoặc cấp hạn mức tín dụng không có tài sản thế chấp, đảm bảo. Các quy định này cũng không cho phép người tiêu dùng với lịch sử mất khả năng thanh toán đúng hạn trong 2 tháng hoặc hơn cho các khoản vay nợ không có tài sản thế chấp được vay tiếp.
Đối chiếu điều này với Việt Nam có thể thấy việc quản lý dữ liệu tài chính cá nhân để khống chế hạn mức vay nợ không có tài sản thế chấp như thế này còn quá xa vời, ít nhất vì, ví dụ, cơ sở dữ liệu cá nhân thống nhất và tập trung cho hầu hết dân số trong độ tuổi trưởng thành chưa thể được xây dựng và cập nhật, làm cho các ngân hàng và tổ chức tài chính tín dụng không thể nắm chính xác lịch sử tín dụng như thế nào và các khoản vay nợ hiện tại của mỗi cá nhân ở Việt Nam là bao nhiêu, cho những mục đích gì v.v... Từ thực tế này, chắc chắn sẽ có nhiều vụ việc mất khả năng chi trả phát sinh cùng với đà mở rộng tín dụng tiêu dùng ở Việt Nam do khả năng chi trả của con nợ không được kiểm soát và đánh giá đầy đủ. Bởi vậy, việc xây dựng và cập nhật, quản lý một cơ sở thông tin tín dụng ngày càng bao phủ sâu rộng trên toàn lãnh thổ là điều bắt buộc song hành với việc đẩy mạnh tín dụng tiêu dùng ở Việt Nam.

Chính phủ Singapore cũng đặt ra những hạn mức gọi là Tỷ lệ tổng chi trả nợ và lãi vay (Total Debt Servicing Ratio, TDSR) so với tổng thu nhập cá nhân và hộ gia đình, nhằm hạn chế người tiêu dùng trong việc vay mua nhà quá mức, vượt quá khả năng chi trả định kỳ lãi và gốc các khoản vay mua nhà của họ. Tùy theo từng giai đoạn và phản ánh của người tiêu dùng mà Chính phủ Singapore có những sửa đổi về điều kiện của hạn mức này cho phù hợp. Ví dụ, năm 2013, Chính phủ ban hành quy định chỉ cho phép các tổ chức tài chính tín dụng cho vay một cá nhân nào đó ở mức tối đa là 60% tổng thu nhập trước thuế hàng tháng của người đó TRỪ ĐI nghĩa vụ trả nợ hàng tháng của người đó cho các khoản vay nợ hiện tại (nếu có) như dư nợ vay thẻ tín dụng, dư nợ vay học tập, mua ô tô, vay cá nhân, nợ các nhà bán lẻ dưới hình thức trả góp qua thẻ tín dụng... Đến năm 2014, Chính phủ Singapore nới lỏng các điều kiện về cho vay đảo nợ mua nhà vì một số người đã gặp khó khăn trong việc này theo các điều kiện quy định năm 2013.
Quy định trên cũng nên được áp dụng sớm ở Việt Nam vì trong nhiều trường hợp chỉ riêng nghĩa vụ trả lãi và nợ gốc vay mua nhà vượt quá nửa thu nhập của cả hộ gia đình, dẫn đến khả năng vỡ nợ cao nếu có bất cứ rủi ro nào trong thu nhập và việc làm của các thành viên gia đình.

Ngoài ra, Chính phủ Singapore còn có những quy định tưởng như “quá đáng” nhưng lại tỏ ra rất cần thiết trên thực tế như quy định Đăng ký Không Được Gọi (Do Not Call Registry, DNC), là một phần trong Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân. Theo quy định về DNC thì người tiêu dùng được phép đăng ký số điện thoại của họ với chính quyền để không nhận những quảng cáo marketing qua các cuộc gọi, tin nhắn, hay fax. Nếu cá nhân hay tổ chức nào đó gửi nhắn tin hay gửi fax đến những số điện thoại đã đăng ký DNC này thì người hay tổ chức đó bị coi là vi phạm pháp luật và sẽ bị phạt tối đa lên tới 10.000 đôla Singapore (khoảng 7.000 USD theo tỷ giá hiện thời) cho mỗi lần vi phạm. Đăng ký DNC đã giáng một đòn mạnh vào các công ty có hoạt động marketing từ xa, vốn là một hoạt động marketing phổ biến của phần lớn các tổ chức tài chính.
Một quy định tương tự như DNC cũng là điều rất cần thiết ở Việt Nam khi người tiêu dùng hàng ngày hàng giờ bị tra tấn không ngừng nghỉ bởi các tin nhắn rác và cuộc gọi quảng cáo đủ thứ từ bất động sản đến thẻ tín dụng và mua ô tô v.v...  

