Wednesday, 19 April 2023

Hãng xe “Tự hào quá” của Việt Nam xin gia hạn nộp thuế nhập khẩu máy móc thiết bị chuyển nhượng

Bạn tớ thấy tình yêu vô biên của tớ với “niềm tự hào” xe điện của Việt Nam nên quyết làm khó tớ bằng cách gửi thêm tài liệu là ảnh chụp một công văn đề ngày 11/11/2022 của hãng sản xuất ra niềm tự hào này gửi đến một cơ quan nhà nước nọ, với subject là: “Xin gia hạn nộp thuế nhập khẩu máy móc thiết bị chuyển nhượng”. (Tên hãng là gì thì mọi người tự đoán, chứ tớ không thể tiết lộ, do không thể xác minh được tính chân thực của công văn này. Sau đây xin bắt trước cách gọi của Việt Nam là công ty X).

Có thể nhiều đồng chí đã đọc/biết đến cái công văn này, nhưng tớ thấy có chút hữu ích khi đăng lại và phân tích công văn này để hiểu thêm về lý do tại sao tớ lại yêu cái hãng tự hào này đến vậy.

Công văn có thể tóm tắt như thế này: Công ty X, thành lập năm 2017, được miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu tạo tài sản cố định của dự án sản xuất ô tô chạy xăng trong thời hạn 5 năm. Đến năm 2022, Công ty X “đã đưa ra một quyết định hết sức khó khăn là dừng sản xuất xe ô tô chạy xăng và chỉ tập trung phát triển, sản xuất xe ô tô điện”.

Lý do cho “quyết định khó khăn” này được X dẫn giải trong công văn là:

-        - "Hòa chung vào nhu cầu phát triển xanh, Việt Nam đã tham gia nhiều diễn đàn hội nghị với các quốc gia trên thế giới về bảo vệ môi trường”,

-        - "Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 876 ngày 22/7/2022 về việc phê duyệt chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải...

-        - (Quyết định 876 thể hiện) “Quyết tâm rất cao, cần huy động sức mạnh tổng lực, trong đó sự nỗ lực của doanh nghiệp là then chốt”

-       - (Việc dừng sản xuất xe chạy xăng, chuyển sang sản xuất xe chạy điện của công ty X là) “Để phù hợp với xu thế phát triển xanh và bảo vệ môi trường tất yếu (của thế giới và quyết tâm của Việt Nam).

Công ty X cho rằng chuyện phải chuyển đổi sản xuất từ xe xăng sang xe điện này “đã gây ra áp lực tài chính rất lớn” cho công ty vì “phải bố trí nguồn vốn bổ sung để mua máy móc thiết bị mới nhằm thay đổi máy móc, thiết bị từ sản xuất xe xăng sang xe điện” và “phải đầu tư dây chuyền, máy móc... để phát triển sản xuất pin ô tô điện áp dụng công nghệ tiên phong...”

Bởi các “khó khăn về tài chính do thay đổi phương án kinh doanh” và “ảnh hưởng nặng nề” của Covid, công ty X đã chuyển nhượng máy móc, thiết bị đã nhập khẩu miễn thuế không tiếp tục sử dụng để sản xuất xe xăng cho 1 công ty khác, gọi là công ty Chuyển nhượng (“công ty Y”) (là một chủ sở hữu lớn của... công ty X!) để nhận được tài chính để mua máy móc mới cho sản xuất xe điện.

Công ty Y không có hoạt động sản xuất ô tô để sử dụng máy móc trên, cũng chưa có kế hoạch chuyển nhượng máy móc cho bên thứ ba nên cả X và Y đều... “gặp rất nhiều khó khăn về tài chính”.

Khó thế rồi mà công ty X và Y cũng chưa được yên! Cơ qua nhà nước nọ, bằng một công văn đề ngày 9/11/2022, lại chơi khó X và Y hơn nữa khi yêu cầu phải nộp thuế phát sinh từ việc chuyển nhượng máy móc trên, với số tiền là 30 tỷ đồng.

Công ty X lại trình bày tiếp rằng thì là mà, rằng thì là do Covid diễn biến phức tạp, tình trạng khan hiếm linh kiện cho sản xuất ô tô, thiếu chip toàn cầu (“làm giá chip tăng lên gấp hàng TRIỆU LẦN so với giá thông thường”!!!), lương và phúc lợi tăng đột biến, người lao động bị mắc bệnh blah blah... làm cho “giá thành sản xuất tăng cao, gây ra nhiều khó khăn cho doanh nghiệp”.

Do “các khó khăn tài chính chồng chất”, “nếu phải nộp thuế nhập khẩu tại thời điểm này” sẽ “tạo thêm gánh nặng lớn và ảnh hưởng lớn đến dòng tiền”, công văn của công ty X diễn giải tiếp. (Các đồng chí đọc được công văn, đến đoạn này sẽ thấy văn phong rất lủng củng, cũng giống như một số đoạn khác, và cả về mạch bài, cho thấy trình độ kém của người soạn thảo và phê duyệt, cần phải thay thế sớm).

Đến đây, dường như chợt nhớ ra thêm chi tiết khác có thể tăng thêm ép phê, công văn lại lộn lại với chủ đề kêu khó, kêu khổ khi nêu rằng đúng vào thời điểm này (11/2022) nó sẽ xuất khẩu một tầu chở ô tô điện đầu tiên; các đơn đặt hàng xuất khẩu xe năm 2023 “đã lên đến hàng trăm ngàn chiếc/năm”(!!!). Kêu khó nhưng công ty X vẫn, như thường lệ, không quên thòng thêm câu thiện lành: “Đây được coi là thời khắc lịch sử của X và CŨNG LÀ MỤC TIÊU PHẤN ĐẤU CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM khi X chính thức tham gia vào thị trường ô tô điện thế giới”.

Đọc đến đây chắc sẽ có người bảo có thấy khó gì đâu, chỉ thấy nói đến viễn cảnh sáng lạn xuất khẩu hàng trăm ngàn chiếc đó chứ? Thật ra lỗi là tại cách hành văn kiểu con tôm trong công văn, chứ còn khó khăn thì có vẻ như được nói ngay sau câu thòng thiện lành trên, rằng “Vì vậy, X cần dồn toàn bộ nguồn vốn và nhân lực vào đầu tư phát triển sản xuất, đảm bảo đáp ứng giao đủ đơn hàng cho khách nước ngoài”.

Vòng vo, lộn đi lộn lại một hồi rồi cũng đến phần kết của công văn là xin gia hạn nộp thuế khi chuyển nhượng máy móc trong thời hạn 2 năm.

Giờ là đến phần đọc và hiểu của tớ từ cái công văn trên của X.

1.       1.  Công ty X thay đổi sản xuất từ ô tô xăng sang ô tô điện dù là bởi những lý do nội tại, dù là chuyện riêng của nó, nhưng đã đột/tự/đương nhiên trở thành chuyện chung của Việt Nam. Lỗi là do/bởi/tại vì đảng/Chính phủ/Thủ tướng, tự nhiên lại rách việc đi phê duyệt chương trình chuyển đổi năng lượng xanh với chả đỏ, làm cho công ty X chẳng còn cách nào khác, buộc phải chuyển đổi sản xuất từ xăng sang điện để hưởng ứng nhiệt liệt.

2.       2. Do lỗi của Việt Nam, của Chính phủ, của Thủ tướng làm cho X phải chuyển đổi sản xuất, nên X đã và đang phải chịu tổn thất, thiệt hại lớn về tài chính, buộc phải chuyển nhượng máy móc đã trở nên vô dụng. Mà dù đã chuyển nhượng rồi, việc chuyển nhượng này chỉ hầu như diễn ra trên giấy bởi máy móc vẫn nằm một xó vô dụng, thành đồ phế thải, thiệt hại lại càng thiệt hại. Thiệt hại này không thể chỉ một mình X và Y gánh chịu; Chính phủ/Thủ tướng/toàn dân phải chịu trách nhiệm chính. Thật là quá bức xúc!

3.      3. Dẫu là bên bị hại như vậy, nhưng công ty X vẫn hết sức lết lê, gắng gượng gánh vác sứ mệnh tiên phong tự lĩnh, đem thương hiệu Việt Nam đấm ra nước ngoài, trong bối cảnh còn hàng đống khó khăn khác, nào là Covid, nào là abc. Dù đã và đang sản xuất để xuất khẩu hàng trăm ngàn ô tô chỉ riêng năm nay, nhưng tình hình tài chính của X đang rất bi đát, đến nỗi chỉ có 30 tỷ đồng thuế phát sinh mà nó cũng khó có thể thu xếp được, trong vòng ít nhất 2 năm, nếu không làm ngừng trệ, ảnh hưởng lớn đến sản xuất đang trên đà phát triển mạnh hiện nay của mình.

4.       4. Chính phủ và các cơ quan nhà nước nên sáng suốt sớm nhận lỗi và vui vẻ chấp thuận tắp lự lời thỉnh cầu không đáng có này của công ty X. Nếu không gia hạn nộp 30 tỷ trong 2 năm, khi X sụp đổ thì đừng có khóc than trước hậu quả, đừng hối hận tại sao chương trình chuyển đổi xanh của mình lại thất bại một cách... lãng nhách như thế nhé!  

5.      5. Lỗi lầm của Chính phủ/Thủ tướng sẽ còn là nguồn cơn để công ty X lên tiếng “đòi lại công bằng” trong nhiều vấn đề khác sau này, sẽ sớm thôi. Hãy chờ đó!

Thursday, 6 April 2023

Đã nghèo thì đừng cố!

Tiêu đề này có thể sẽ làm nhiều người “nghèo” phật lòng, tự ái và tức giận. Tớ đang nói đến chuyện người thu nhập thấp muốn mua nhà ở xã hội (NOXH).

Chẳng là mấy đồng chí làm/liên quan đến bất động sản nhân mùa ế ẩm bất động sản tự dưng tỏ ra thương người, cám cảnh thân phận người nghèo nên lên tiếng kiến nghị, đòi hỏi nhà nước phải hỗ trợ người nghèo, thu nhập thấp mua NOXH. Nhiều đồng chí dân nghèo/thu nhập tầm tầm cũng không bỏ lỡ cơ hội, hùa theo cho khí thế.

Nghe nhiều rát tai nên từ đồng chí Thủ tướng đến các bộ, ngành như Ngân hàng Nhà nước, Bộ Xây dựng cũng phải tích cực “vào cuộc”, thai nghén ra gói nọ, gói kia. Nhưng rút lại thì, như tớ đã nói, mọi sự vào cuộc chỉ là giả vờ để rồi còn lại mỗi gói 120 nghìn tỷ với lãi suất cố định 8,2%, thời gian hưởng lãi suất ưu đãi 5 năm. Đương nhiên, ở mức lãi suất này tính ra thì người “nghèo” mua nhà tầm 1,5 tỷ đồng sẽ phải trả 11 triệu đồng/tháng hoặc hơn, và được cho là quá cao so với thu nhập, và chuẩn... nghèo để được mua NOXH.

Thế là lại có một làn sóng mới nổi lên, phản đối, phàn nàn rằng với lãi suất “cắt cổ” này thì người thu nhập thấp khó mua được NOXH. Lại kiến nghị, lại đòi phải có gói 110 nghìn tỷ mà Bộ Xây dựng đã “chót” đề xuất, với lãi suất ưu đãi là 4,8%-5% trong thời hạn lên đến 25 năm, như gói áp dụng chục năm trước đây.

Tớ thì thấy thế này. Cũng như tớ đã viết đôi lần trước, NOXH đúng nghĩa thì phải là nhà thuộc sở hữu nhà nước, và chỉ được đem cho thuê (dài hạn) chứ không được bán đứt, với tiền thuê được tính toán dựa trên mức thu nhập của hộ gia đình thuê, ngoài một số yếu tố khác.

Người thuê sẽ phải trả tiền thuê cao lên tương ứng với thu nhập được cải thiện, cho đến lúc giá thuê NOXH bằng hoặc trở nên cao hơn cả nhà thuê thương mại thông thường trên thị trường, buộc/khuyến khích người thuê phải trả lại NOXH, dành xuất nhà đó cho những người thuê mới, với thu nhập đương nhiên là thấp hơn.

Làm đúng như vậy thì NOXH mới đảm bảo được tính “xã hội”, tức nhà nước/toàn dân trợ giúp, đảm bảo đáp ứng tối đa, trong khả năng cho phép, nhu cầu có một mái nhà che mưa che nắng cho MỘT BỘ PHẬN NHỎ những người có thu nhập thấp (VÀ MAY MẮN - khi bắt thăm trúng được NOXH). Khi đã không còn được coi là thu nhập thấp nữa thì căn nhà đó phải được trả lại để nhà nước cho người nghèo/thu nhập thấp khác thuê.

Nếu cứ đòi được mua NOXH thì không có một nhà nước nào có đủ nguồn lực để xây nhà và bán với giá ưu đãi đủ rẻ để người nghèo/thu nhập thấp có thể mua được. Với nhà 1,5 tỷ đồng nói trên, giả sử nhà nước phải hạ giá bán xuống 1 tỷ đồng, chịu bù lỗ thêm 500 triệu đồng, để người mua có thể mua được với tầm thu nhập hiện tại. Như vậy, nhà nước bỏ ra thêm 500 triệu chỉ để cho 1 người/hộ vĩnh viễn hưởng toàn bộ khoản trợ cấp này. Trong khi đó, nếu không bán mà cho thuê, 500 triệu này có thể san ra thành tiền hỗ trợ cho tiền thuê hàng tháng cho nhiều người/hộ trong nhiều năm, đảm bảo cùng lúc có nhiều người có thể tiếp cận được nhà ở, với giá thuê rẻ hơn thuê nhà thương mại thông thường.

