Sunday, 17 January 2021

Chính sách kinh tế của ông Joe Biden và tác động đến Việt Nam (Bài đăng trên TBKTSG, 15/1/2021, bản gốc)

https://www.thesaigontimes.vn/312619/chinh-sach-kinh-te-cua-ong-joe-biden-va-tac-dong-den-viet-nam.html

Tổng thống Mỹ sắp mãn nhiệm Trump có thể nói đã làm khó cho nhiều nền kinh tế châu Á khi luôn đe dọa, và thực tế đã thực hiện, áp đặt thuế quan lên ngay cả những đồng minh thân thiết nhất của mình. Việt Nam thì bị đưa vào danh sách nước bị cáo buộc thao túng tiền tệ sau khi Mỹ chứng kiến thâm hụt thương mại lớn do hậu quả của thương chiến Mỹ-Trung.

Chính sách của Trump đối với Trung Quốc đặc biệt hà khắc thông qua áp thuế trên gần như ¾ hàng hóa Mỹ nhập khẩu từ Trung Quốc, trong khi cấm cửa các hãng công nghệ như Huawei và hạn chế xuất khẩu cho các nhà sản xuất chip lớn của Trung Quốc với lý do an ninh quốc gia.

Đó là lý do vì sao sự chiến thắng của Tổng thống đắc cửa Biden đã làm nhiều nước châu Á thở phào. Họ có thể hy vọng một chính quyền ít đối đầu hơn và dễ tiên đoán hơn ở Mỹ, có xu hướng đối thoại để giải quyết xung đột hơn là đơn phương khởi động thương chiến.

Nhưng giới quan sát thì thận trọng hơn. Họ không cho rằng chính sách thương mại hiện thời sẽ thay đổi lớn trong thời của Biden. Bởi trọng tâm chính sách của chính quyền Biden vẫn sẽ là kích thích công nghiệp nội địa như được thể hiện qua cam kết tranh cử “made in all of America” được hiểu là sự mở rộng của nguyên tắc Buy American (tạm dịch, hãy mua hàng hóa của Mỹ) thông qua biện pháp như đánh thuế 10% lên các hãng Mỹ đặt hàng sản xuất hải ngoại (và ngược lại, được giảm thuế), và lấp lỗ hổng giúp các công ty đa quốc gia Mỹ tránh thuế lên phần lợi nhuận thu từ nước ngoài.

Khủng hoảng kinh tế do đại dịch Covid-19 gây ra làm hàng triệu người Mỹ thất nghiệp càng thúc đẩy Biden bám chắc chính sách này của mình. Và với chính sách như vậy, Biden rõ ràng không phải là người có, cổ xúy cho tư tưởng thương mại tự do. Biden cũng được trích dẫn khi nói rằng ông sẽ không đàm phán bất cứ một hiệp định thương mại tự do nào cho đến khi đầu tư vào ngành chế tạo của Mỹ gia tăng mạnh.

Trong bối cảnh đó, nhất là khi Covid-19 đang tiếp tục hoành hành tại Mỹ thì khởi động lại đàm phán thương mại sẽ không phải là ưu tiên chính sách của Biden ít nhất trong thời gian đầu cầm quyền. Và cho dù đàm phán có được nối lại thì Mỹ xem ra sẽ không rút lại những biện pháp trừng phạt Trung Quốc nếu không đạt được những nhượng bộ lớn từ Trung Quốc trong các vấn đề cơ bản như sở hữu trí tuệ và trợ cấp Chính phủ cho doanh nghiệp nội địa.