Lãi suất không có cơ hội giảm cuối năm (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, 3/10/2015, bản gốc)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=359490

Với mức lạm phát trong tháng 9 thấp ở mức kỷ lục 10 năm qua, lãi suất hiện nay của Việt Nam đang ở mức thực dương quá cao (với lãi suất tiết kiệm 12 tháng có mức thực dương ở trong khoảng 5%-6% hoặc hơn. Lãi suất thực dương quá cao tất nhiên sẽ làm khó rất nhiều cho doanh nghiệp và cả nền kinh tế khi tiền trả lãi – được coi là một trong những chi phí đầu vào của các doanh nghiệp – sẽ bị đội lên đáng kể, làm đội giá thành sản xuất và do đó giá bán, từ đó trực tiếp làm giảm tính cạnh tranh của các doanh nghiệp nội địa, dẫn đến một loạt hậu quả như nhập siêu gia tăng, sản xuất trì trệ, hàng tồn kho gia tăng, tăng trưởng chậm hơn.

Bởi vậy, hạ lãi suất trong bối cảnh lạm phát đang rất thấp như hiện nay là một vấn đề có tính sống còn cho các doanh nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung. Vấn đề đặt ra ở đây là hạ lãi suất bằng cách nào, và có thực hiện được không?
Vì lãi suất ta đang nói ở đây là lãi suất VND nên việc điều chỉnh lãi suất là trách nhiệm cũng như trong khả năng và tầm kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Để hạ lãi suất, NHNN sẽ phải nới lỏng cung tiền bằng cách bơm thêm VND vào nền kinh tế thông qua hệ thống ngân hàng với các công cụ như giảm dự trữ bắt buộc, hạ lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn. Một khi thanh khoản trong hệ thống ngân hàng dồi dào hơn với lãi suất thấp hơn nhờ có nguồn vốn lãi suất thấp do NHNN bơm ra thì lãi suất của ngân hàng cho vay ra nền kinh tế cũng sẽ có xu hướng giảm theo đúng như ý đồ của NHNN.

Nhưng thực tế cho thấy mặt bằng lãi suất nói chung không cho thấy có dấu hiệu giảm nhiệt trong suốt cả năm nay, chứng tỏ NHNN đã không bơm thêm tiền đủ mạnh cho nền kinh tế. Những lý do khác mà một số người viện dẫn cho việc lãi suất không thể giảm được như vừa qua nào là do các ngân hàng chạy đua nâng lãi suất huy động để đáp ứng nhu cầu tín dụng đang tăng trưởng nhanh, nào là do Chính phủ nâng lợi suất trái phiếu chính phủ để phát hành được đủ lượng trái phiếu nhằm bồi đáp thâm hụt ngân sách ngày càng tăng v.v... thực ra không phải là nguyên nhân của việc lãi suất VND đứng ở mức cao, mà chỉ là hậu quả trực tiếp của việc bơm tiền không đủ của NHNN. Cụ thể hơn, khi tổng lượng VND được tung ra lưu thông được khống chế ở một mức nhất định thì các ngân hàng buộc phải cạnh tranh, giành giật với nhau để huy động được trong số vốn VND hữu hạn đó. Còn với trái phiếu Chính phủ, đương nhiên là trong khuôn khổ có hạn của cung VND trong nền kinh tế thì nếu Chính phủ càng phát hành nhiều trái phiếu thì lãi suất sẽ càng có xu hướng  gia tăng, đơn giản vì phát hành trái phiếu là một yếu tố bên phía cầu VND. Ngược lại, nếu NHNN luôn đáp ứng đầy đủ vốn VND của hệ thống ngân hàng cũng như của Chính phủ thì lãi suất không thể đứng ở mức cao như hiện nay được.
Vậy trước khi khuyến nghị NHNN gia tăng cung tiền VND như là một cách làm đơn giản để giảm lãi suất, ta cần mổ xẻ nguyên nhân nào đã ngăn cản NHNN không thể tăng cung VND (đủ lớn) được. Nói cách khác, lý do nào để NHNN e ngại khi có quá nhiều VND được bơm ra nền kinh tế ?