Lưu ý là nhiều người sẽ nói rằng thay vì bỏ ra 500 triệu trợ giá cho người mua, nhà nước chỉ cần ra lệnh cho Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ngân hàng thương mại cho vay với lãi suất ưu đãi là xong, nhà nước không tốn đồng nào cả. Nói vậy là rất... mà thôi không nói đến cái từ định nói này, sợ bị chửi.

Bởi lãi suất ưu đãi thì cũng phải được ai đó chịu trách nhiệm, chịu phí tổn cuối cùng chứ. Người đó tất nhiên là Ngân hàng Nhà nước, mà cũng chưa hẳn đúng, cuối cùng phải là nhà nước/toàn dân, với hậu quả hoặc là lạm phát cao (do Ngân hàng Nhà nước in tiền để hỗ trợ lãi suất), hoặc là nền kinh tế thiếu vốn vì phải dành cho vay mua NOXH với lãi suất ưu đãi.

Nhưng cứ thẳng tưng mà nói, mà hành xử như trên thì “tội” cho người “nghèo” nhưng lại cứ muốn hiện thực hóa giấc mơ chính đáng là có một cái nhà của riêng mình, là của để dành để lại cho con cháu quá. Đúng là không có gì sai với giấc mơ chính đáng này. Có điều, “nghèo” không phải là thứ tài sản có thể mang ra bán, đổi chác, ra giá, gây áp lực để đổi lấy thứ vật chất khác được. Nói cách khác, xã hội và thiên hạ, quốc dân không ai mắc nợ bạn – người “nghèo” – và phải có nghĩa vụ tận giúp bạn hiện thực hóa giấc mơ nghèo mà vẫn có/sở hữu nhà của mình cả.

Bạn nghèo, thâm chí đến mức chật vật dù chỉ để thuê được chỗ trọ chui ra chui vào, thì xã hội và quốc dân có cố gắng lắm trên cơ sở tình đồng loại, lòng nhân đạo v.v... thì cũng chỉ có thể giúp bạn, với điều kiện là bạn đủ may mắn trong số hàng chục triệu người như bạn, bằng cách trợ giúp bạn tiếp cận được với NOXH cho thuê, giúp bạn trả một phần tiền thuê nhà hàng tháng mà thôi. Hãy xem những bộ phim về cảnh người homeless xếp hàng dài trước các nơi cung cấp chỗ tạm trú từng đêm miễn phí hữu hạn, ai may mắn thì kịp dành được một chỗ ngủ trong đêm trước khi những người xếp hàng trước chiếm mất để hiểu thêm về nguyên tắc NOXH.

Còn như bạn – người “nghèo” – vẫn không cam chịu, vẫn cứ muốn mua NOXH thì cứ thoải mái thôi, cứ thế mà nhích thôi, nếu như bạn, trước hết, đủ “may mắn” để dành được một xuất mua NOXH kiểu nhà 1,5 tỷ nói trên. Riêng xuất mua này đã làm lợi cho bạn vài trăm triệu rồi đó, không cần nhắc chắc bạn cũng biết.

Tiếp đó, tuy phải bỏ ra 1,5 tỷ nhưng bạn vẫn được hưởng thêm một cái lợi ích không nhỏ khác là lãi suất ưu đãi 8,2% thay vì 13-15% như người vay mua nhà thông thường đang phải trả. Nhưng nếu bạn cứ lăn tăn, sân si rằng lãi suất này vẫn cao quá, rằng bạn chẳng để dành được bao tiền sau khi trả lãi suất này, vẫn cứ muốn được hưởng lãi suất dưới 5% mới thỏa cơ, thì xin chân thành khuyên bạn hãy dừng cuộc chơi, hoặc chuyển sang sinh sống ở xứ thiên đường khác nơi thậm chí còn được cho không nhà, như Bắc Hàn chẳng hạn.

Như tiêu đề đã nói, nếu cảm thấy mình vẫn “nghèo” thì bạn đừng cố quá. Điều này còn giúp ích cho xã hội ở chỗ là không để cho bọn khác trục lợi từ sự “nghèo”, sự cố quá của bạn, dưới chiêu bài phát triển NOXH để... bán!

Friday, 24 March 2023

Tác động của Thuế tối thiểu toàn cầu và giải pháp duy trì sức hút vốn nước ngoài

 Các Quy tắc chống sói mòn cơ sở thuế toàn cầu (GloBE) áp đặt mức thuế tối thiểu 15% lên các công ty đa quốc gia (MNEs) có doanh thu từ 750 triệu euro trở lên. Mục đích của GloBE là giúp các nước bảo vệ cơ sở thuế của mình trước các hành vi chuyển giá và làm sói mòn cơ sở thuế, giảm thiểu động cơ của MNEs trong việc chuyển lợi nhuận về nước và giảm áp lực cho những nước phải áp dụng các ưu đãi thuế hào phóng nhiều khi là quá mức để thu hút đầu tư nước ngoài.

Ngược lại, GloBE có thể làm giảm tính hữu hiệu của một số ưu đãi thuế được thiết kế làm cho thuế suất hiệu dụng đánh lên MNEs thấp hơn 15%.

Một số nước và khu vực trên thế giới như EU, Anh, Canada, Hàn Quốc... sẽ chính thức áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu ngay từ năm 2024. Singapore thì mới tuyên bố sẽ áp dụng mức thuế này cho các MNEs của Singapore vào hoặc sau ngày 1/1/2025.

Vì nhiều nước, cả phát triển và nhất là các nước đang phát triển, thường dùng ưu đãi thuế như một công cụ để đạt đồng thời nhiều mục đích, chính phủ các nước này sẽ phải xem xét, hóa giải các tác động của GloBE lên chính sách thuế nội địa của mình.

Dù chưa phê chuẩn thỏa thuận áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu nhưng Việt Nam đang có chiều hướng sẽ chấp thuận và thực thi thuế này bởi những lợi ích rõ ràng của nó và xu hướng áp dụng mang tính toàn cầu. Như vậy, Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với vấn đề nêu trên. Tuy nhiên, dù thời gian để chuẩn bị và thực thi không còn nhiều, chúng ta vẫn chưa có kế hoạch hành động cụ thể, ngoài động thái chính là đề xuất thành lập Tổ công tác liên ngành của chính phủ để nghiên cứu các giải pháp liên quan.

Có lẽ hậu quả và do đó cũng là cản trở lớn nhất đối với Việt Nam trong việc chấp thuận và thực thi thuế toàn cầu tối thiểu nằm ở lo ngại về tác động tiêu cực của nó lên quyền đánh thuế của Việt Nam, cũng như các rắc rối pháp lý liên quan đến các ưu đãi thuế đã và đang áp dụng cho các dự án đầu tư nước ngoài hiện hữu hoặc trong tương lai sẽ nảy sinh khi Việt Nam chính thức áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu.

Phần sau đây sẽ thảo luận kỹ hơn về bản chất của thuế tối thiểu toàn cầu và giải pháp xử lý các vấn đề phát sinh liên quan trong bối cảnh của Việt Nam.

Với thuế tối thiểu toàn cầu, Việt Nam sẽ không còn tự do áp dụng các ưu đãi thuế, đặc biệt với các cam kết ân hạn thuế trong một khoảng thời gian cụ thể từ thời điểm này trở đi và sau khi chính thức thực thi thuế này (trong một hai năm tới).

Việc bị giới hạn này được cho là sẽ tước đi một công cụ hữu hiệu của Chính phủ trong việc xử lý các khiếm khuyết của thị trường và khuyến khích các dự án đầu tư có hiệu ứng lan tỏa lớn, đầu tư vào lĩnh vực R&D, công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, phát triển nền kinh tế xanh, hay đầu tư để thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế và công nghiệp của Chính phủ... Trên thực tế, trong nhiều trường hợp, cung cấp các ưu đãi thuế chủ yếu là để giúp Việt Nam tăng cường tính cạnh tranh thu hút và giữ chân dòng vốn ngoại trong cuộc đua khu vực và toàn cầu.

Về vấn đề giới hạn quyền tự chủ trong quyết định mức thuế này, cần lưu ý trước tiên rằng không phải MNEs nào cũng sẽ bị áp mức thuế tối thiểu 15%, mà chỉ là những MNEs có doanh thu hàng năm trên 750 triệu euro ít nhất trong 2 năm của giai đoạn 4 năm trước khi áp dụng thuế tối thiểu. Và dù có là thành viên của MNEs thuộc phạm vi áp dụng thuế tối thiểu thì các tổ chức như thực thể chính phủ, tổ chức quốc tế, tổ chức phi lợi nhuận, và quỹ hưu trí... được loại trừ áp dụng. Tương tự là một số loại hình tổ chức (gồm, ví dụ, nhà đầu tư không thuộc tập đoàn MNE nào) hoặc loại hình thu nhập (ví dụ, thu nhập từ vận tải thủy) cũng sẽ được loại trừ khỏi quy định thuế này. Ngay cả MNEs mà có hoạt động, đầu tư vào ngành, ví dụ, cần nhiều vốn trong lãnh thổ sở tại thì cũng sẽ ít bị ảnh hưởng bởi thuế tối thiểu.

Song song đó, không phải loại ưu đãi thuế nào cũng bị ảnh hưởng như nhau bởi việc áp dụng thuế tối thiểu. Ảnh hưởng này sẽ tùy thuộc vào thiết kế của các ưu đãi (MNEs đang được hưởng ưu đãi thuế cũng sẽ ít bị ảnh hưởng bởi thuế tối thiểu nếu chúng đóng góp lớn cho kinh tế bản địa nhờ thỏa mãn các yêu cầu đổi lấy ưu đãi), mức độ đánh thuế chung và lên doanh nghiệp của quốc gia, và loại hình và lĩnh vực kinh doanh cụ thể của MNEs thuộc diện áp dụng, gồm những hoạt động đặc thù của nó trong vùng lãnh thổ sở tại.

Hiểu được về nguyên tắc của các loại trừ trong việc áp dụng thuế tối thiểu đối doanh nghiệp đầu tư nước ngoài hưởng ưu đãi thuế như trên, các cơ quan chức năng cần nghiên cứu cụ thể và sâu hơn về mặt kỹ thuật để thiết kế các loại ưu đãi thuế nhằm khuyến khích MNEs đầu tư vào Việt Nam mà không vi phạm quy định về thuế tối thiểu toàn cầu.

Hiểu rõ các nguyên tắc và thiết kế các loại ưu đãi thuế thích hợp cũng giúp cho Việt Nam xử lý được vấn đề nổi cộm khác, đó là các rắc rối pháp lý đối với các dự án đầu tư nước ngoài đã ký kết mà trong đó Việt Nam cam kết các ưu đãi thuế trong một thời hạn nhất định.

Cụ thể, đối với các dự án đầu tư đã đàm phán, nếu phía Việt Nam đơn phương tuyên bố áp dụng thuế tối thiểu mà không đàm phán lại hợp đồng, ví dụ các điều khoản về ưu đãi thuế với đối tác nước ngoài thì có thể vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.

Một trong những giải pháp khắc phục rủi ro này là đàm phán với doanh nghiệp để áp dụng một số công cụ thuế khác như tín dụng thuế có khả năng hoàn trả, hoặc cho phép hoãn trả thuế vào một thời điểm trong tương lai..., với mục đích là để bù đắp cho việc doanh nghiệp sẽ phải trả thuế thu nhập mới (15%), cao hơn so với thỏa thuận trước đây.

Một số động thái về kế toán cũng có tác dụng tương tự, ví dụ như tăng tốc độ khấu hao tài sản hữu hình cũng giúp giảm thiểu tác động của thuế tối thiểu toàn cầu, biến chúng thành công cụ để tiếp tục khuyến khích, thu hút đầu tư nước ngoài mới hoặc duy trì được thuế doanh nghiệp hiệu dụng ở mức thấp cho các doanh nghiệp nước ngoài hiện hữu kể cả sau khi Việt Nam áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu.

Trên hết, cần lưu ý rằng ưu đãi thuế chỉ là một trong những công cụ khuyến khích và giữ chân đầu tư nước ngoài. Ngoài đó ra thì còn nhiều yếu tố khác như chi phí và chất lượng lao động, cơ sở hạ tầng, môi trường đầu tư... Với nguồn thu nhà nước được bổ sung thêm từ việc áp dụng thuế tối thiểu có thể cao hơn mức ưu đãi hiện tại cho nhiều doanh nghiệp nước ngoài nói chung, Chính phủ có thể dùng nguồn tiền này để cải thiện và củng cố các yếu tố thu hút đầu tư khác này để xây dựng được một thị trường đầu tư nước ngoài hấp dẫn và bền vững trong các năm tới mà không cần phải tham gia “cuộc đua xuống đáy” nhằm thu hút đầu tư nước ngoài như trước đây, trước khi các nước áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu.

Hàm ý rút ra là, như nói ở phần đầu bài, thuế tối thiểu toàn cầu là một sáng kiến tốt đối với ngay cả các nước đang phát triển vì sẽ giúp khắc phục được vấn đề chuyển giá, xói mòn cơ sở thuế, phải ưu đãi quá mức và không cần thiết cho các doanh nghiệp nước ngoài. Quan trong không kém là việc thực thi thuế này cũng sẽ không ảnh hưởng nhiều đến chủ quyền đánh thuế quốc gia. Do đó, Việt Nam cần nhanh chóng phê chuẩn và thực thi thỏa thuận này, đồng thời có các giải pháp kỹ thuật phù hợp để tiếp tục khuyến khích đầu tư nước ngoài trong những năm tới.  

Wednesday, 15 March 2023

Các ngân hàng Việt Nam có sụp đổ giống ở Mỹ vì huy động ngắn hạn lại đem đầu tư dài hạn?

