Friday, 14 November 2014

Có cần một cơ quan giám sát tài chính tiền tệ độc lập không? (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, 15/11)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=333015

Một thực tế được thừa nhận rộng rãi là các cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới đều thường bắt nguồn từ sự giám sát tài chính yếu kém, bị coi nhẹ, không kịp thời phát hiện ra những rủi ro mang tính hệ thống.
 
Trong bối cảnh hệ thống giám sát tài chính của Việt Nam cũng có nhiều tồn tại, hiện đang có luồng ý kiến cho rằng, bên cạnh việc thắt chặt công tác giám sát tài chính với việc áp dụng nhiều chuẩn mực và thông lệ quốc tế về giám sát, Việt Nam cần phải xây dựng và áp dụng một mô hình giám sát độc lập và hợp nhất, giám sát toàn bộ hệ thống tài chính gồm ngành ngân hàng, chứng khoán, và bảo hiểm, thay cho mô hình giám sát theo chức năng như hiện nay.
 
Để hiểu và chấp thuận đề xuất này, ta hãy xem tại sao giám sát chức năng chưa hoặc không phát huy tác dụng như kỳ vọng để rồi trở thành đối tượng đòi bị thay thế.
Theo một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) thì công tác giám sát tài chính đang có những nhược điểm sau:
 
Thứ nhất, các cơ quan giám sát tài chính, bao gồm Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam vừa thực hiện chức năng cấp phép, ban hành cơ chế chính sách, vừa thực hiện chức năng hướng dẫn, triển khai thực hiện cơ chế chính sách và kiêm luôn vai trò kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của các định chế tài chính. Điều này dẫn đến xung đột lợi ích, khiến hiệu quả và hiệu lực giám sát không cao.
 
Thứ hai, việc thực hiện giám sát trên cơ sở rủi ro, giám sát an toàn vĩ mô vẫn còn yếu kém, chủ yếu thiên về giám sát tuân thủ. Đến nay vẫn chưa có một quy định chung về cách thức giám sát cho cả hệ thống tài chính. Việc giám sát vẫn chưa bao quát được tất cả các lĩnh vực hoạt động của các tập đoàn kinh tế, tài chính trong và ngoài nước. Các công cụ phái sinh tài chính nhằm giảm rủi ro vẫn chậm được áp dụng.
 
Thứ ba, khó giám sát một cách hữu hiệu các rủi ro sở hữu chéo do thiếu minh bạch, công khai, và do thiếu phối hợp liên thông giữa các cơ quan giám sát chức năng. Mặc dù đã có Ủy ban giám sát tài chính quốc gia (UBGSTCQG) nhưng nó được cho là không phải là cơ quan giám sát tài chính vĩ mô có đủ thẩm quyền và năng lực bộ máy để cảnh báo, ngăn ngừa và xử lý hữu hiệu các loại rủi ro của hệ thống tài chính.
 
Thứ tư, vẫn chưa áp dụng các công cụ phục vụ cho giám sát an toàn vĩ mô/vi mô, nhất là giám sát dựa trên rủi ro, như mô hình phân tích định lượng, dự báo, kiểm định v.v...
Thứ năm, kỹ thuật, công nghệ và nhân lực trong các cơ quan giám sát tài chính vẫn yếu kém.
 
Thứ sáu, vẫn còn nhiều khác biệt giữa các tiêu chuẩn an toàn hoạt động, kế toán và kiểm toán của Việt Nam với chuẩn mực và thông lệ quốc tế.
Và thứ bảy, tình trạng sở hữu chéo và sự chi phối của các nhóm lợi ích làm giảm hiệu quả giám sát.
 
Với nguyên nhân thứ nhất, tuy đúng là các cơ quan giám sát này thực hiện cùng lúc nhiều chức năng, từ làm chính sách đến giám sát thực hiện chính sách, nhưng khó có thể nói có xung đột lợi ích ở đây, vì cơ chế hoạt động kiểu này là phổ biến trên thế giới. Thêm nữa, các cơ quan này không bị tình trạng vừa đá bóng, vừa thổi còi, tức không khoác cả vai đối tượng bị điều chỉnh, chế tài bởi các chính sách của họ. Cơ chế hoạt động kiểu này còn có cái lợi nữa là, ví dụ, mọi quyết định xử lý, xử phạt đều được cơ quan chủ quản trực tiếp đưa ra và áp dụng luôn với đối tượng bị xử phạt mà không cần phải chuyển giao, kiến nghị xử lý cho bất cứ một ai, một cơ quan nào khác, vừa chậm vừa không hiệu quả.
 