Tăng cung VND sẽ trực tiếp dẫn đến 2 hậu quả: (i) lạm phát sẽ có khả năng tăng trở lại, và (ii) tỷ giá VND sẽ chịu thêm áp lực tăng lên (VND yếu đi). Về hậu quả thứ nhất, trong bối cảnh lạm phát đang ở mức thấp kỷ lục như hiện nay, chủ yếu nhờ giá năng lượng và các loại hàng hóa cơ bản khác trên thế giới đang trên đà giảm sút mạnh và chưa có dấu hiệu phục hồi bền vững trong tương lai gần, thì mọi áp lực gia tăng (nếu có) của hành động tăng cung VND của NHNN lên lạm phát ở Việt Nam sẽ bị triệt tiêu hoàn toàn hoặc phần lớn bởi sự tiếp tục suy yếu của giá hàng hóa thế giới trong nhiều tháng tới. Như thế có nghĩa là nếu NHNN tăng cung VND thì lạm phát không phải là mối bận tâm lớn trong thời gian tới.
Về hậu quả thứ hai, cho dù vẫn còn nhiều tranh cãi trong việc nên hay không nên phá giá VND (để VND suy yếu đi so với USD), nhưng chắc chắn có một đồng thuận là NHNN đang cố gắng bảo vệ tỷ giá không cho vượt khỏi biên độ hiện tại cho đến hết năm hoặc sang đầu năm sau, kể cả bằng cách tốn kém như bán USD từ dự trữ ngoại hối để can thiệp, ổn định tỷ giá. Như vậy, có thể nói tỷ giá chính là nút thắt cho việc hạ lãi suất ở Việt Nam hiện nay. Như thế cũng có nghĩa là việc hạ lãi suất là một trong ba lựa chọn chính sách của NHNN hiện nay: (1) hạ lãi suất nhưng phải đổi lấy hậu quả là tỷ giá gia tăng (VND bị mất giá thêm); (2) ổn định tỷ giá nhưng phải đổi lấy hậu quả là lãi suất không giảm được, thậm chí còn gia tăng (vì ổn định tỷ giá thì phải giảm cung VND bằng thắt chặt chính sách tiền tệ, và/hoặc tăng cung USD bằng cách bán ra USD và hút về VND, cũng dẫn đến làm giảm cung VND cho nền kinh tế); (3) chấp nhận để tỷ giá tăng lên một chút (chẳng hạn phá giá VND thêm 1 hoặc 2 điểm % nữa, hoặc nới lỏng thêm biên độ dao động tỷ giá lên 1, 2 điểm % nữa) để đổi lấy việc lãi suất hạ đi thêm một chút.

Tùy thuộc vào tính toán và cân nhắc của NHNN với lựa chọn nào mà nền kinh tế sẽ được hưởng lãi suất thấp hay không. Nhưng ít ra có thể thấy trong thời gian còn lại của năm thì lựa chọn thứ nhất (lãi suất hạ đi nhưng VND mất giá thêm) không phải là lựa chọn ưa thích của NHNN, và do đó lãi suất chắc chắn sẽ không thể giảm đi được trong thời gian mấy tháng tới.