Các vụ sụp đổ mới đây của một số ngân hàng Mỹ đã được một vài đồng chí chuyên gia nội địa liên hệ với Việt Nam và cảnh báo nguy cơ đổ vỡ tương tự, bởi có vài điểm tương đồng.

Điểm tương đồng hay được nói đến là ngân hàng 2 nước đều “thích” huy động ngắn hạn nhưng lại cho vay dài hạn. Cụ thể hơn, các đồng chí chuyên gia nội địa chỉ ra rằng ngân hàng SBV của Mỹ huy động tiền gửi chủ yếu của các startup và đem đầu tư vào trái phiếu chính phủ Mỹ hoặc chứng khoán nợ dài hạn có thu nhập cố định. Tương tự, ở Việt Nam, các đồng chí chuyên gia chỉ ra tiếp, có nhiều ngân hàng cho vay bất động sản nhiều, thậm chí lên đến 70% tổng dư nợ, 50% tổng tài sản v.v...

Cái sai một cách rất ấm ớ của các đồng chí chuyên gia nội địa ở điểm trên là nghĩ rằng đầu tư vào chứng khoán nợ và trái phiếu là đầu tư dài hạn. Đúng là các loại chứng khoán này có thể có kỳ hạn dài hàng nhiều năm, 2, 5, 10, 30 năm nhưng không có nghĩa là đầu tư mua và nắm giữ chúng là phải theo chúng đến hết kỳ hạn dài lê thê như thế. SBV hay bất cứ ngân hàng nào, nhà đầu tư nào, đều luôn có thể bán các loại chứng khoán này bất cứ lúc nào thích/cần, nên thực ra các khoản đầu tư này của họ lại chính là đầu tư ngắn hạn/không kỳ hạn thì đúng hơn.

Cái mà các ngân hàng, nhà đầu tư thường quan tâm là tính thanh khoản và an toàn, nên không phải tự nhiên mà trong danh mục đầu tư của họ có một tỷ trọng lớn là trái phiếu chính phủ hoặc các loại chứng khoán được phát hành bởi các tổ chức có xếp hạng tín nhiệm cao, để cần bán lúc nào thì bán được ngay và với giá tốt nhất có thể (chứ không kiểu như hàng ế, hàng thải).

Còn chuyện bán đi và có lãi hay lỗ lại là chuyện khác nhé. Trái phiếu chính phủ hay chứng khoán nợ này kia đều là hàng hóa, và đương nhiên là giá cả sẽ lên xuống từng phút một, nên chuyện lỗ lãi là chuyện... hên xui.

Và vì thế mới có nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro, hedging, để giảm thiểu rủi ro giá bán thấp hơn giá mua. Có điều là chẳng có bữa trưa nào miễn phí nên muốn hedging thì lại phải tốn (một mớ) tiền và cũng không hoàn toàn thoát được hết mọi rủi ro. Do đó, cũng không phải vô lý khi SBV hay nhiều nhà đầu tư đã chọn không hoặc hedging không đáng kể các khoản đầu tư của mình.

Thật không may cho họ là rủi ro lại xảy ra ngay đối với họ, trong thời điểm và hoàn bất ngờ (so với dự tính của họ), dẫn đến phải/bị đóng cửa, đơn giản thế thôi chứ đâu có liên quan gì đến chuyện huy động ngắn hạn cho vay dài hạn như các đồng chí chuyên gia nội địa tưởng tượng ra.

Cái sai nữa là các đồng chí chuyên gia nội địa lại ví von đầu tư vào trái phiếu chính phủ với đầu tư vào bất động sản dài hạn. Như trên đã nói, người ta đầu tư vào trái phiếu chính phủ là bởi tính thanh khoản và an toàn của nó (Chính phủ không thể nào (để) vỡ nợ, mất khả năng thanh toán trái phiếu của mình). Còn đầu tư vào bất động sản thì đương nhiên ai cũng biết là lúc cần thì không chắc đã bán (thanh khoản) được, hoặc bán được với giá tốt.

Bởi vậy, sẽ là rất ngớ ngẩn khi lập luận rằng các ngân hàng Việt Nam cũng đang mắc sai lầm tương tự của SBV khi đem vốn huy động ngắn hạn đầu tư vào bất động sản dài hạn. Như đã nói, tuy SBV đầu tư vào trái phiếu hay chứng khoán nợ nhưng đó không phải là tài sản bất động như... bất động sản mà các ngân hàng Việt Nam ưa thích.

Cái sai thứ ba là các đồng chí chuyên gia nội địa dường như chỉ nhìn từ tỷ lệ cho vay bất động sản lên đến 50% tổng tài sản hay 70% tổng dư nợ của một ngân hàng để phán rằng ngân hàng Việt Nam đang dùng quá mức vốn huy động ngắn hạn cho vay dài hạn mà không cẩn trọng chí ít là đưa ra các số liệu chứng mình rằng (phần lớn) các ngân hàng này đang vi phạm ít nhất một chỉ số là hạn mức vốn huy động ngắn hạn dùng cho vay dài hạn mà Ngân hàng Nhà nước đã quy định. Rất có thể là tuy cho vay bất động sản nhiều như vậy nhưng nguồn vốn cho vay này là nguồn vốn dài hạn và, do đó, các ngân hàng này đã không vi phạm quy định này (đơn giản là nếu vi phạm thường xuyên và lâu dài thì chắc NHNN đã không để yên).

Đúng là phát mệt với các bố chuyên gia nhà ta!

Wednesday, 8 March 2023

Vinfast – Báo tây cũng vớ vẩn

Dạo này Vinfast cũng năng xuất hiện trên báo/đài tây, từ Reuters đến Bloomberg rồi là CNBC v.v... Có điều, sự xuất hiện này, theo chủ ý của Vinfast hay ở thế thụ động, nếu không kiểm soát thì sẽ có tác dụng ngược, gây hại cho Vinfast hơn là làm lợi cho nó. Đây là điều tớ tâm sự thật với Vinfast, với đồng chí Vượng, vì mong muốn để nó tốt hơn.

Mới ngày 2/3, như tớ đề cập trong post cùng ngày, Reuters đưa tin rằng “VinFast has been certified for a subsidy of up to $7,500 per vehicle under President Joe Biden's incentive program payable to the finance company, according to the U.S. Internal Revenue Service (IRS) website.”

https://www.reuters.com/technology/vinfast-delivers-first-45-cars-us-market-2023-03-02/

Tin này cũng được báo chí trong nước khẳng định, ví dụ như trong bài về phỏng vấn đồng chí chuyên gia Trần Đình Thiên mà tớ đã lôi ra phang mới đây: “Chính phủ Mỹ vừa thông qua khoản tài trợ thuế lên tới 7.500 USD/xe cho ô tô VinFast. Rõ ràng, chính phủ các nước đang rất quan tâm hỗ trợ các doanh nghiệp trong lĩnh vực phát triển bền vững như VinFast...”

https://cafef.vn/ts-tran-dinh-thien-nhung-doanh-nghiep-nhu-vinfast-la-nen-tang-tot-de-viet-nam-khang-dinh-vi-the-20230303104318434.chn

Lúc tớ đọc cái tin này, tớ thật sự không hiểu chuyện gì đang xảy ra, làm cách nào mà Vinfast lại tài tình “chạy chính sách” này được, vì tớ cũng biết láng máng về điều kiện được hưởng khoản tín dụng này.

Thế nhưng cái tin về Mỹ tài trợ thuế lên tới 7.500 USD nói trên lại bị phủ nhận bởi CNBC trong bài ra ngày hôm nay, 8/3: “Xe Vinfast hiện tại cũng KHÔNG ĐƯỢC HƯỞNG tín dụng thuế 7.500 USD ở Mỹ vì chúng không được làm tại Mỹ, mà là tại Việt Nam, là điều sẽ ảnh hưởng đến việc bán xe của nó tại Mỹ”.

https://www.cnbc.com/2023/03/08/vietnam-ev-maker-vinfast-us-auto-market.html

Hôm 2/3, lúc đọc tin Reuters về khoản tài trợ 7.500 USD này, tớ tin tắp lự, bởi nó là báo tây, không nhẽ lại viết láo. Dẫu vậy, tớ vẫn cẩn thận vào trang web của IRS, Mỹ, để xác nhận. Thì quả thật là Vinfast xuất hiện trong danh sách “Những nhà sản xuất xe THƯƠNG MẠI sạch” mà sản phẩm của họ được hưởng “tín dụng cho xe THƯƠNG MẠI sạch” lên tới 45.000 USD.

https://www.irs.gov/credits-deductions/manufacturers-for-qualified-commercial-clean-vehicle-credit

Thấy trong website của IRS có tên Vinfast vậy rồi thì đương nhiên là đã tin lại càng tin. Nên hôm nay, lúc đọc tin của CNBC nói trên về chuyện xe Vinfast không được hưởng tín dụng thuế 7.500 USD tớ rất lấy làm lạ. Tuy đều là báo tây nhưng chắc chắn phải có một báo sai.

Xem kỹ lại trang web của IRS, ở mục “Credits for new clean vehicles purchased in 2023 or after” (dịch: Tín dụng cho các loại xe sạch mới, được mua trong năm 2023 hay sau đó), phần “Index to Manufacturers” (Danh sách các nhà sản xuất có xe được hưởng tín dụng này) thì lại không thấy có tên Vinfast.

https://www.irs.gov/credits-deductions/manufacturers-and-models-for-new-qualified-clean-vehicles-purchased-in-2023-or-after

Bối rối một lúc, tớ (buộc phải) hiểu danh sách của IRS mà Vinfast có tên là danh sách nhà sản xuất XE THƯƠNG MẠI (commercial vehicles), còn danh sách mà không có tên Vinfast là danh sách nhà sản xuất XE KHÁCH (passenger vehicles). Chiểu theo danh sách thứ hai, không có tên Vinfast, thì đúng là xe Vinfast vẫn CHƯA/KHÔNG ĐƯỢC HƯỞNG tín dụng thuế 7.500 USD, đúng như CNBC đưa tin.

Như vậy cũng có nghĩa là Reuters đã đưa tin giả, tin thất thiệt – theo ngôn ngữ của các đồng chí tuyên ráo Việt Nam. Có lẽ tại phóng viên Reuters (người Việt), cũng hời hợt như tớ, chỉ mới nhìn thấy tên Vinfast trong một danh sách của IRS là (đưa) tin luôn rằng xe Vinfast đã được hưởng tín dụng thuế 7.500 USD.

(Lưu ý, đến đây thì tớ vẫn chưa hiểu tại sao Vinfast lại xuất hiện trong danh sách nhà sản xuất xe thương mại của IRS. Bởi đơn giản là tớ chưa thấy Vinfast tuyên bố đã/sẽ sản xuất và bán xe thương mại ở Mỹ. Hay tớ sai/không được cập nhật về chuyện này?).

Từ sự “đá nhau” về thông tin nói trên, điều rút ra là Vinfast chắc chắn biết được tin mà báo chí cả trong và ngoài nước đăng tải ngày 2/3 về chuyện xe của nó được hưởng tín dụng thuế 7.500 USD là tin đểu nhưng nó đã không làm gì, không lên tiếng cải chính. Sự thực này sẽ làm cho không ít người nghi ngờ rằng thậm chí đây là chủ đích của Vinfast.

Thế nhưng khi đọc bản tin CNBC, kết hợp với chuyện bản tin của Reuters không sử dụng cụm từ quen thuộc “theo Vinfast” khi khẳng định về việc xe Vinfast được hưởng tín dụng thuế, tớ cảm nhận được rằng lỗi đưa tin đểu là hoàn toàn của Reuters, và Vinfast là nạn nhân (không miễn cưỡng).

Lời khuyên của tớ cho Vinfast, như nói ở đầu bài, là làm truyền thông thì không chỉ biết tung tin (giả), mà còn phải biết quản lý tin liên quan đến mình, trong trường hợp này chính là tin của Reuters và lẽ ra cần phải lên tiếng đính chính ngay, dù mình không có chủ ý đưa tin như vậy. Khi đã thấy tin giả về mình, nhất là những tin quan trọng nhưng dễ kiểm chứng như vậy, mà không nói năng gì để trục lợi thì sớm muộn cũng sẽ bị lộ và hậu quả sẽ lớn hơn những gì sự trục lợi mang lại.

Một lời khuyên khác cho Vinfast là, đọc bài của CNBC, tớ thấy ái ngại cho Vinfast, đâm ra “quay xe” sang thương nó, bởi giọng điệu của bài báo khá tiêu cực đối với Vinfast. Nếu tớ là đồng chí Thủy, CEO, tớ sẽ từ chối trả lời phỏng vấn của CNBC. Vì nội dung trả lời phỏng vấn đã không tạo được một hiệu quả tích cực nào cho hình ảnh của Vinfast (kể cả chuyện đồng chí Thủy nói về nhu cầu to lớn của xe điện trên thế giới), mà còn, ngược lại, vạch ra sự bế tắc, tương lai ảm đạm của Vinfast ở thị trường Mỹ (ví dụ đoạn nói về chất lượng, đoạn thanh minh về chuyện IPO...).

Nói cách khác, thêm một lần nữa, Vinfast cần xem lại chiến lược truyền thông, kiểm soát tin tức của mình. Không chỉ không nên nói dại (đưa/dùng tin giả), mà nhiều lúc nói dai, nói nhiều cũng không phải là điều hay.

Tớ rất vui lòng nếu Vinfast thuê tớ làm tư vấn truyền thông để tránh những cú hở sườn như kiểu này hehe.

Friday, 3 March 2023

Đồng chí Vượng Vin đã đáp lời!