Những chính sách khác của Trump dành cho Trung Quốc như cấm cửa các hãng công nghệ Trung Quốc vẫn sẽ được tiếp tục dưới thời Biden khi mà đảng Dân chủ đã ủng hộ nó. Biden cũng ủng hộ Luật Nhân quyền Hong Kong, và như vậy thì các vi phạm nhân quyền ở Xinjiang và đối đầu chính trị của Trung Quốc với Đài Loan sẽ tiếp tục triệt tiêu cơ hội thay đổi phương pháp tiếp cận của Mỹ với Trung Quốc. Ngoài ra, chính sách Trung Quốc của Biden sẽ còn tiếp tục bị phủ bóng bởi chính quyền tiền nhiệm khi họ cho thấy các biện pháp trừng phạt với doanh nghiệp Trung Quốc chưa dừng lại.

Như vậy, có thể nói rằng dù Biden hứa hẹn, cho thấy sự ổn định hơn (và dựa trên luật lệ hơn) nhưng có lẽ sẽ không (ngay lập tức) lật ngược hoàn toàn chính sách thương mại diều hâu của Trump. Nói cách khác, chính quyền Biden có xu hướng sẽ duy trì lập trường cứng rắn với Trung Quốc của người tiền nhiệm Trump trong một thời gian không xác định trước khi có những chuyển biến căn bản đối nội và đối ngoại.

Hàm ý của một chính sách tiếp tục cứng rắn với Trung Quốc của Biden sẽ có ảnh hưởng đến Việt Nam trên một số khía cạnh. Trước tiên là chính sách liên kết với đồng minh để kiềm chế Trung Quốc của Biden có thể sẽ theo hướng lôi kéo Việt Nam tiến gần hơn nữa với Mỹ. Điều này sẽ đặt Việt Nam vào thế phải ngày càng rõ ràng lựa chọn phe, trong khi không thể, không dễ “thoát Trung” bởi sự phụ thuộc lớn của Việt Nam vào nền kinh tế nước này.

Việc đàm phán một hiệp định thương mại song phương Việt-Mỹ có lẽ cũng không phải là một ưu tiên chính sách của Biden trong thời gian đầu cầm quyền, mà sẽ được đặt trong bối cảnh của việc ông có quyết định quay trở lại bàn đám phán lại về Hiệp định Đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) hay không. Một số nhà quan sát cho rằng Biden sẽ không muốn sớm gia nhập TPP bởi đảng Dân chủ không mặn mà với những thỏa thuận thương mại mới (dù Biden dưới thời Tổng thống Obama là người cổ xúy mạnh mẽ).

Tiếp đó, là một tổng thống “ổn định” và dựa trên luật lệ hơn, Biden được kỳ vọng sẽ xử lý các vấn đề thương mại với Việt Nam theo các cách thức truyền thống. Thâm hụt thương mại ngày càng tăng với Việt Nam được coi là một bằng chứng của việc Việt Nam lợi dụng Mỹ dưới thời Trump sẽ được Biden xem xét một cách tỉnh táo, thấu đáo hơn với sự tư vấn của các cố vấn của mình như là kết quả của nhiều yếu tố ngoài chuyện thao túng tiền tệ. Thậm chí, một số nhà quan sát còn cho rằng chính quyền Biden sẽ hủy bỏ việc đánh thuế một cách tùy tiện của chính quyền Trump lên tấm pin mặt trời, máy giặt và thép và nhôm của Việt Nam. 

Nhưng điều này không có nghĩa là Biden sẽ xem nhẹ hay bỏ qua vấn đề thâm hụt thương mại ngày càng tăng dưới góc nhìn Buy American. Nó sẽ tiếp tục là áp lực và lý do để chính quyền Biden yêu cầu Việt Nam mở cửa thị trường trong nước hơn nữa với hàng hóa, dịch vụ và đầu tư của Mỹ, nhất là trong các ngành “nhạy cảm” như dịch vụ tài chính... Đồng thời, Mỹ chắc sẽ phản ứng với những yêu cầu/động thái, nếu có, của Việt Nam về buộc các công ty cung cấp dịch vụ xuyên biên giới phải đặt các cơ sở lưu trữ số liệu tại Việt Nam hay về đánh thuế lên các ông lớn công nghệ như Google, Facebook... 

No comments:

Post a comment

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).