Quyết định hạ lãi suất tiền gửi USD của NHNN – nên hiểu thế nào cho đúng? (Bài đăng trên DNSG, bản gốc, 2/10/2015)

Bản trên báo: http://www.doanhnhansaigon.vn/van-de/ha-lai-suat-usd-nhung-goc-nhin-khac/1092076/

(Bài gốc dưới đây là để phang mấy đồng chí  chuyên gia trên CafeF, như Bùi Quang Tín (ở đây) và Nguyễn Công Hiệp (ở đây), chỉ được cái nói linh tinh là giỏi).

Xoay quanh quyết định hạ lãi suất tiền gửi USD từ 0,25% về 0%/năm với tổ chức và từ 0,75% về 0,25%/năm với cá nhân của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) áp dụng từ 28/9/2015 đã có nhiều ý kiến và nhận định trái ngược nhau của không ít chuyên gia và lãnh đạo ngân hàng, gây không ít băn khoăn trong dư luận về tính hợp lý và hữu hiệu của quyết định này của NHNN.

Quan điểm đầu tiên là do Việt Nam áp dụng các biện pháp kiểm soát lưu chuyển vốn nên không lo chảy máu ngoại tệ ra nước ngoài sau khi NHNN quyết định hạ lãi suất tiền gửi USD làm giảm tính hấp dẫn của việc đầu tư hay nắm giữ USD ở Việt Nam. Nói cách khác, nhờ kiểm soát lưu chuyển vốn, tổng cung đồng USD từ cá nhân và tổ chức kinh tế trong nước sẽ luôn ở lại trong nước bất chấp lãi suất huy động USD là bao nhiêu.
Quan điểm trên chỉ đúng một phần. Nhìn trên giác độ tính hữu hiệu, đúng là các biện pháp kiểm soát lưu chuyển vốn sẽ phần nào “trói chân” nguồn vốn USD đang có ở thị trường Việt Nam, làm cho nhà đầu tư nước ngoài không dễ mà chuyển USD ra khỏi Việt Nam được. Nhưng mặt trái của các biện pháp kiểm soát lưu chuyển vốn này là làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài tiềm năng vào thị trường Việt Nam trong tương lai. Càng làm chặt chẽ theo hướng “vào thì dễ, ra thì khó” thì sẽ càng như xua đuổi nhà đầu tư nước ngoài tiềm năng vì sẽ không một nhà đầu tư nào lại can tâm đầu tư vào một nước nào đó khi đã biết rõ rằng vốn của mình sẽ rất khó hoặc không bao giờ được rút ra trong mọi hoàn cảnh. Chính từ giác độ này có thể kết luận rằng các biện pháp kiểm soát lưu chuyển vốn sẽ không bao giờ được thiết kế hoặc vô tình có tác dụng ngăn chặn hoàn toàn luồng vốn USD chảy ra khỏi Việt Nam mỗi khi có sự biến gì đó làm nản lòng nhà đầu tư nước ngoài. Bởi vậy, hành động hạ lãi suất tiền gửi USD của NHNN chắc chắn sẽ dẫn đến sự chảy ngược ra nước ngoài của một bộ phận vốn USD đang có mặt ở Việt Nam.