Tối qua, tớ vừa post bài trước về Vinfast, về chuyên gia được một lúc thì báo chí đăng ngay “tâm thư” của đồng chí Vượng Vin, cứ như thể đồng chí ấy đã biết lắng nghe và tiếp thu tâm nguyện của tớ hehe. Thương đồng chí ấy quá, phải tích cực làm việc tối muộn để phản hồi.

https://cafef.vn/chu-tich-pham-nhat-vuong-gui-tam-thu-toi-nhan-vien-vingroup-vinfast-la-du-an-kinh-doanh-nhung-duoc-lap-ra-voi-mot-su-menh-cao-ca-20230303204326996.chn

Tâm thư của Vượng có mấy điểm đáng chú ý. Thứ nhất, tuy vẫn cố gắng không tuyệt vọng gán thương hiệu Vinfast với niềm tự hào của người Việt Nam, nhưng tâm thư đã không chỉ ra, không đổ lỗi một khó khăn nào trong số 3 khó khăn của Vinfast là do sự KHÔNG ỦNG HỘ của “cả dân tộc”.

Những khó khăn này gồm: Xuất phát điểm rất thấp, chuẩn mực hướng tới lại rất cao, và nguồn vốn cần đầu tư lớn. Đối phó với những khó khăn này, Vượng chỉ ra có nhiều việc cần làm ngay liên quan đến tối ưu chất lượng sản phẩm. Đọc kỹ lại toàn bộ tâm thư, tuy thấy lủng củng, kiểu đang nói cái này chưa hết, chưa rõ ý lại nhảy sang cái khác, nhưng cũng thấy rõ những việc cần làm ngay mà Vượng chỉ ra chỉ là những việc nội bộ Vingroup phải làm, chứ không phải là trách cứ hay kêu gọi sự hỗ trợ cả tinh thần lẫn vật chất của cả dân tộc hay của Nhà nước, Chính phủ như mấy đồng chí chuyên gia nói hôm trước.  

Tớ rất khen sự sòng phẳng này. Chuyện nào ra chuyện ấy. Dự án tâm huyết là của mình, mình thích thì cứ làm thôi, khó khăn thì tìm cách khắc phục, và quan trọng là biết khó khăn nằm ở đâu (trong trường hợp này là nằm ở nội bộ Vingroup). Đừng đao to búa nhớn, lôi kéo cả dân tộc vào, mượn những ông kẹ kiểu nhà nước kiến tạo để khóc mướn cho Vin như mấy đồng chí chuyên gia này kia.  

Thứ hai, về những việc cần làm ngay, Vượng chỉ ra mấy đầu công việc, mà tất nhiên là chủ thể thi hành là người của Vinfast chứ không phải là “cả dân tộc”. Đó là chấn chỉnh vấn đề xe nhiều lỗi; nhân viên phải biết lắng nghe ý kiến khách hàng và nhanh chóng cải thiện sản phẩm, dịch vụ; đảm bảo giá trị thực sự của Vinfast – bảo hành chu đáo 10 năm...

Tớ cũng rất khen sự sòng phẳng này. Biết nhận ra điểm yếu của mình và dũng cảm, cầu thị, chân thành cam kết nỗ lực khắc phục chính là một trong những yếu tố để Vingroup/fast còn thiếu để lấy được lòng tin yêu, ủng hộ hết mình của “chúng ta”, chứ không phải là cách hành xử gian dối, bất nhất, côn đồ, mafia mà tớ nêu trong post trước.

Lại Vinfast, lại chuyên gia!

Sau mấy bài về TS. Nguyễn Sĩ Dũng và ý tưởng hỗ trợ Vinfast của đồng chí ấy, tớ nghĩ thế nào cũng sẽ có một số đồng chí chuyên gia khác lên tiếng ủng hộ, bảo vệ Vinfast.

Quả là thế, và đến hôm nay thì có thêm đồng chí TS. Trần Đình Thiên hô hào “chúng ta” phải ủng hộ mạnh mẽ về vật chất lẫn tinh thần (cho Vinfast), thậm chí chỉ đích danh Nhà nước và Chính phủ phải đóng vai trò định hướng, dẫn dắt (sự ủng hộ này):

“VinFast là doanh nghiệp Việt, đang nỗ lực khẳng định năng lực và vị thế Việt Nam, không có lý gì chúng ta lại không quan tâm như vậy. Chúng ta càng cần phải quan tâm tới VinFast bằng sự ủng hộ mạnh mẽ cả về vật chất lẫn theo tinh thần. Mà trước tiên, đóng vai trò định hướng, dẫn dắt phải là hành động thực tiễn của Nhà nước, của Chính phủ.”

 (https://cafef.vn/ts-tran-dinh-thien-nhung-doanh-nghiep-nhu-vinfast-la-nen-tang-tot-de-viet-nam-khang-dinh-vi-the-20230303104318434.chn )

Đồng chí Thiên yêu thích và tự hào quá Vinfast ơi, như tớ, thì cứ tự mình ủng hộ nó cả về vật chất lẫn tinh thần thôi, chứ đừng vơ “chúng ta” vào, nghe... tội lắm.

Muốn hô hào thiên hạ ủng hộ, giúp đỡ một ai đó thì trước tiên phải xem người đó có đáng được ủng hộ, giúp đỡ không. Nếu nói Vinfast “đang nỗ lực khẳng định năng lực và vị thế Việt Nam” để làm lý do kêu gọi ủng hộ, giúp đỡ thì nó vừa chưa đúng, vừa chưa đủ.

Chưa đúng vì sản xuất và xuất khẩu ô tô (điện) là cuộc chơi và toan tính của riêng Vingroup/fast/Vượng, chứ nó không phải là kết quả của việc Vingroup/fast/Vượng muốn và “nỗ lực khẳng định năng lực và vị thế Việt Nam” như mỹ danh mà đồng chí Thiên khoác cho nó.

Nếu dùng kiểu ngụy biện, đao to búa lớn rằng đây là chủ trương lớn của đảng và nhà nước, thông qua Vinfast, thì hãy đặt câu hỏi tại sao trước đó đồng chí hay những nhà ái quốc tương tự không đau đáu, lên tiếng hô hào kêu gọi ủng hộ, giúp đỡ những doanh nghiệp ô tô thuần Việt chân chính như Vinaxuki, muốn tự sản xuất ô tô Made in Vietnam đúng nghĩa, chứ không chỉ nhập và lắp ráp là chủ yếu, đến thiết kế cũng đi thuê như Vinfast? Hay họ quá thấp cổ bé họng, không mang lại lợi lộc gì nên... quên đi?

Chưa đủ vì kể cả có lý do chính đáng, đáng được ủng hộ, giúp đỡ thì cần phải có những phẩm chất, cần đáp ứng những tiêu chí khác. Một trong những phẩm chất, tiêu chí đó là sự đàng hoàng, minh bạch, và cầu thị v.v..., cho xứng với một doanh nghiệp lớn “gánh” cho cả năng lực và vị thế của Việt Nam như các đồng chí đã và đang hô hào.

Vingroup/fast đã quá nổi (tai) tiếng về những hành vi trấn áp người tiêu dùng. Bản thân tớ khi viết các bài về Vinfast cũng đã được một số người nhắc nhở về nguy cơ bị “dập” bởi đội quân chuyên nghiệp của Vingroup/fast. Và quả thật, một trong các bài viết về Vinfast của tớ trên blog đã có sự “bất thường” đủ cho thấy đã có sự can thiệp.

Một doanh nghiệp đàng hoàng, chính trực sẽ không có những hành vi côn đồ, mafia như vậy. Còn tất nhiên nếu đã có những hành vi như vậy thì dù có tốt cỡ thế nào ở những khía cạnh khác thì không thể nào đòi hỏi phải có sự ủng hộ, giúp đỡ hết mình của “chúng ta” được, có chăng chỉ là của bọn có đặc quyền đặc lợi liên quan đến nó, có lợi ích với nó mà thôi.

Vinfast đã đủ gian dối khi tung ra những thông tin không trung thực, trước sau bất nhất. Muốn ví dụ minh họa thì có ngay chuyện nó rêu rao đã có các giấy phép liên quan ở Mỹ hay được hãng này, hãng kia nhận bảo hiểm, nhận tài trợ... mà thực tế là chưa như tớ đã chỉ ra trước đây.

Nhân tiện, xin cập nhật rằng Vinfast, cho đến ngày 2/3/2023, VẪN CHƯA ĐƯỢC cơ quan chức năng về an toàn giao thông của Mỹ (NHTSA) cấp chứng nhận/xếp hạng an toàn giao thông. Đây là thông tin từ Reuters nên chắc không phải là tin láo (https://www.reuters.com/technology/vinfast-delivers-first-45-cars-us-market-2023-03-02/ ). (Ờ thế mà không hiểu sao xe Vinfast vẫn chạy ra đường ở Mỹ được nhỉ?).

Cũng bản tin Reuters trên còn có những thông tin về sự bất nhất, về bản chất chính là sự lừa dối, của Vinfast, ví dụ như Vinfast đã phải đối mặt với sự giận dữ, bực tức của những người đặt hàng lúc đầu khi biết VF8 trong đợt giao hàng đầu tiên có phạm vi di chuyển thấp hơn so với được công bố lúc bán hàng. Và Vinfast cũng bỏ đi option về việc thuê pin là kế hoạch mà nó quảng cáo là giúp giảm chi phí sở hữu.

Thử đặt mình vào những người từng bị Vingroup/fast trấn áp, lừa dối, cho ăn bánh vẽ, bị ảnh hưởng về vật chất như vậy thì sẽ thấy, sẽ hiểu tại sao trong từ “chúng ta” của đồng chí Thiên chỉ có một bộ phận là thấy tự hào quá Vinfast ơi, luôn ủng hộ mạnh mẽ Vinfast (bằng mồm, chứ bảo mua xe Vinfast đi thì chưa chắc)!

Và cũng rất mong đồng chí Thiên hay những chuyên gia tương tự hãy bỏ tiền túi mua xe Vinfast để ủng hộ nó về vật chất, chứ đừng đòi nhà nước bỏ tiền thuế của dân ra để trợ cấp cho nó, tội dân lắm!

Thursday, 2 March 2023

Thôi đừng trông ngóng!

Như trong entry trước, “Nhà nước sẽ in tiền cứu bất động sản?”, tớ có hướng nghĩ rằng ngân hàng thương mại và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đều sẽ giả vờ thực hiện 2 gói cho vay bất động sản (gói 110 nghìn tỷ cho xây dựng dự án nhà ở xã hội do Bộ Xây dựng đề xuất, và gói 120 nghìn tỷ do ngân hàng thương mại cho vay với lãi suất ưu đãi).

Cập nhật thông tin mới nhất thì Bộ Xây dựng đã “dự kiến tạm ngừng đề xuất” gói 110 nghìn tỷ đồng, và “thống nhất với NHNN” sẽ thực hiện gói 120 nghìn tỷ đồng, vì “do đây là gói có sẵn, có thể thực hiện được ngay” (https://cafef.vn/vi-sao-bo-xay-dung-ngung-de-xuat-goi-tin-dung-110000-ti-dong-20230302173553318.chn ).

Sự “tạm ngừng đề xuất” và sự “thống nhất” nói trên cho thấy hai điều. Thứ nhất, Bộ Xây dựng đúng là vì sức ép, vì trách nhiệm phải nghĩ ra cái gì đó để làm theo chức năng nên đã nặn ra “sáng kiến” 110 nghìn tỷ mà không thèm biết là có làm được (ngay) hay không (hoặc có biết nhưng cứ nhắm mắt đề xuất cho có, cho tròn vai).

Thứ hai, sự rút lại gói 110 nghìn tỷ đồng càng khẳng định sẽ không có gói giải cứu bất động sản thực chất nào, đáng kể nào sẽ được thực hiện, kể cả gói 120 nghìn tỷ. Tất cả các động thái liên quan vừa qua cho đến nay đều chủ yếu chỉ là giả vờ, làm màu, cho có.

Từ đây suy ra tiếp là doanh nghiệp bất động sản khôn ra thì đừng kêu ca, phàn nàn nữa mà hãy tìm mọi cách khác khả dĩ (ngoài tín dụng ngân hàng) để tự cứu mình trước khi quá muộn. 

Tuesday, 28 February 2023

Giải báo chí về bảo hiểm

Hôm trước tớ có nói đến một bài viết “Sao lại cấm công ty bảo hiểm kinh doanh bất động sản?” của mình đăng trên Kinh tế Sài Gòn ngày 10/6/2022 được nhận một giải thưởng. Cụ thể thì chiều hôm nay, ngày 28/2, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam đã tổ chức Lễ trao Giải báo chí về Bảo hiểm 2022, mà theo Ban tổ chức là một giải thưởng thường niên uy tín, dành cho các phóng viên, nhà báo có tác phẩm báo chí về lĩnh vực bảo hiểm.

Trong số các tác phẩm được trao giải thì có bài trên của tớ, được giải B. Không biết được bao tiền, nhưng cúp thì có. Hóa ra viết lách chơi chơi mà cũng ra tiền.



https://tv.congluan.vn/trao-giai-bao-chi-ve-bao-hiem-2022-vinh-danh-cac-tac-pham-bao-chi-xuat-sac-viet-ve-bao-hiem-post237227.html

Nói không vui thì không đúng, nhưng chính xác thì là cảm giác rằng bài viết đã giúp ích, bênh vực và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho ngành bảo hiểm trước cái sự làm luật oái oăm, ngờ nghệch... một cách có chủ đích của giới làm chính sách. Nhìn rộng ra nữa, như đã nói hôm trước, cái luật mới về bảo hiểm còn nguy hiểm ở chỗ đã góp phần bức tử ngành bất động sản một cách gián tiếp. 

