Wednesday, 2 January 2019

Cơ chế tự chủ sắp có thay đổi (Bài đăng trên TBKTSG, 31/12/2018)

https://www.thesaigontimes.vn/283398/co-che-tu-chu-sap-co-thay-doi-.html


Một số thay đổi đáng chú ý theo dự thảo Nghị định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập

Bộ Tài chính đang đưa ra lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 16/2015/NĐ-Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập. Dự thảo này có một số thay đổi quan trọng so với Nghị định 16.

Thay đổi quan trọng đầu tiên là báo chí đã không còn được coi là một trong những lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của dự thảo. Tương ứng với điều này, trong phần giải thích về “dịch vụ sự nghiệp công”, dự thảo cũng đã cắt bỏ lĩnh vực báo chí.

Như vậy, có thể diễn giải từ dự thảo là các cơ quan báo chí với tư cách là các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ không còn được, không có cơ chế tự chủ như hiện nay nữa (trong Nghị định 16). Không rõ nguyên nhân nào dẫn đến sự thay đổi này trong dự thảo nên có lẽ Bộ Tài chính cần có văn bản giải thích chi tiết những thay đổi này để dư luận hiểu rõ, tránh những đồn đoán bất lợi, không cần thiết.

Tiếp theo, khoản 2 điều 2 được sửa đổi từ “Đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội áp dụng các quy định tại Nghị định này…” thành “Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được áp dụng các quy định tại Nghị định này…”. Có thể hiểu sửa đổi này trong dự thảo có hướng mở hơn so với Nghị định 16, theo đó các cơ quan nói trên có quyền lựa chọn áp dụng, hoặc không áp dụng, các quy định của dự thảo, trong khi theo Nghị định 16 thì họ chỉ có một lựa chọn là phải áp dụng.

Khoản 1 điều 7 về nhân sự được sửa đổi theo đó đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư và đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên được quyết định vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc theo quy định của Luật Viên chức (người viết nhấn mạnh), phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Quy định như vậy sẽ tránh được khả năng tùy tiện, dễ dãi hoặc vô trách nhiệm như trong quy định hiện nay, theo đó đơn vị sự nghiệp công quyết định số người làm việc và trình cơ quan có thẩm quyền quyết định mà không hiếm khi dẫn đến những sai trái trong việc tuyển dụng và bổ nhiệm nhân lực trong các cơ quan này. Mọi việc bố trí nhân sự trong tương lai sẽ phải theo đúng quy định thống nhất trong Luật Viên chức để không có chỗ cho những biện minh do, ví dụ, “đặc thù” để làm trái như trước đây.

Tương tự, dự thảo cũng loại bỏ dòng “… trên cơ sở định biên bình quan 05 năm trước…” và “… đối với các đơn vị sự nghiệp công lập mới thành lập, thời gian hoạt động chưa đủ 05 năm thì tính bình quân cả quá trình hoạt động…” trong khoản 1 điều 7. Quy định mới như vậy sẽ giúp tránh được tình trạng đơn vị sự nghiệp công lập tiếp tục có bộ máy phình to do được áp dụng mức bình quân trong các năm trước là các năm rất có thể đã có sự dư thừa, tuyển dụng sai trái của họ.

Dự thảo còn bổ sung thêm khoản 3 điều 7 quy định riêng về số lượng cấp phó của đơn vị sự nghiệp. Đây cũng là một điều chỉnh nhằm hạn chế tình trạng “lạm phát” cấp phó trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Tuy nhiên, nếu đã có quy định như vậy thì cũng nên có thêm quy định để hạn chế việc “lạm phát” cả cấp trưởng (trưởng phòng, trưởng ban, quyền/hàm trưởng phòng/ban…) vì đây cũng là một kẽ hở để bộ máy của các cơ quan này tiếp tục phình to.

Cuối cùng, dự thảo có bổ sung thêm cả một chương về áp dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp đối với đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, cũng như đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên. Đây là một sự bổ sung cần thiết bởi khi đã tự chủ tài chính thì các đơn vị sự nghiệp công lập cần hạch toán doanh thu, chi phí và lợi nhuận như một doanh nghiệp để hoàn thành nghĩa vụ thuế và đóng góp với nhà nước.

Điều đáng lưu ý trong chương nói trên là nội dung khá thiên lệch của nó, vì hầu như chỉ đề cập đến vấn đề tiền lương và phân phối lợi nhuận, trong khi vấn đề cốt yếu – những giá trị mà nhà nước đã đầu tư, đã bỏ ra và hậu thuẫn để đơn vị sự nghiệp công lập có được cái ngày chúng trở nên tự chủ được về tài chính, bảo đảm chi thường xuyên (và chi đầu tư) lại không được đề cập đến. Chỉ lấy riêng một ví dụ là một bệnh viện công nào đó nay được tự chủ tài chính, tự đầu tư và “kinh doanh” thành công thì không thể không đề cập đến vai trò và nguồn đầu tư to lớn của nhà nước (vào cơ sở vật chất, con người…) đã tạo dựng nên thương hiệu bệnh viện đó với tư cách chẳng hạn như bện viện đầu ngành, tuyến trên, hoặc đơn giản chỉ là một bệnh viện (công) của nhà nước với uy tín hơn hẳn bệnh viện tư nên hấp dẫn hơn với nhiều bệnh nhân có điều kiện chi trả.

Nếu những giá trị trên (bao gồm dưới dạng, ví dụ, giá trị thương hiệu) không được hạch toán đầy đủ một cách hợp lý vào chi phí mà doanh nghiệp phải hoàn trả cho nhà nước, hoặc vào vốn điều lệ thì phần lợi nhuận được giữ lại của doanh nghiệp sẽ trở nên lớn hơn một cách không đúng đắn, xác đáng, gây thiệt hại, thất thoát cho nhà nước.
Do đó, dự thảo cần thiết bổ sung quy định về (nguyên tắc) xác định giá trị vốn nhà nước và những giá trị liên quan nhà nước mang lại để phân bổ hợp lý vào chi phí và lợi nhuận mà doanh nghiệp được hưởng.

No comments:

Post a comment

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).