Nhìn từ giác độ hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài, quyết định hạ lãi suất tiền gửi USD của NHNN sẽ làm giảm tính hấp dẫn trong mắt nhà đầu tư nước ngoài. Vì thế, cho dù vốn USD chạy ra khỏi lãnh thổ Việt Nam chỉ ở mức hạn chế vì các biện pháp kiểm soát vốn như nói ở trên, nhưng ngược lại, số lượng vốn USD mới đổ vào Việt Nam sẽ suy giảm vì nhà đầu tư nước ngoài thấy đầu tư (gửi tiền) USD vào Việt Nam không có lợi so với trước đây. Như thế, hành động hạ lãi suất của NHNN sẽ làm gia tăng thêm sự căng thẳng về nguồn cung USD ở Việt Nam (do bị giảm cả về nguồn cung hiện tại do USD chảy ra ngoài, và giảm về nguồn cung USD bổ sung từ bên ngoài vào Việt Nam). Từ lý do này, có thể nói hành động hạ lãi suất của NHNN lại có tác động tiêu cực đến sự ổn định tỷ giá VND do cung USD bị sụt giảm.
Quan điểm thứ hai cho rằng quyết định hạ lãi suất tiền gửi USD của NHNN sẽ thúc đẩy cá nhân và các tổ chức kinh tế bán USD và gửi tiền VND vào hệ thống ngân hàng hưởng lãi suất cao. Quan điểm này cũng chỉ đúng một phần. Lý do chính làm cho cá nhân và tổ chức găm giữ USD là kỳ vọng phá giá VND. Bởi vậy, với một số cá nhân và tổ chức không kỳ vọng VND bị phá giá hơn nữa thì việc bán USD rồi gửi VND thu được vào ngân hàng để hưởng lãi là điều có lợi. Nhưng chắc chắn sẽ có một bộ phận cá nhân và tổ chức khác không nghĩ như vậy, và tin tưởng rằng tỷ giá sẽ phải được điều chỉnh hơn nữa (theo hướng VND yếu đi so với USD). Tùy vào mức độ kỳ vọng phá giá VND lớn đến đâu mà bộ phận cá nhân và tổ chức này sẽ găm giữ USD ở mức phù hợp với kỳ vọng đó. Do vậy, chừng nào VND còn bị kỳ vọng tiếp tục mất giá (mạnh) hơn nữa thì chừng đó sẽ vẫn có nhiều người và tổ chức găm giữ USD, bất chấp lãi suất tiền gửi USD có thấp đến đâu, thậm chí là 0% hay ở mức âm.

Quan điểm thứ ba cho rằng hạ lãi suất tiền gửi USD sẽ giúp NHNN có cơ hội để mua thêm được USD. Điều này vừa giúp tỷ giá cân bằng trở lại (tức VND không bị áp lực mất giá hơn nữa), đồng thời lại làm tăng thêm được cung VND (do mua USD), từ đó giúp cho lãi suất VND có cơ hội giảm xuống. Quan điểm này cũng chỉ đúng một vế. Khi mua USD về và tung VND ra, NHNN sẽ làm khan hiếm hơn nguồn cung USD trên thị trường, do đó sẽ làm tỷ giá có xu hướng tăng lên (VND yếu đi) vì trên thị trường có ít USD hơn nhưng lại có nhiều VND hơn. Tuy nhiên, mặt tích cực của việc tăng cung VND (do mua USD được nhiều hơn) này là sẽ làm mặt bằng lãi suất VND giảm thấp đi. Nói cách khác, cho dù hành động hạ lãi suất tiền gửi USD của NHNN có làm cho nhiều cá nhân và tổ chức bán USD cho hệ thống ngân hàng rồi rốt cuộc lượng USD thu mua được này chảy vào két sắt của NHNN thì hành động đó của NHNN chỉ có tác dụng làm giảm lãi suất VND chứ không có tác dụng hỗ trợ sự ổn định của tỷ giá (thậm chí còn làm tăng áp lực phá giá hơn nữa).

Tuesday, 29 September 2015

Bài này hay!

Bài "Hai nỗi lo của chính sách tiền tệ" này của đồng chí Lê Duy Khánh trên Doanh nhân Sài Gòn là một trong những bài tớ phải khen là rất hay. Hình như tớ cũng có dịp hân hạnh được trao đổi với đồng chí Khánh qua blog này thì phải (vơ vào tí :))).


Điều tớ lấy làm lạ là bài này được DNSG đăng mà theo tớ là giữ hầu như nguyên vẹn ý tứ của tác giả, có chăng chỉ là sửa bớt câu chữ. Lạ là vì theo tớ DNSG cũng khá thận trọng trong việc đăng bài phang các chính sách vĩ mô nói chung và phang chính quyền nói riêng.

Monday, 28 September 2015

Hạt giống đỏ?