Nên chỉ mong giới làm luật sớm giác ngộ mà kịp thời sửa sai trong... đôi ba năm nữa (tuy có thể đã quá muộn)!   


Thursday, 23 February 2023

Bất động sản chết cũng là phải

Tiêu đề trên không phải là để trù úm hay ghét bỏ gì bất động sản mà mong nó chết cho bằng được. Chẳng là hôm nay nhận được tin báo về một bài viết của tớ, bài “Sao lại cấm công ty bảo hiểm kinh doanh bất động sản?” đăng trên Kinh tế Sài Gòn ngày 10/6/2022 được nhận một giải thưởng nọ (nếu không thay đổi vào phút chót thì sẽ được công bố trong thời gian tới).

(https://thesaigontimes.vn/sao-lai-cam-cong-ty-bao-hiem-kinh-doanh-bat-dong-san/ )

Đọc lại bài này, chợt nghĩ ra thêm một lý do chính đáng để (ngành) bất động sản bị bức tử một cách rất... đúng luật. Bài viết trên phê phán một điều khoản quan trọng mới trong dự thảo luật sửa đổi Luật Kinh doanh bảo hiểm đương thời đang được đưa ra thảo luận tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa 15. Điều khoản này là cấm công ty bảo hiểm kinh doanh bất động sản, tức ngược lại với quy định trong Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000.

Tuy nhiên, có thể bài viết xuất hiện quá muộn hay tớ hoặc tờ Kinh tế Sài Gòn quá thấp cổ bé họng nên chỉ một tuần sau ngày bài viết lên báo, dự thảo luật trên đã được Quốc hội thông qua và ban hành (16/6/2022, có hiệu lực 1/1/2023).

Trong bài viết, tớ đã chỉ ra sự vô lý của điều cấm nói trên, từ góc độ ngữ nghĩa, logic đến góc độ kinh tế và nguyên tắc hoạt động của các công ty bảo hiểm. Tại thời điểm hiện tại, điều nguy hiểm và hậu quả của cái điều luật trái khoáy, sai lầm một cách rất ất ơ này càng bộc lộ rõ khi một nguồn vốn lớn của các công ty bảo hiểm không được phép tiếp cận/tiếp máu cho thị trường bất động sản đang có biểu hiện sụp đổ bởi thiếu thanh khoản, thiếu vốn.

Có lẽ lúc soạn dự thảo luật là lúc thị trường bất động sản vẫn đang nóng sốt nên các đồng chí soạn thảo bệ nguyên tư duy cái gì không quản được thì cấm vào công việc của mình, nghĩ ra cách cắt các ống truyền dinh dưỡng cho thị trường bất động sản mà nguồn đầu tư từ công ty bảo hiểm là một trong số đó, bên cạnh việc siết tín dụng, pháp lý và trừng phạt các ông bà chủ bất động sản cộm cán.

Ở thái cực ngược lại, cũng trong thời điểm này, các đồng chí từ trên xuống dưới đang lo lắng, đôn đốc tìm mọi cách tháo gỡ phục dậy thị trường bất động sản, thì điều các đồng chí cần làm chí ít là phải đảo ngược lại ngay cái điều cấm oái oăm trên, đưa nó về trạng thái cũ trong Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000.

Thế nhưng cái luật mới này mới được ban hành nửa năm trước, mới có hiệu lực từ đầu năm nay, lẽ nào lại “muối mặt” phải sửa lại ngay thì coi sao được? Thế nên ngành bất động sản sẽ còn khó dài dài, và nếu có gượng dậy được thì cũng không thể được như xưa.

Friday, 17 February 2023

Nhà nước sẽ in tiền cứu bất động sản?

Ngày 17/2/2023 có một số thông tin đáng chú ý về tín dụng cho bất động sản. Đó là việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thông báo chủ trương về 2 gói cho vay bất động sản. Gói thứ nhất là 110 nghìn tỷ đồng cho xây dựng dự án nhà ở xã hội, nhà ở công nhân theo đề xuất của Bộ Xây dựng. Gói thứ hai là 120 nghìn tỷ đồng cho cả người xây dựng và người mua nhà do 4 ngân hàng có vốn nhà nước đảm nhận.

Trước các thông tin này, dư luận cho rằng Nhà nước in tiền để giải cứu bất động sản, mà thực chất là giải cứu những ông chủ doanh nghiệp bất động sản, những nhà đầu cơ, giải cứu người giàu v.v... Rồi nữa là in tiền thế này tức là nới lỏng chính sách tiền tệ, sẽ tạo ra lạm phát...

Cáo buộc trên phần nào có lý, bởi suy cho cùng, nguồn gốc của những đồng tiền dành cho giải cứu này là từ NHNN, tức từ in tiền ra cung cấp cho các ngân hàng thương mại.

Tuy nhiên, có một số vấn đề cần chú ý về chuyện in tiền này.

Đối với gói 110 nghìn tỷ đồng cho vay nhà ở xã hội, bên cạnh sự khẳng định sự cần thiết của nó (mà tớ cho rằng ít nhiều cũng đúng, nhất là khi dùng nhà trong phân khúc này để cho thuê, chứ không phải là bán đứt cho công nhân, người thu nhập thấp), NHNN cũng nói khá rõ về nguồn tiền này: “Nhưng nguồn vốn từ đâu cũng phải cân nhắc, tức là với nguồn vốn từ tái cấp vốn, là cung ứng tiền ra với thời gian dài hạn, có thể làm giảm tính linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ. Vì vậy, cần tính toán nguồn vốn tổng thể trên cơ sở chính sách tiền tệ cũng đang thực hiện nhiều chỉ đạo của Chính phủ về tái cơ cấu như tái cơ cấu ngân hàng 0 đồng… và ở các lĩnh vực, các ngành kinh tế khác.”

Nói như trên (và đương nhiên phải nói vậy, từ góc độ ngân hàng trung ương), NHNN cho thấy rõ nguồn tiền này là từ NHNN, từ in tiền (để tái cấp vốn – cho ngân hàng thương mại). Điều quan trọng là “cần tính toán nguồn vốn tổng thể trên cơ sở chính sách tiền tệ cũng đang thực hiện nhiều chỉ đạo...”.

Nói cách khác, dù là in tiền, tái cấp vốn nhưng nguồn tiền mới này sẽ nằm trong hạn mức cung tiền 14-15% cho năm nay mà NHNN đồng thời công bố. Nếu tung từng  này tiền ra cho bất động sản bình dân thì rất có thể từng đó tiền sẽ bị cắt giảm ở các ngành, các phân khúc khác. Nói khác đi nữa, dù không có gói giải cứu này thì vẫn sẽ có thêm một lượng lớn tiền mới được bơm ra cho nền kinh tế để đảm bảo tăng trưởng tín dụng đạt 14-15%.

Về gói tín dụng bất động sản 120 nghìn tỷ đồng, theo thông báo thì đây là gói tín dụng ưu đãi (lãi suất thấp hơn từ 1,5% đến 2%/năm lãi suất cho vay bình quân trên thị trường) được cung cấp bởi 4 ngân hàng thương mại nhà nước, và có khả năng mở rộng ra các ngân hàng khác nếu họ cũng muốn tham gia. Thoạt nghe thì tưởng nguồn vốn cho gói này là của ngân hàng thương mại nhà nước (và của các ngân hàng khác nếu tham gia sau này).

Tuy nhiên, NHNN lại “bảo kê” cho các ngân hàng này: “Trong quá trình triển khai, nếu các ngân hàng tham gia mà bị thiếu hụt về thanh khoản thì NHNN sẵn sàng tái cấp vốn cho để triển khai tiếp.”

Về nguyên tắc, ngân hàng thương mại nhà nước và các ngân hàng tham gia khác, nếu có, cũng phải huy động vốn từ thị trường, với lãi suất huy động cạnh tranh, nên họ cũng sẽ phải cho vay theo lãi suất thị trường để đảm bảo lợi nhuận. Với cam kết cho vay ưu đãi như trên thì đương nhiên là họ sẽ gánh thiệt hại.

Nên ở đây có 2 khả năng. Một là các ngân hàng tham gia gói 120 nghìn tỷ này công bố đồng thuận tham gia là để cho có, làm màu, và nếu có cho vay thì sẽ ở mức độ tối thiểu, thậm chí là chỉ dành cho khách ruột.

Hai là, với cam kết sẵn sàng tái cấp vốn của NHNN, các ngân hàng thương mại sẽ tích cực cho vay bởi tội vạ đâu thì NHNN chịu, còn lãi thì mình hưởng. Rốt cuộc, 120 nghìn tỷ này cũng sẽ phải tính vào trong hạn mức cung tiền và tăng trưởng tín dụng cho năm nay, đồng nghĩa với có thêm nhiều ngành nghề và doanh nghiệp khác không được vay vốn.

Khả năng nào sẽ lớn hơn? Chưa thể biết, trừ chính người trong cuộc. Cũng có thể là các ngân hàng thương mại dưới sức ép của NHNN, của dư luận phải đi đầu trong công cuộc tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế, và vì trót mang danh là ngân hàng thương mại nhà nước, nên phải nghĩ ra một “sáng kiến đồng thuận”, và đó chính là gói 120 nghìn tỷ.

Đến lượt mình, cũng có thể NHNN dưới đủ loại áp lực từ tứ phía cũng phải nghĩ ra một cái gì đó để gọi là cho có, để mua thời gian, và đó có thể chính là gói 120 nghìn tỷ, được “gợi ý” cho 4 ngân hàng thương mại nhà nước. Cuối cùng thì bên nào cũng giả vờ như thật và sẽ không có một biến chuyển đáng kể theo hướng hỗ trợ lãi suất này.

Tớ thiên về hướng giả vờ này hơn, có xem xét cả kết quả của các gói giải cứu, hỗ trợ đủ loại cho đến nay. Tóm lại là nói rằng ngân hàng giải cứu bất động sản nhưng nếu có thật thì hầu như chỉ có gói 110 ngàn tỷ, với ít thắc mắc và phản đối, và cũng ít để lại hậu quả vĩ mô cho nền kinh tế.  

Thursday, 16 February 2023

Sốt bất động sản: Mê muội, bảo thủ, ngụy biện và chóng quên

Một chu kỳ khủng hoảng mới về bất động sản, từ giai đoạn trầm lắng rồi trở nên sốt hầm hập và sau đó lại nguội nhanh chóng, thậm chí đang đóng  băng ở nhiều nơi, nhiều phân khúc đang sắp hoàn tất ở Việt Nam.

Điều đọng lại từ sau chu kỳ này là người ta đã quá nhanh chóng quên các bài học từ các chu kỳ khủng hoảng trước, cách không quá xa hiện tại.

Còn nhớ, hồi nửa đầu năm 2021, bất động sản đã bắt đầu sốt được một thời gian, tớ đã cảnh báo cơn sốt bất động sản mới và chỉ ra nguyên nhân của nó là do tiền (từ ngân hàng) nhiều, rẻ và dễ chảy vào bất động sản, như trong bài này, viết ngày 2/4/2021: https://cafef.vn/sot-dat-chung-quy-chi-tai-tien-nhieu-20210402094327019.chn

Mặt khác, trong bài viết hôm 6/4/2021, https://cafef.vn/loi-canh-bao-ve-lai-suat-tu-singapore-trong-con-sot-bat-dong-san-20210406142433503.chn, tớ mượn chuyện của Singapore để cảnh báo viễn cảnh cận kề về chuyện lãi suất sẽ phải tăng lên ở Việt Nam làm cho nhà đầu tư/đầu cơ, và người mua bất động sản với mục đích để ở sẽ bị “ngộp lãi”. Mà từ chuyện ngộp lãi này đến chuyện bục bong bóng bất động sản sẽ chẳng cách xa là bao.

Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vẫn khăng khăng rằng tín dụng ngân hàng vào bất động sản không tăng đột biến, và trước kỳ vọng tăng lãi suất này nó vẫn khẳng định hướng điều hành lãi suất thời gian tới sẽ “tạo sự ổn định” đối với cả lãi suất huy động và cho vay, mà có thể được diễn giải ra là NHNN sẽ tiếp tục duy trì lãi suất ở mức thấp kỷ lục như hiện nay trong một thời gian bất định nữa. Từ đây tớ kết luận rằng cơn sốt này sẽ tiếp tục leo thang, lan rộng ra nhiều tỉnh thành khác và sẽ còn kéo dài (cho đến chừng nào NHNN đảo ngược lập trường chính sách và tăng lãi suất điều hành lên), như trong bài viết của tớ ngày 20/4/2021: https://vir.com.vn/charting-course-of-land-price-frenzy-83775.html  .

Phụ họa cùng NHNN lúc đó, nhiều chuyên gia, điển hình là đồng chí TS. Lê Xuân Nghĩa, hay TS Cấn Văn Lực, cùng nhiều quan chức ngân hàng thương mại như đồng chí gì đó quên mất tên hồi đó đang là Chủ tịch của Vietcombank lên tiếng phát biểu phản bác chuyện đang có sốt đất và chuyện tín dụng bất động sản là nguyên nhân gây sốt, như được tớ tóm tắt trong bài viết ngày 2/5/2021 của (https://cafef.vn/tin-dung-vao-bat-dong-san-va-chung-khoan-thuc-su-khong-dang-lo-20210502161057288.chn ).

Theo đó, các đồng chí này cho rằng tiền ngân hàng chảy vào bất động sản là không quá nhiều, thực sự không đáng lo, nên không cần siết tín dụng vào bất động sản. Thậm chí, đồng chí Nghĩa lại còn lớn giọng dạy dỗ tớ rằng “chớ vội lo thay cho các ngân hàng về rủi ro cho vay bất động sản và chứng khoán” (hình như phát biểu này của đồng chí Nghĩa trên báo đã bị gỡ bỏ). Ngứa mắt với sự ngụy biện này nên tớ viết bài này (ngày 20/4/2021) để lần lượt chỉ ra cái sai của các đồng chí này và nhấn mạnh lại một lần nữa sẽ rất là sai lầm nếu cứ tiếp tục “an tâm” và “yên lòng” trước thực tế là tín dụng ngân hàng đang chảy nhanh và mạnh vào bất động sản.