Về nguyên nhân thứ hai, có thể nói đây chỉ là yếu kém về mặt kỹ thuật. Tức là điều cần làm ở đây không phải là cho ra đời một cơ quan giám sát với tên gọi là giám sát rủi ro/an toàn vĩ mô, hoặc giám sát hợp nhất, thay cho các cơ quan giám sát chức năng hiện tại thì tự nhiên vấn đề sẽ được giải quyết ổn thỏa. Thay vào đó, cần phân định và giao thêm nhiệm vụ rõ ràng cho từng cơ quan giám sát chức năng hiện hữu giám sát rủi ro/an toàn vĩ mô lĩnh vực và đối tượng thuộc sự quản lý của mình. Các yếu kém về kỹ thuật tuy có thể cần phải có thời gian và kinh phí để khắc phục, nhưng rõ ràng chẳng có liên quan gì đến việc có hay không có một siêu cơ quan giám sát bao trùm lên mọi lĩnh vực kinh tế có liên quan.
 
Nguyên nhân thứ ba – thiếu vắng phối hợp, liên thông – có lẽ đã chỉ ra sự khác biệt lớn nhất giữa hai mô hình giám sát (giám sát chức năng và giám sát hợp nhất). Hãy thử hình dung một cơ quan giám sát vĩ mô có đủ thẩm quyền và năng lực bộ máy để cảnh báo, ngăn ngừa và xử lý hữu hiệu các loại rủi ro của hệ thống tài chính sẽ như thế nào. Nó sẽ là một cơ quan siêu bộ, bao trùm lên Bộ Tài chính và NHNN, nhúng tay vào mọi hoạt động nghiệp vụ của 2 cơ quan này (có thế thì mới kịp thời phát hiện ra những rủi ro để mà cảnh báo), có quyền lực có thể nói là tuyệt đối để can thiệp và yêu cầu Bộ Tài chính và NHNN ngăn ngừa rủi ro, và đặc biệt là có quyền thay mặt hoặc không cần sự đồng ý/tham gia của NHNN và Bộ Tài chính để xử lý các rủi ro này. Dễ thấy việc cho ra đời một cơ quan siêu quyền lực như vậy là không nên và không thể. Chưa nói đến thực tế là Thủ tướng, dưới sự tư vấn của UBGSTCQG có thể thực hiện hoặc chỉ định/giao quyền cho Bộ Tài chính và NHNN thực hiện việc phát hiện, ngăn ngừa và xử lý rủi ro toàn hệ thống, toàn nền kinh tế. Điều cần làm ở đây có lẽ chỉ là tạo ra một khuôn khổ hoạt động để cho UBGSTCQG có thể tiếp cận được sâu rộng hơn các hoạt động của Bộ Tài chính và NHNN (chủ yếu thông qua việc cung cấp số liệu, trao đổi thông tin) nhằm phát hiện và tư vấn xử lý rủi ro một cách khách quan, trung
lập.
 
Với các nguyên nhân thứ tư, năm và sáu thì rõ ràng cũng là những nguyên nhân kỹ thuật, chứ không phải là nguyên nhân để thay thế cơ quan giám sát chức năng bằng cơ quan giám sát hợp nhất. Nói cách khác, cho dù có một cơ quan giám sát hợp nhất chăng nữa mà những vấn đề yếu kém này vẫn tồn tại thì cơ quan giám sát hợp nhất này cũng chẳng làm nên trò trống gì.
 
Cũng tương tự như vậy là nguyên nhân thứ bảy. Chừng nào mà sở hữu chéo và sự chi phối của các nhóm lợi ích vẫn còn quá lớn thì chừng đó công tác thanh tra giám sát, bất kể ở cấp độ nào, phạm vi nào, vẫn dễ dàng bị vô hiệu hóa.
 
Như vậy, công tác thanh tra, giám sát tài chính yếu kém ở Việt Nam đi kèm với những rủi ro đổ vỡ hệ thống có những nguyên nhân không nằm ở chuyện không hoặc chưa có một cơ quan giám sát hợp nhất/vĩ mô.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).