Cụm từ “Giám đốc Sở 30 tuổi” ở Quảng Nam tự nhiên đã trở thành cụm danh từ riêng chẳng lẫn vào đâu và với ai được vì tính độc nhất vô nhị và giật gân của nó. Trường hợp anh thanh niên Lê Phước Hoài Bảo 30 tuổi trở thành Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Quảng Nam này xứng đáng được ghi vào “kỷ lục guinnes Việt Nam” với những cái “độc” và “nhất” như: Lần đầu tiên một người được bổ nhiệm vào chức danh của một sở ở độ tuổi trẻ như vậy; lần đầu tiên có một người đã đi du học tự túc rồi nhưng sau một năm xoay sở thế nào đó mà lại được hưởng chế độ chi trả học phí từ ngân sách của tỉnh đến cả tỷ đồng (là trường hợp đầu tiên và chưa có trường hợp thứ hai), mặc dù trước khi đi anh này chẳng phải là công chức, đang công tác và thuộc biên chế ở đơn vị nào của tỉnh; lần đầu tiên có một người sau khi tốt nghiệp, chẳng cần đợi thời gian thử thách để chứng tỏ tài năng và kinh nghiệm (cũng như chưa thấy có báo cáo chính thức thanh niên này có tài năng và đức độ đặc biệt gì) đã lần lượt được bổ nhiệm và thăng tiến rất nhanh trong một thời gian ngắn cũng có thể nói là kỷ lục (có lẽ chưa đầy 3 năm, từ 2002 đến 9/2015) qua những vị trí đều rất đáng ngưỡng mộ (và khao khát) như Phó rồi Trưởng phòng xúc tiến đầu tư Ban quản lý Khu Kinh tế mở Chu lai (từ 2012 đến 2/2014), Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Thăng Bình (2/2014), Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam (4/2014), và chỉ mới sau chưa đầy nửa năm đã chính thức trở thành Giám đốc sở này (9/2015).