Rồi sự việc sau đó đã xảy ra đúng như những gì tớ cảnh báo, từ chuyện NHNN tăng lãi suất (dù trước đó rất quyết liệt với bình ổn lãi suất), đến chuyện ngân hàng thương mại buộc phải siết lại cho vay bất động sản, chuyện người vay bất động sản gồng lãi, rồi chuyện bất động sản đóng băng dù giá rơi thảm...

Chung quy chỉ tại vì sự mê muội, bảo thủ, ngụy biện và chóng quên của nhiều người có liên quan, từ người mua, doanh nghiệp, NHNN, ngân hàng thương mại và nhất là các chuyên gia... đểu nên mới xảy đến nông nỗi này. Thôi hãy đành tự an ủi rằng NHNN sẽ sớm muộn phải nới lỏng tiền tệ để cứu bất động sản, và rồi một chu kỳ sốt và khủng hoảng bất động sản mới sẽ sớm hình thành sau độ dăm năm nữa.

Tuesday, 14 February 2023

Đào tận gốc, trốc tận rễ!

Cổ phiếu của FLC mới bị hủy niêm yết từ ngày 20/2. Nguyên nhân theo thông cáo của HoSE là do FLC đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ công bố thông tin và các trường hợp khác. Cũng theo công bố, việc hủy niêm yết này là nhằm bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư.

FLC đã nhanh chóng phản hồi thông cáo trên. Theo đó, trong thời gian gần đây, FLC và các đơn vị thành viên phải đối mặt nhiều nguy cơ và khó khăn trong quá trình hoạt động, do bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các thông tin, cũng như những vấn đề phát sinh liên quan việc một số cựu lãnh đạo bị tạm giam để điều tra. Một trong những ảnh hưởng nghiêm trọng từ sự việc này là trong thời gian dài, tập đoàn không thể tìm kiếm được công ty kiểm toán chấp thuận kiểm toán báo cáo tài chính.

Cũng theo phản hồi của FLC, nhận thức lý do bị hủy niêm yết nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp và là việc bất khả kháng, không thể khắc phục được trong thời gian ngắn, FLC kiến nghị cơ quan quản lý xem xét lại về việc hủy niêm yết cổ phiếu, trong đó cần đặc biệt xem xét đến các lý do khách quan cũng như hoàn cảnh bất khả kháng của doanh nghiệp trong việc thực hiện các nghĩa vụ công bố thông tin như đã giải trình. FLC cam kết sẽ nỗ lực để xúc tiến các lộ trình công bố thông tin theo quy định để có thể bảo đảm quyền lợi của doanh nghiệp, cổ đông và góp phần ổn định tâm lý của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán.

Với tư cách là quan sát viên, chỉ nắm thông tin lào phào qua mạng, tớ thấy rằng FLC phản hồi như trên hay thế nữa thì chắc số phận đã an bài. Bởi xem ra có nhiều người muốn nó chết thẳng cẳng luôn, vì những lý do này kia, trong đó có có cả sự thù ghét, muốn tận diệt.

Chứ còn những lý do như HoSE công bố thì đâu có nhằm nhò gì, nếu cứ... noi tấm gương sáng của thằng nghịch tử là Vietnam Airlines (VNA) nói riêng và nhiều doanh nghiệp nhà nước nói chung.

Này nhé, về chuyện “vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ công bố thông tin”, đành rằng là có cái quy định về nghĩa vụ thông tin và nó đã bị FLC vi phạm. Nhưng như giải trình của FLC, đó cũng là do “bất khả kháng”, “khách quan”.

Nếu có ai đó cười nhạo cái lý do này, bảo rằng luật không có quy định nào chấp nhận cái lý do vớ vẩn này thì cần nhớ lại nhiều lần trong các năm qua và mới nhất gần đây, VNA, tuy đã thỏa mãn cả 3 quy định hủy niêm yết, gồm 3 năm lỗ liên tiếp, tổng lỗ lũy kế vượt quá vốn điều lệ thực góp, và vốn chủ sở hữu là âm (nặng) trong báo cáo tài chính kiểm toán gần nhất, nhưng VNA cũng chỉ bị HoSE liên tục “lưu ý” về khả năng hủy niêm yết, chứ HoSE vẫn “quyết liệt” không chịu hủy niêm yết VNA như đã nhanh chóng và thẳng tay thực hiện với FLC.

Sao lại có cái thói đối xử bất công, nhất bên trọng, nhất bên khinh như vậy? Nếu ai đó dẫn lại lời của VNA biện hộ cho lý do không hủy niêm yết của VNA rằng nó là trường hợp đặc biệt, rằng sự thua lỗ triền miên đến âm nặng cả vốn chủ sở hữu là “do khách quan”, “bất khả kháng”, cổ phiếu của hãng tốt, đang có khả năng phát triển v.v... thì hãy nhìn lại và so sánh với sự quyết tận diệt với FLC, dù lỗi của FLC theo công bố cũng là “do khách quan”, “bất khả kháng”, và FLC cũng cam kết nỗ lực với khắc phục này kia.

Còn với lý do để bảo vệ nhà đầu tư nên phải hủy niêm yết của FLC, thì cũng phải soi lại thằng nghịch tử VNA. Bởi VNA thua lỗ triền miên và âm vốn chủ sở hữu, bất chấp nó tuyên bố láo rằng cổ phiếu của nó là tốt, luôn hứa hẹn rằng đang nỗ lực đưa ra các giải pháp, đang có khả năng phát triển v.v... Nói cách khác, với con bệnh kinh niên, vô phương cứu chữa (trừ khi nhà nước tiếp tục dốc thêm tiền của cho nó trong thời gian... không xác định, kiểu Vinashin), việc hủy niêm yết sớm ngay từ lúc VNA thỏa mãn 1 trong 3 điều kiện hủy niêm yết trong những quý/năm trước cũng là để kịp thời bảo vệ nhà đầu tư. Nhưng HoSE đã không làm vậy, đã nhân từ một cách rất... định hướng xã hội chủ nghĩa với VNA.         

Thật quả là mọi con vật đều bình đẳng, nhưng một số con vật bình đẳng hơn những con khác!

FLC thử lấy trường hợp của VNA để kháng nghị, kiện HoSE xem sao. Nếu không muốn làm, không làm được hoặc có làm nhưng không kết quả gì thì thôi đành tự khóc với nhau rằng mình thấp cổ bé họng, số đã tận. 

Monday, 13 February 2023

Bàn về lời khuyên của các chuyên gia (4 – kỳ cuối) (Lại Vinfast!)

Phần cuối của bài phỏng vấn, ông Dũng trả lời câu hỏi về vai trò mang tính quyết định thành bại của các tập đoàn lớn, với cái tên cụ thể được gọi ra là Vinfast, trong công cuộc hóa rồng của Việt Nam để dẫn dắt đến nhu cầu cấp thiết phải hỗ trợ, tạo điều kiện cho Vinfast. Theo nội dung câu hỏi thì thực ra không phải người phỏng vấn tự chọn ra Vinfast mà chính ông Dũng đề cập đến ở đâu đó trước đây và được người phỏng vấn nhắc lại.

Tớ phải đặc biệt chú ý điều này bởi đã chứng kiến và rất e sợ các chuyên gia tự nhiên đứng ra kêu gọi, bênh vực nhà nước hỗ trợ, bảo hộ cho một doanh nghiệp, một tập đoàn nào đó như hiện nay là Vietnam Airlines và các dự án đầu tư yếu kém thua lỗ triền miên của Bộ Công thương. Tớ cũng đôi lần phang các đồng chí chuyên gia này, và nay buộc phải lên tiếng với ông Dũng. Và vì thế mới có cái tiêu đề gồm mấy chữ “các chuyên gia” trong chuỗi bài này.

Mở đầu câu trả lời, ông Dũng khẳng định: “Thực ra, nếu muốn VinFast thành công, có lẽ phải có sự hỗ trợ của nhà nước. So với những ‘gã khổng lồ’ đã tồn tại hàng trăm năm nay, thậm chí là khấu hao hết rồi, thì một công ty mà công nghệ lõi cũng phải đầu tư, tốn cả một núi tiền, thì cạnh tranh như thế nào? Một cách dễ hiểu là như thế này: bắt một đứa trẻ sơ sinh cạnh tranh với một người đàn ông lực lưỡng, thì đó không phải là công bằng, mà là một sự bất công. Hay làm sao một võ sĩ hạng nhẹ có thể cạnh tranh công bằng với một võ sĩ hạng nặng được?”.

Câu khẳng định trên của ông cũng đã chứa đựng lời đáp cho câu hỏi “thì cạnh tranh như thế nào?”. Xin mượn sự so sánh của ông về việc “bắt” một đứa trẻ cạnh tranh với một người lực lưỡng để hỏi ngược lại, dù giả sử nhà nước là bà mẹ nhân từ của đứa con và sẵn sàng hy sinh mọi thứ để giúp đứa trẻ cạnh tranh được với người lớn thì liệu cuộc cạnh tranh có thành công? Nếu khôn ngoan ra và biết cuộc cạnh tranh này là vô vọng thì lẽ ra bà mẹ nhà nước nhân từ này tuyệt đối không bao giờ nên “bắt” con mình cạnh tranh với người lớn để rồi dẫn đến những hy sinh vô ích.

Đó là chưa kể, Vinfast cùng lắm chỉ là đứa con nuôi, chứ chẳng phải ruột thịt máu mủ gì với bà mẹ nhà nước như, ví dụ, EVN với nhà nước. Nhà nước cũng chẳng nắm tẹo cổ phần nào, chẳng có cơ hội chi phối Vinfast như trong các doanh nghiệp có vốn nhà nước chi phối khác chẳng hạn như Vietnam Airlines. Bởi vậy, sự hy sinh hỗ trợ hết mình cho Vinfast xem ra vừa rất kỳ khôi, vừa rất vô nguyên tắc.

Không nhận thức được lỗ hổng trong lập luận trên của mình, ông Dũng dấn thêm một bước để kêu gọi hỗ trợ Vinfast: “Cái khó là hỗ trợ VinFast mà không dựa trên khuôn khổ thể chế của nhà nước kiến tạo phát triển, sẽ rất dễ bị cho thiên vị hoặc thân hữu. Rõ ràng xác định việc lựa chọn mô hình nhà nước kiến tạo phát triển là rất quan trọng ở đây. Nếu không, doanh nghiệp sẽ rất khó khăn. Đó là một nửa vấn đề.”

Hóa ra mục đích cuối cùng cho công cuộc vận động áp dụng mô hình nhà nước kiến tạo của ông Dũng có lẽ cũng chỉ là để hợp pháp hóa bàn tay can thiệp, o bế, hỗ trợ của nhà nước với những doanh nghiệp như Vinfast. Nếu đúng thế thì ông đã hiểu rất sai về nhà nước kiến tạo phát triển trong bối cảnh ngày nay. Như đã nói về Singapore ở bài đầu, nếu muốn học hỏi họ thì phải luôn khắc ghi trong đầu mấy chữ “khuyến khích cạnh tranh và đổi mới” và biết định hướng nền kinh tế phát triển theo những ngành có thế mạnh cạnh tranh một cách khôn ngoan.

Nếu đã theo đuổi 2 chữ “cạnh tranh” như Singapore thì hãy để đứa bé Vinfast tự đứng trên đôi chân mình cạnh tranh với các gã khổng lồ khác. Chết thì ráng chịu. Xin đừng lặp lại bài học Vinashin!

Nếu bao biện bằng cách lấy ví dụ về Trung Quốc đã hỗ trợ mạnh mẽ cho các doanh nghiệp như thế nào thì hãy cùng tớ thử hỏi Tiến sĩ ChatGPT về cách Trung Quốc hỗ trợ đích danh BYD, hãng xe điện TƯ NHÂN hàng đầu của Trung Quốc.

Câu trả lời là Trung Quốc có 4 biện pháp hỗ trợ BYD VÀ CÁC HÃNG XE ĐIỆN KHÁC. Các biện pháp này gồm trợ cấp sản xuất và tiêu thụ (để hạ giá bán...), xây dựng cơ sở hạ tầng (trạm sạc...), nghiên cứu và phát triển, và chính sách (miễn thuế...).

Hàm ý rõ ràng là Trung Quốc đã không chọn cụ thể một doanh nghiệp nào để hỗ trợ. Họ hỗ trợ là hỗ trợ chung cho ngành xe điện của Trung Quốc, ít nhiều cũng giống như cách làm của nhiều nước khác trên thế giới, không có gì là đặc biệt hay quá đáng, đáng bị chỉ trích. Bằng cách này, các đứa con đẻ và con nuôi, hiện tại và tương lai, vừa có cơ hội để lớn lên, vừa vẫn phải cạnh tranh với nhau để đứa nào lớn được thì sẽ lớn nhanh và mạnh khỏe.

Vấn đề là ở Việt Nam hiện hình như chỉ có mỗi Vinfast là hãng xe điện nội địa đúng nghĩa nên nếu hỗ trợ cho ngành xe điện nội địa thì lại thành hỗ trợ mỗi Vinfast. Không sao, chỉ cần Nhà nước tuyên bố các biện pháp hỗ trợ kiểu Trung Quốc cho ngành xe điện trong nước thì chắc chắn sẽ có thêm các doanh nghiệp mới khác, cả trong và ngoài nước, nhảy vào thị trường này ở Việt Nam.

Tuy nhiên, cũng nhân cơ hội học hỏi từ Singapore ở khía cạnh biết định hướng phát triển một cách khôn ngoan theo các ngành nghề có lợi thế thì chưa chắc ngành xe điện là một ngành có lợi thế, có tiền đồ phát triển ngoạn mục ở Việt Nam, như chính ông Dũng cũng thừa nhận khi nói về Vinfast. Nên trước khi xác định muốn hỗ trợ ngành xe điện nói chung hoặc một doanh nghiệp cụ thể như Vinfast nói riêng, thì phải làm rõ ngành này (các doanh nghiệp trong nước) có cơ hội phát triển hay lại... chết yểu như với tấm gương tày đình là ngành xe động cơ đốt trong nội địa dù đã được hưởng bao ưu đãi, hỗ trợ từ nhà nước trong mấy chục năm qua để đến nay vẫn chỉ có doanh nghiệp có hoạt động lắp ráp ô tô là chính?   

Cuối cùng, ông Dũng hoàn thiện câu chuyện về Vinfast với phát biểu: “Và một nửa còn lại, là sẽ tốt hơn cho doanh nghiệp, nếu nhiều người Việt có thể ủng hộ và chia sẻ sự thành công của họ. Không khéo, chúng ta dễ dàng chia ngọt, sẻ bùi trong chiến tranh, gian khó, nhưng khó khăn chia sẻ sự thành công vượt bậc của đồng hương. Cứ nghĩa mà xem, nếu không có các tập đoàn hùng mạnh, Việt Nam nhìn vào đâu để “hoá rồng”?”.

Có lẽ ông Dũng cần tìm hiểu tại sao người Việt lại “khó khăn chia sẻ sự thành công vượt bậc của đồng hương”. Như loạt bài về Vinfast của tớ cho thấy những thứ... không hay của nó, khó mà đòi hỏi nhiều người Việt lại tin tưởng, yêu mến và ủng hộ hết mình cho doanh nghiệp này.

Tóm lại, bài trả lời phỏng vấn rất dài này của ông Dũng có nhiều chi tiết rất bất cập, không đầy đủ và đúng đắn về mô hình nhà nước kiến tạo phát triển. Nhưng điều nguy hiểm nằm ở kiến nghị phải tăng cường sự can thiệp, tham gia trực tiếp của nhà nước vào hoạt động kinh tế theo mô hình kiểu cũ từng thịnh hành cả nửa thế kỷ trước đây ở Đông Á mà nay ít được áp dụng (theo nguyên mẫu), cũng như cái kiến nghị của ông Dũng về việc phải hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp như Vinfast nhân danh sự thịnh vượng của Việt Nam.  

Sunday, 12 February 2023

Bàn về lời khuyên của các chuyên gia (3)

Bài hôm nay nói về các luận điểm có vấn đề khác của ông Dũng, ngoài vấn đề văn hóa như là một yếu tố phù hợp để Việt Nam theo đuổi mô hình nhà nước kiến tạo phát triển như của Singapore mà tớ đã phê phán ở 2 bài trước.

Theo ông Dũng thì một điều Việt Nam có thể học hỏi được ở Singapore là họ có đội ngũ hành chính công vụ tinh hoa để giúp nhà nước định hướng và dẫn dắt phát triển. Ông Dũng cho rằng muốn quốc gia hùng mạnh phải có bộ máy hùng mạnh; các nước có văn hoá Đông Bắc Á thường có đội ngũ hành chính công vụ tinh hoa, vì có truyền thống khoa bảng; và rằng Singapore hay Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc thì đều có bộ máy hành chính công vụ rất chuyên nghiệp, người tài được tuyển chọn thông qua khoa bảng, chứ không phải theo thân hữu hay dòng tộc.

Lập luận kiểu trên rất có vấn đề, có thể bởi do ông Dũng bị gượng ép phải có sự liên hệ với cụ thể các nước Đông Bắc Á – là nơi được cho là xuất phát mô hình nhà nước kiến tạo phát triển. Nếu chỉ là tuyển chọn công chức chuyên nghiệp, có trình độ khoa bảng thì không chỉ và không phải là đặc biệt ở Đông Bắc Á hay Singapore mới có chuyện đó, mà hãy nhìn rộng ra các nước dân chủ và phát triển để xem người không chuyên nghiệp có dễ xin được vào làm công chức không hay chỉ cần thân quen, bè cánh, họ hàng với quan chức nào đó?

Lưu ý rằng ông Dũng nói như trên cũng có nghĩa là cho rằng bộ máy hành chính công vụ của Đông Bắc Á vì có truyền thống khoa bảng nên tốt/giỏi hơn, chuyên nghiệp hơn của các nước khác, kể cả các nước tự do, dân chủ, giàu có khác. Hiển nhiên đây là một sự nhìn nhận vô căn cứ.

Lẽ ra chỉ cần hiểu, nói đơn giản rằng đối với Việt Nam hay bất cứ một quốc gia nào từ xưa đến nay muốn phát triển giàu mạnh thì chuyện hiển nhiên là phải có một chính phủ (và công chức) liêm chính, chuyên nghiệp, có năng lực điều hành và định hướng phát triển kinh tế. Mà để điều này xảy ra thì e rằng với Việt Nam trong thể chế như hiện tại là... hơi bị khó! Đấy mới là vấn đề, chứ không phải là chuyện Việt Nam không biết tầm quan trọng của chính phủ và công chức có chất lượng như của Singapore.

Tiếp đến, ông Dũng chỉ ra một đặc điểm nữa của Singapore mà Việt Nam có thể học hỏi là gần như toàn bộ sự giàu có của Singapore nằm ngoài Singapore. Không thực sự hiểu rõ ý này của ông lắm, nhưng dựa vào mạch bài tớ đoán chắc ông muốn nói rằng Singapore có được sự giàu có như ngày nay là chủ yếu bởi họ đầu tư ra nước ngoài và thu về lợi nhuận lớn hơn nhiều so với hoạt động kinh tế sinh lợi trong nước.

Lại hỏi Tiến sĩ ChatGPT về Tổng sản phẩm quốc gia (GNP) và Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Singapore. Nó cho biết GNP và GDP của Singapore lần lượt là 389 tỉ và 334 tỉ USD năm 2021. Vì [GNP = GDP + Chênh lệch thu nhập ròng từ đầu tư nước ngoài và chuyển ra nước ngoài] nên suy ra Chênh lệch thu nhập ròng này là = 389 – 334 = 54 tỉ USD, tức chỉ bằng 16% GDP. Nói cách khác, không như ông Dũng nói, phần lớn của cải và sự giàu có của Singapore vẫn được tạo ra ngay trong lòng Singapore, chứ không phải từ đầu tư ra nước ngoài. 

Hàm ý của điều này là đầu tư nước ngoài không phải là công cụ chủ yếu để làm quốc gia giàu mạnh nên Việt Nam đừng có nhân cớ này, nghe lời khuyến cáo này mà dốc sức đổ tiền của ra nước ngoài, đặc biệt là qua các “quả đấm thép” kiểu Vinashin, Vietnam Airlines, Viettel hay PVN và các tập đoàn tư nhân thân hữu kiểu Vinfast, với mong muốn làm giàu nhanh chóng.

Chuyển sang các vấn đề khác quan trọng hơn, chính xác ra thì là nghiêm trọng hơn rất nhiều.

Ông Dũng vạch ra 3 yếu tố để giúp Việt Nam thúc đẩy công nghiệp hóa theo định hướng mà không phải đi theo cách hỗ trợ mạnh mẽ của Trung Quốc bởi không có được vị thế như của Trung Quốc. Thứ nhất, phải tăng cường vai trò quản lý của nhà nước, phủ nhận những điều phương Tây vẫn nói rằng “nhà nước nhỏ, xã hội lớn” hay “nhà nước quản lý tốt nhất là nhà nước quản lý ít nhất”. Minh họa cho lập luận này, ông trích dẫn ý kiến giáo sư nào đó chỉ ra rằng mọi thành tựu vượt bậc, tạo ra đột phá cho phát triển kinh tế phương Tây đều có nhà nước đứng sau, đều có sự tham gia của nhà nước (như Internet, GPS...). Với kiểu lập luận này, ông Dũng đã đánh đồng một cách sai lầm việc nhà nước (tăng cường) quản lý với nhà nước trực tiếp tạo ra các đột phá (nghiên cứu), các thành tựu. 

Hàm ý rút ra từ đây là nhà nước trực tiếp nghiên cứu, sáng tạo thì cũng tốt thôi, nhưng đừng vì thế mà... tăng cường quy mô, phình to bộ máy và cường độ can thiệp, dính dáng của nhà nước! Xin chớ nhầm lẫn tai hại giữa quản lý nhà nước với đầu tư/nghiên cứu/tham gia trực tiếp vào các hoạt động kinh tế bởi nhà nước.

Yếu tố thứ hai giúp Việt Nam thúc đẩy công nghiệp hóa, theo ông Dũng, là hỗ trợ nghiên cứu đột phá bằng nhiều cách, như thông qua nghiên cứu quốc phòng rồi chuyển giao cho dân sự. Còn yếu tố thứ ba là (xây dựng) đội ngũ hành chính công vụ giỏi.

Có thể nói cả 3 yếu tố trên đều hiển nhiên là tốt, là cần thiết, nhưng chúng cũng đúng cho hầu hết mọi nước muốn và đã phát triển, nên rốt cuộc là chẳng cứ phải theo đuổi cái gọi là mô hình nhà nước kiến tạo phát triển thì mới tạo lập, thúc đẩy được các yếu tố này, mà hãy cứ tự nhiên như hơi thở để hiểu rằng muốn đẩy mạnh được công nghiệp hóa, phát triển kinh tế (tri thức) thì phải có nghiên cứu sáng tạo, phải có sự nhân rộng các thành tựu này, qua một đội ngũ công chức lành nghề. Phương Tây đã không (cần) phải là những nhà nước kiến tạo, theo lời ông Dũng, để có được những yếu tố này thì Việt Nam cũng không nhất thiết cứ phải đội cái lốt nhà nước kiến tạo phát triển để mong làm được việc đó. “Thích thì cứ nhích” thôi, việc gì phải lôi thôi bày đặt?

(Còn nữa)

Saturday, 11 February 2023

Bàn về lời khuyên của các chuyên gia (2)

Bài trước đang nói đến yếu tố văn hóa mà dường như theo ông Dũng là có sự tương đồng giữa Việt Nam và Singapore, dù ông không trực tiếp chỉ ra cụ thể sự tương đồng này là như thế nào, ngoài nêu chung chung rằng Việt Nam và Singapore đều nằm ở Đông Nam Á nhưng nền tảng văn hóa lại gần với Đông Bắc Á.

Hỏi cụ thể với Tiến sĩ ChatGPT về sự tương đồng văn hóa giữa Singapore và các nước Đông Á thì được trả lời như sau (tóm tắt): Singapore có một nền văn hóa đa dạng và độc đáo, bị ảnh hưởng bởi lịch sử là thuộc địa của Anh, bởi vị trí nằm giữa Đông Nam Á và bởi dòng người nhập cư từ Trung Quốc, Malaysia, Ấn Độ và phương Tây.

Trong khi có một số tương đồng với các nước Đông Á như xã hộ có tôn ti trật tự (kẻ dưới nể sợ kẻ trên), chủ nghĩa tập thể, và chú trọng vào giáo dục, nền văn hóa của Singapore có những điểm khác biệt riêng, ví dụ đa ngôn ngữ, ẩm thực, đặc biệt coi trọng sạch sẽ và trật tự thể hiện qua các nơi công cộng xanh, sạch đẹp.

Hỏi tiếp về sự tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và Singapore, thì ngoài những tương đồng trên còn có thêm coi trọng giá trị gia đình và tôn giáo đa dạng. 2 nước khác biệt lớn về lịch sử, ngôn ngữ và hệ thống chính trị.

Như vậy có thể thấy thực ra thì sự tương đồng và khác biệt này giữa Singapore và Việt Nam nói riêng và các nước Đông Á khác cũng na ná như khi so sánh các nước này với nhiều nước khác trên thế giới, chẳng nói lên được điều gì.

Nói cách khác, yếu tố văn hóa khá nhạt nhòa như là một trong các yếu tố quyết định một nước như Singapore hoặc Việt Nam có nên đi theo mô hình nhà nước kiến tạo phát triển như các nước Đông Á khác không.

Điều đáng nói là từ sự so sánh văn hóa này mà ông Dũng nhảy một phát sang kết luận rằng: “Việt Nam, quả thực cũng đã có những bước cải cách khá mạnh theo mô hình này [Ngọc: tức mô hình nhà nước kiến tạo phát triển], dù không hình thành khuôn khổ lý thuyết, chúng ta phát triển thị trường nhưng vai trò quản lý của Nhà nước rất được coi trọng”. Không hiểu ông lấy ở đâu ra chi tiết rằng “vai trò quản lý của Nhà nước rất được coi trọng” ở các nước Đông Á nói chung, Singapore nói riêng để suy ra rằng Việt Nam cũng giống các nước này, cũng rất coi trọng vai trò quản lý của Nhà nước?

Câu hỏi trên là để vạch ra sự thiếu logic trong lập luận của ông Dũng. Tuy nhiên, về ngữ nghĩa, Việt Nam hay bất kể nước nào cũng thế thôi, phải coi trọng vai trò quản lý của Nhà nước chứ? Nếu không thì thành ra nước loạn 12 Sứ quân à? Nói cách khác, coi trọng vai trò quản lý của Nhà nước là điều mặc định và là cơ sở để tồn tại của bất cứ nhà nước chính danh nào, chứ tuyệt nhiên không phải là sản phẩm hay đích hướng đến của bất cứ mô hình nhà nước nào. Để dễ hiểu hơn, thử hỏi ngược lại, chẳng nhẽ những nước được cho là không theo mô hình nhà nước kiến tạo phát triển như phương Tây và Bắc Âu lại không coi trọng vai trò quản lý của nhà nước, lại là những nước mà nhà nước/chính phủ không có vai trò đáng kể gì trong phát triển kinh tế, và nếu như vậy dân chúng lại để yên cho họ quản lý mình?