Chuyện những thanh niên trẻ tuổi đang từ vị trí vô danh bỗng một ngày “vùng dậy sáng lòa” đã dần trở thành chuyện “thường ngày ở huyện” vì ở Việt Nam nó là thế. Chuyện về anh Giám đốc Sở 30 tuổi này thì cũng vậy, có lùm xùm một thời gian ngắn rồi chắc cũng sẽ lại xẹp êm. Điều mà ta cần nói đến là việc lớn hơn, hà cớ gì nhà nước lại phải trả tiền để nuôi ăn học và “quy hoạch” một số đối tượng nào đó?
Đã có một thời gian dài trước đây nhà nước đã tuyển chọn con em một số đối tượng và thành phần được ưu tiên trong xã hội để gửi đi đào tạo cả trong và ngoài nước, chủ yếu là các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, bên cạnh một ít sự tuyển chọn công bằng và công khai hơn qua thi tuyển, qua thành tích học tập. Sự tuyển chọn mang tính “con em” như thế này, từng có lúc được ví là những “hạt giống đỏ”, ở một giác độ nào đó có thể hiểu được và thông cảm được, vì cha anh của họ là những thành phần có công trạng hoặc có vị trí trong xã hội, ở cái thời mà lý lịch chứ không phải năng lực mới là yếu tố quyết định con đường hoạn lộ của mỗi cá nhân. Do những “hạt giống đỏ” mới chỉ là hạt giống nên cần phải gieo trồng vun xới, tưới tắm từ nhỏ nên tất nhiên là nhà nước phải bỏ tiền ra để nuôi ăn học những đối tượng này.
Ngoài những đối tượng hạt giống đỏ trên, còn có một hiện thực nữa là nhiều cán bộ biên chế nhà nước, nhất là đối tượng thuộc dạng “quy hoạch” (tất nhiên, cũng thường là những người có lý lịch “đẹp”) nhưng trình độ học vấn và chuyên môn chả đâu vào đâu nên cần phải được nâng cấp để đáp ứng được yêu cầu về bằng cấp và trình độ để làm sếp trong tương lai. Trong trường hợp này, nhà nước cũng phải bỏ tiền ra để nuôi họ ăn học vài năm nhằm “chuẩn hóa cán bộ”, với tâm lý là không thế thì lấy đâu ra người (giỏi) để làm việc.
Nhưng rồi cùng với sự đổi mới và mở cửa nền kinh tế, đổi mới tư duy và cung cách điều hành xã hội, ngành “làm quan” cũng dần dà được cởi mở hơn cho những đối tượng bên ngoài xã hội được tham gia mà không cần, không được đóng cửa tuyển dụng “con em” hoặc người đang công tác trong ngành như trước nữa. Và quả thật là hiện nay ngày càng có nhiều đợt tuyển công chức, cán bộ công khai mà không ít trong số đó cũng khá là công bằng và cởi mở. Đồng thời, thực tế cũng cho thấy, bất cứ lúc nào, chỉ cần nhà nước thông báo tuyển dụng bất cứ vị trí nào, trình độ nào, kinh nghiệm nào, độ tuổi nào, lĩnh vực nào và ngành nghề nào thì sẽ có hàng trăm hàng nghìn hồ sơ dự tuyển, và trong đó chắc chắn có không ít người xuất sắc đáp ứng tất cả mọi tiêu chuẩn tuyển chọn đặt ra để nhà nước tha hồ mà lựa chọn những người giỏi và phù hợp.
Trở lại trường hợp anh Bảo ở trên. Có thể thấy anh Bảo là người không có tài cán gì đặc biệt, hơn người. Cho dù anh đủ năng lực đi học Thạc sĩ ở Mỹ (cứ cho là cái trường anh theo học không phải là là cái lò bán bằng), thì việc này cũng trở thành quá bình thường ở Việt Nam trong thời đại này. Anh cũng không phải là thần đồng hay người đoạt các giải cao trong các cuộc thi học sinh, sinh viên giỏi để được đặc cách hay tưởng thưởng một xuất học bổng du học nước ngoài từ ngân sách nhà nước. Trong quá trình học 1 năm ở Mỹ cũng chưa thấy có báo cáo nào cho biết anh có thành tích đặc biệt gì đó đến nỗi tỉnh Quảng Nam phải quyết định “truy cấp” học phí cho anh suốt 2 năm học Thạc sĩ. Vậy thì cái việc tỉnh Quảng Nam tài trợ chi phí ăn học cho anh Bảo là không thể hiểu nổi trong bối cảnh hiện nay, trừ phi người ta coi anh Bảo là “hạt giống đỏ” như thời trước đây.
Sau đó, trong quá trình công tác ngắn ngủi sau tốt nghiệp về Việt Nam, cũng chưa thấy anh Bảo có công trạng hay thành tích đặc biệt lưu danh gì để mà phải tưởng thưởng đặc cách phong chức. Công việc và vị trí của anh đã từng kinh qua cũng không phải là công việc thuộc loại quá hiếm và quá khó đến nỗi chỉ có một số rất ít người, đặc biệt là chỉ có anh, mới có thể đảm nhiệm tốt được. Thay vì anh Bảo, nếu  muốn, tỉnh Quảng Nam chắc chắn có thể lựa chọn trong đội ngũ cán bộ hiện tại hoặc tuyển ngang từ bên ngoài những người có bằng cấp, trình độ và năng lực bằng và hơn anh Bảo nhiều để đảm nhiệm những vị trí mà anh Bảo đã và đang đảm nhiệm. (Nếu không phải vậy thì lẽ nào những vị trí mà anh Bảo bỏ lại sau lưng lại đang bị bỏ trống vì không ai đủ năng lực đảm nhận?) Vậy thì cái việc anh Bảo được cất nhắc và thăng tiến vù vù như vậy cũng là không thể hiểu nổi trong bối cảnh hiện nay, trừ phi người ta lại coi anh Bảo là “hạt giống đỏ”, là đối tượng được “quy hoạch” từ trong trứng như thời trước đây.
Tóm lại, về nguyên tắc, rõ ràng là nhà nước hiện nay không cần và không nên “quy hoạch” và trả tiền cho một người bình thường đi học để về đảm nhiệm những công việc và vị trí mà nhiều người khác trong xã hội hoàn toàn có thể đảm nhiệm tốt được, cho dù đó là một vị trí lãnh đạo nào đó, vì luôn có thể tìm được người thích hợp cho mọi vị trí trong bộ máy nhà nước thông qua tranh cử và thi tuyển. Nhưng các nguyên tắc này sẽ bị “xếp xó” nếu tình trạng “hạt giống đỏ” vẫn tồn tại và phát triển.