Nói dài dòng, vòng vòng vậy để chốt lại một ý rất quan trọng ở đây là ông Dũng dường như đã nhầm lẫn, đánh đồng vai trò/sự quản lý nói chung của nhà nước với những hành động đặc thù, cụ thể hơn của nhà nước mà ông nêu ở các phần sau như trực tiếp tham gia, đầu tư của nhà nước vào các hoạt động kinh tế, sự can thiệp, hỗ trợ của nhà nước (cho các tập đoàn như Vinfast). Đây mới là điều nguy hiểm nếu chính thể này nghe theo và cố gắng thực hiện (lại) những kiến nghị kiểu này. Vấn đề này sẽ được nói tiếp ở bài 3.

(Còn nữa)   

Friday, 10 February 2023

Bàn về lời khuyên của các chuyên gia (1)

Báo chí hôm trước đăng bài phỏng vấn TS. Nguyễn Sĩ Dũng và giật tít một cách rất... giật mình: “TS Nguyễn Sĩ Dũng: Nếu không có các tập đoàn thành công, thì Việt Nam nhìn vào đâu để ‘hoá rồng’?”

(https://cafef.vn/ts-nguyen-si-dung-neu-khong-co-cac-tap-doan-thanh-cong-thi-viet-nam-nhin-vao-dau-de-hoa-rong-20230210084343195.chn )

Bài phỏng vấn trên có mấy vấn đề trong lập luận của ông Dũng mà nếu cứ thế nhắm mắt theo đuổi, triển khai thì sẽ là nguy cơ lớn cho kinh tế, xã hội.

Vấn đề thứ nhất, ông Dũng cho rằng Singapore lựa chọn mô hình nhà nước kiến tạo phát triển mà theo ông là tương phản với mô hình kiểu phương Tây hay mô hình nhà nước phúc lợi xã hội Bắc Âu. Ông thêm rằng mô hình nhà nước kiến tạo phát triển mà ông cho rằng “có vẻ là phù hợp với văn hóa Singapore” là mô hình nhà nước dẫn dắt phát triển kinh tế chứ không phải mô hình tạo ra thị trường tự do như các nước phương Tây.  

Mô hình nhà nước kiến tạo phát triển là gì? Đến đây tớ thấy ChatGPT cực kỳ hữu ích để trả lời câu hỏi này và các vấn đề liên quan. Theo ChatGPT (các đồng chí nên chat bằng tiếng Anh thì nội dung sẽ tốt hơn; phần nội dung liên quan trong bài này là tớ dịch ngược lại từ các đoạn chat bằng tiếng Anh), nhà nước kiểu này là nhà nước tích cực khuyến khích và hỗ trợ phát triển kinh tế và công nghiệp hóa thông qua nhiều chính sách và sáng kiến dẫn dắt bởi nhà nước.   

Nhà nước kiến tạo phát triển được biết đến với vai trò can thiệp mạnh mẽ vào nền kinh tế. Đó có thể là sự kiểm soát trực tiếp của nhà nước trong các ngành chủ chốt, thiết lập các doanh nghiệp nhà nước, cung cấp các khoản trợ cấp/bao cấp, và các dạng hỗ trợ khác cho doanh nghiệp tư nhân, và thực thi các chính sách và quy chế nhằm tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Mô hình này thường được gắn cho các nước Đông Á như Nhật, Hàn Quốc, và Đài Loan. Tuy nhiên, khái niệm này không chỉ giới hạn ở Đông Á mà còn được ứng dụng ở các nước và khu vực khác như Brazil và Ấn Độ.

Hỏi tiếp ChatGPT rằng Chính phủ Singapore có phải là một chính phủ kiến tạo phát triển không, nó trả lời là về mặt chính sách kinh tế thì Chính phủ Singapore thường được gọi là chính phủ kiến tạo bởi đóng vai trò trung tâm trong khuyến khích và định hướng phát triển kinh tế.

Tuy nhiên, ChatGPT còn thêm một số chi tiết mà tớ tóm tắt, hiểu thành: Sự thành công của (Chính phủ) Singapore về mặt kinh tế không chỉ là do Chính phủ đóng vai trò tích cực trong khuyến khích phát triển kinh tế chung chung theo định nghĩa, mà còn do sự tập trung vào khuyến khích cạnh tranh và đổi mới, và đây mới là vai trò chính được nhìn nhận của Chính phủ trong sự thành công về kinh tế của Singapore.

Cuối cùng, ChatGPT kết luận rằng (Chính phủ, Nhà nước) Singapore KHÔNG PHẢI là một nhà nước kiến tạo phát triển về mặt kỹ thuật theo định nghĩa, nhưng vẫn thường được gọi là như vậy bởi vai trò tích cực của nó trong khuyến khích phát triển kinh tế và CẠNH TRANH.

Trở lại với phát biểu của ông Dũng. Nếu ông cho rằng mô hình nhà nước kiến tạo phát triển là sản phẩm của (riêng) một số nước Đông Bắc Á, Đông Nam Á (và tương phản với phương Tây và Bắc Âu) thì là không chính xác. Bởi nói chung chẳng chính phủ nào lại không muốn phát triển kinh tế, vì đó là vai trò mặc định của nhà nước, của chính phủ. Như ChatGPT cũng đã nói, mô hình này còn được áp dụng ở nhiều nước... xa lắc xa lơ như Brazil hay ngay trong khu vực châu Á là Ấn Độ đó thôi?

Điều khác biệt là chính phủ dùng công cụ gì và như thế nào để phát triển kinh tế, và điều này sẽ quyết định sự thành công của chính phủ, của quốc gia. Như ChatGPT đã chỉ ra, sự thành công của Chính phủ Singapore, mặc dù không được coi hoàn toàn là chính phủ kiến tạo phát triển như ông Dũng nói, là nằm ở sự tích cực khuyến khích phát triển kinh tế và cạnh tranh, đổi mới.

Cũng nên nhớ rằng, dù cũng được ông Dũng cho là cùng áp dụng mô hình nhà nước kiến tạo phát triển nhưng các nước Đông (Bắc, Nam) Á hiện nay đều về cơ bản không còn doanh nghiệp nhà nước, nên bản thân cái khái niệm/mô hình nhà nước kiến tạo cũng đã biến đổi theo thời gian và việc áp dụng nó (hay không) cũng chỉ còn mang tính hình thức, chẳng quyết định được điều gì, và cuối cùng “ăn nhau” vẫn là ở chuyện chính phủ đã và đang sử dụng công cụ gì và như thế nào.

Và trong chuyện này thì yếu tố văn hóa mà ông Dũng nói đến như một khác biệt quyết định sự thành công của các chính phủ, các nền kinh tế, gồm, ví dụ, văn hóa chính trị, văn hóa quản trị, văn hóa tương tác v.v... không có đóng vai trò mang tính quyết định nào cả. Suy cho cùng, văn hóa nào mà chẳng do thể chế, chính quyền nhào nặn, tạo lập? Với nước đa sắc tộc như Singapore thì cái gọi là văn hóa (Singapore) là cái gì, của dân tộc nào, nếu không phải là một thứ văn hóa pha trộn được chế tài bởi luật lệ, quản lý bởi nhà nước? Hình như ở Việt Nam cũng có câu chính quyền/thể chế nào thì dân như thế đó thôi?

Cũng từ khái niệm mà ChatGPT cung cấp có thể thấy ông Dũng cũng sai khi nói mô hình nhà nước kiến tạo phát triển nói chung, và kiểu “phù hợp với văn hóa Singapore” nói riêng là mô hình nhà nước dẫn dắt phát triển kinh tế chứ không phải mô hình tạo ra thị trường tự do như các nước phương Tây. Bởi Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, mà đặc biệt là Singapore như đã thấy ở trên đều cổ xúy phát triển kinh tế tư nhân, đều nhấn mạnh cạnh tranh và đổi mới, tức chính là các nguyên tắc tạo nên thị trường tự do, và có ai dám bảo những nước này không phải là các thị trường tự do?

Qua tham khảo, phân tích học hỏi mô hình Singapore, ông Dũng dường như có ý cho rằng văn hóa Việt Nam và Singapore có những điểm tương đồng để làm cơ sở cho Việt Nam tham khảo, học hỏi (dù rằng ông lại tự đặt câu hỏi: “Vậy văn hoá của Singapore và Việt Nam có gì tương đồng?” và... không có câu trả lời trực tiếp!).   

(Còn nữa)

Thursday, 9 February 2023

 Lại Vinfast (4)!

Bài hôm nay nói về nghệ thuật bơm thổi. Chẳng là lướt Facebook hôm nay thấy có đồng chí share bài viết bằng tiếng Việt của tác giả Thanh Hải Nguyễn về Vinfast có đăng trên website của Vinfast (https://vinfast.vn/dien-dan/thao-luan/999-chiec-xe-vf8-den-hoa-ky-la-xe-de-tiep-thi-thi-truong-my-chau-au-rat-kho-chieu-ceo-vinfast-noi-ve-tham-vong-toan-cau/#post-173769 ) nói rằng 999 chiếc xe VF8 đến Hoa Kỳ là để tiếp thị.

Vào đọc thì thấy bài của Thanh Hải Nguyễn chỉ là bài cắt dán và dịch từ một bài viết bằng tiếng Anh của tác giả khác có tên Lam Le đăng trên website của Rest of World (https://vinfast.vn/dien-dan/thao-luan/999-chiec-xe-vf8-den-hoa-ky-la-xe-de-tiep-thi-thi-truong-my-chau-au-rat-kho-chieu-ceo-vinfast-noi-ve-tham-vong-toan-cau/#post-173769 ).

Đoạn mở bài của Thanh Hải Nguyễn như sau: “Trong một cuộc phỏng vấn độc quyền, Rest of World đã nói chuyện với Giám đốc điều hành toàn cầu của VinFast, Lê Thị Thu Thủy, người đã lãnh đạo công ty từ năm 2021”. (Đây là một đoạn trong phần dạo đầu trong bài của Lam Le).

Với cụm từ “cuộc phỏng vấn độc quyền”, người đọc được dẫn dắt theo cách hiểu là đây là một đặc ân (nếu nghe nặng quá thì gọi đại khái là sự ưu ái riêng) mà Vinfast dành cho Rest of World (hay ngược lại).

Lam Le là ai? Theo lời (tự) giới thiệu khi click vào cái tên này, đây là một cộng tác viên (contributor, của Rest of World), đồng thời là một nhà báo tự do (freelance journalist, kiểu như tớ là cộng tác viên của một vài tờ báo, chẳng có lương và danh phận, thích thì viết mà không thì thôi, và cũng không thể nhân danh các tờ báo này được) ở Hà Nội.

Vậy có thể nói ngay Lam Le không phải là phóng viên/nhà báo của Rest of World, và bài phỏng vấn của Lam Le (nếu thực sự có) chỉ là bài gửi đăng của cộng tác viên. Nên theo thiển ý của tớ thì rất là lố khi cho rằng bài viết là sản phẩm của “cuộc phỏng vấn độc quyền” của Rest of World, hay cho rằng “Rest of World đã nói chuyện” với đồng chí Lê Thị Thu Thủy, CEO của Vinfast. Tớ đồ rằng Vinfast cung cấp nội dung cho Lam Le (nếu người này có thật) để gửi/mua bài đăng trên Rest of World.

Bằng cách “mượn rìu nấu cháo” này, dường như các nhà đạo diễn bộ phim Vinfast đã “tăng level” của các nội dung mà Vinfast muốn truyền tải. Chưa hết, điều quan trọng hơn thế nữa là qua sự “lăng xê” (kiểu cóp pết) của tác giả Thanh Hải Nguyễn, nghiễm nhiên trong mắt độc giả thì Vinfast đã có thêm một bài đăng về mình từ một tờ báo Tây (nghe có vẻ khách quan, uy tín hơn hẳn phải không?) với những nội dung có lợi cho nó mà bình thường thì chỉ có thể xảy ra khi phải trả một cơ số tiền không nhỏ để được đăng dưới dạng... thông tin quảng cáo từ các tờ báo Tây nghiêm túc.

Tại sao tớ lại đề cập đến các tờ báo Tây nghiêm túc? Bởi dù biết rằng Rest of World, theo lời tự giới thiệu là một tổ chức báo chí phi lợi nhuận có trụ sở ở New York, đã nhận được một số giải thưởng và ghi nhận này kia, nhưng chỉ riêng cái việc nó vẫn đăng bài Vinfast của Lam Le mà không biên tập, vẫn để nguyên các lỗi ngữ pháp, văn phạm tiếng Anh trong bài (độc giả nào không thạo tiếng Anh có thể dùng ngay ChatGTP để kiểm tra) thì cũng đã đủ để đặt dấu hỏi về chất lượng, uy tín của tổ chức báo chí này, cũng như thực hư việc Vinfast gửi bài đăng qua Lam Le hay chỉ là mua chỗ đăng bài trên Rest of World dưới dạng bài quảng cáo.

Chợt nhớ ra dạo nào cũng có đồng chí cỡ... cực bự ở Việt Nam cũng được tờ báo gì đó ở nước ngoài đăng bài (hình như) ca ngợi. Sau thì dân tình phát hiện ra (hình như) đó là bài đăng trên mục... phải trả tiền!

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).