Trả lời bạn đọc về việc NHNN hạ lãi suất tiền gửi USD

Đồng chí em hôm trước hỏi tớ mấy câu sau (phần in nghiêng).


Hi anh, sáng nay mở mắt dậy thấy Ngân hàng nhà nước bất ngờ giảm lãi suất USD áp dụng từ 28/9

- Lãi suất gửi USD với tổ chức còn 0% (mức cũ 0.25%)

- Lãi suất tiền gửi của cá nhân là 0.25% (mức cũ 0.75%)


Theo em, đây là nỗ lực cuối cùng của NHNN nhằm kéo dài thời gian phá giá VND (Chẳng hiểu vì sao chưa chịu phá đi chứ để càng cuối năm áp lực càng lớn trừ lý do bộ sậu trên đó quá ngoan cố) tuy nhiên theo em nghĩ giảm lãi suất USD hiện tại không giúp ích gì được cho NHNN vì:


- Lãi suất huy động USD hiện tại của cá ngân hàng thương mại Việt Nam tầm 2-3%, cho dù NHNN có giảm trần lãi suất đi chăng nữa thì các ngân hàng thương mại vẫn khó có thể giảm lãi suất USD nhằm tránh cho USD tiết kiệm chạy khỏi hệ thống ngân hàng.

Tớ: Cái này thì tớ không bình luận được vì tớ không rõ nhu cầu cần USD của các ngân hàng lớn như thế nào để họ có thể nhắm mắt lách luật. Nhưng tớ nghĩ rằng khi có nhu cầu thì các ngân hàng sẽ sẵn sàng và dễ dàng lách luật để huy động cho đủ.


- Thứ hai, cho dù có giảm lãi suất huy động USD thì cũng không làm cho USD mất sức hấp dẫn tại VIệt Nam, vẫn không tránh khỏi tình trạng găm giữ.

Tớ: Đúng rồi, kỳ vọng VND bị phá giá bao nhiêu % mới là cái quan trọng để người ta nắm giữ USD. Chẳng hạn nếu VND bị kỳ vọng phá 3% nữa thì nhà đầu tư sẵn sàng vay VND với lãi suất ví dụ 2%/tháng mua USD rồi gửi tạm vào ngân hàng với lãi suất 0% đợi 1 tháng sau VND bị phá 3% thì bán ra, trả nợ vay và vẫn còn lãi được 1% nữa. Trong trường hợp này, lãi suất USD cao hay thấp hơn 0,5% chẳng hạn cũng không ảnh hưởng gì đến quyết định nắm giữ USD cả.

Vấn đề em boăn khoăn là liệu trong bối cảnh Fed sắp nâng lãi suất, đồng USD đang lên giá, mà VIệt Nam lại đi ngược hạ lãi suất USD thì có thể tạo ra cú sốc nào, hệ lụy nào cho nền kinh tế không ?

Tớ: Tình cờ là sáng nay lúc em hỏi thì tớ đã viết xong bài trên CafeF về chuyện này, em ngó  câu trả lời trên đó nhé.

Sau động thái hạ lãi suất này nhằm níu kéo tỷ giá, liệu NHNN còn quân bài nào khác có thể dùng không trước khi buộc phải buông tỷ giá ra. (trong tháng 9 đã bán hơn 2 tỷ USD cho các Ngân hàng thương mại rồi, cộng với hơn 4 tỷ trong tháng 8 thì chắc dự trữ ngoại hối đã về gần mức 30 tỷ )

Tớ: Tớ cũng nói trên CafeF rồi, rằng tác động của việc hạ lãi suất USD đợt này sẽ có hạn vì mức hạ là khiêm tốn, và không còn room để hạ nữa. Nói cách khác, NHNN chỉ còn mỗi phương pháp là siết chặt cung cầu bằng biện pháp hành chính (capital control), nhưng hiệu quả thế nào thì bản thân NHNN đã rõ mãi rồi.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).