Thursday, 5 September 2013

Lại thêm đồng chí TS Trần Du Lịch nói sai về tỷ giá


Hôm nay tớ đọc được bài này của đồng chí Lịch, thấy lý luận của đồng chí ấy giống hệt như những lý luận mà tớ đã lôi ra để phang trong các entry trước. Cứ cái đà tiếp tục phỏng vấn các đồng chí chuyên gia ở Việt Nam thế này thì khéo rốt cuộc tỷ lệ phản đối phá giá sẽ lên tới trên 99% trong tổng số người được hỏi. Nhưng thôi, lần này tớ không buông lời chê trách về trình độ của đồng chí nào nữa, kể cả đồng chí Lịch, vì xem ra chẳng thay đổi được cái gì hữu ích cả. Nhưng tớ vẫn cứ phải phang vào các lý luận của đồng chí Lịch để ... đỡ ngứa mắt.

---------------------------------------------

PHÓNG VIÊN: - Tại một cuộc hội thảo mới đây bàn về tỷ giá sau khi NHNN khẳng định không điều chỉnh tỷ giá và tiếp tục điều hành tỷ giá theo hướng ổn định. Nhiều chuyên gia cho rằng đây chính là nguyên nhân làm cho hàng hóa Việt Nam mất dần sức cạnh tranh so với hàng nhập khẩu, làm cho hàng tồn kho liên tục tăng, doanh nghiệp phá sản hàng loạt. Nhiều năm qua mà chúng ta có thể lấy mốc từ tháng 7-2007 đến tháng 7-2013, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 99,57% trong khi tỷ giá chỉ tăng 24,2%. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào? Vì sao NHNN ngại phá giá VNĐ? Tại sao giữ tỷ giá ổn định bất chấp lạm phát tăng luôn được coi là thành công trong chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của Việt Nam?

Tớ bình luận: Phóng viên này đang nói đến bài “Bàn tròn chuyên gia” trên TBKTSG số tuần trước, dùng ngay lời lẽ của tớ để đặt thành câu hỏi. Khá khen!
-TS. TRẦN DU LỊCH: ... Như đã biết, hầu hết sản phẩm xuất khẩu công nghiệp của Việt Nam là gia công, có nghĩa là chúng ta tùy thuộc nguyên liệu rất lớn, thể hiện qua nhập siêu rất cao, có năm lên đến 20% giá trị xuất khẩu. Như vậy, nếu phá giá, chúng ta sẽ tự nâng giá vật tư nguyên liệu đầu vào, đẩy chi phí sản xuất lên, kể cả trong nông nghiệp và công nghiệp, đặc biệt là các loại vật tư xây dựng phải nhập khẩu..

Tớ bình luận: Đồng chí này sai cơ bản tại cái điểm này (cũng giống tuyệt đại đa số đồng chí khác cũng nhầm nhọt như thế) vì kinh tế gia công không nhất thiết liên quan đến nhập siêu. Không ai nhập nguyên vật liệu với chi phí 100 USD lại xuất hàng ra nước ngoài với giá 90 USD cả, mà phải là con số nào đó, ít nhất thì cũng bằng giá nguyên vật liệu (100 USD) cộng với chi phí gia công và các loại chi phí khác, tức phải lớn hơn 100 USD. Khi tỷ giá tăng thì đương nhiên giá nguyên vật liệu cũng tăng. NHƯNG đó là giá tính theo VND, chứ không phải giá tính theo USD (nhấn mạnh nhé!), vì giá nguyên vật liệu theo USD lúc đó vẫn là 100 USD và giá xuất khẩu vẫn là trên 100 USD và cả nền kinh tế tuy vẫn là gia công nhưng vẫn thu được lợi nhuận. Các đồng chí nhớ cho kỹ nhé! Về chuyện này tớ đã nói đi nói lại nhiều rồi, trong các entry sau:
http://phan-minh-ngoc.blogspot.sg/2013/02/co-nen-pha-gia-vnd-khong.html

và các entry tiếp theo đó (trong tháng 2 đến gần đây nhất là tuần trước) về cùng chủ đề. Vì thế tớ không mất thì giờ nêu lại nữa, chỉ cầu mong các đồng chí có thời gian đọc để mà rút kinh nghiệm cho những lần phát biểu sau này.

Đồng chí Lịch: Bên cạnh đó, nợ quốc gia bằng ngoại tệ của Nhà nước và doanh nghiệp đã lên đến gần 50% GDP, mỗi lần phá giá đồng tiền, nợ tăng tính bằng VNĐ rất lớn. Chúng ta nhập khẩu xăng dầu, mỗi lần điều chỉnh tỷ giá, giá xăng dầu sẽ tăng rất mạnh. Tôi thí dụ như lần điều chỉnh tỷ giá 9,3% vào đầu năm 2011, nhiều doanh nghiệp ngủ 1 đêm sáng dậy nợ tăng 10% đối với các khoản cam kết khi doanh nghiệp thu bằng tiền đồng và phải trả bằng ngoại tệ.

Tớ bình luận: Tớ cũng nói về chuyện nợ tư và công này rồi nên không nói lại, chỉ nói thêm là vậy thì cứ vui vẻ mà xuất dự trữ ngoại hối để “bù giá” cho mấy đồng chí tư nhân đi nhé. Còn nợ công thì cũng thế, lỗ hà ra lỗ hổng thôi.
Còn về chuyện tỷ giá tăng sẽ làm hàng nhập khẩu tăng, ngoài các entry liên quan tới nói đến thì hãy đọc thêm về bài này:

để mà thấy tại sao các nước người ta không ngu xuẩn như mình khi cố gắng tìm cách kìm hãm tỷ giá như vậy. Muốn học cái khôn của thiên hạ thì hãy học ngay từ những cái tưởng biết rồi như thế này, chứ đâu xa xôi gì?

Đồng chí Lịch: Dĩ nhiên, nếu ổn định tỷ giá như hiện nay rõ ràng bất lợi cho các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu không phải nhập khẩu nhiều. Như xuất khẩu cà phê, gạo, tỷ lệ nội địa hóa lớn, phần nhập khẩu cấu tạo giá trị ít hơn một số ngành khác nên đang chịu thiệt. Nhưng nếu nhìn tổng thể nền kinh tế, nếu như chúng ta cứ điều chỉnh tỷ giá liên tục theo mức CPI trong nước, chắc chắn chi phí sản xuất sẽ tăng rất cao.
Tớ bình luận: Khổ lắm, “chi phí sản xuất tăng cao” là chi phí sản xuất tính bằng VND thôi, chứ không phải USD tnên chẳng có gì là bất lợi cho sản xuất nông nghiệp cả. Nếu để xuất khẩu, giá sẽ được tính bằng USD. Vì giá bán/xuất không đổi nên rốt cuộc biên độ lợi nhuận không thay đổi. Nếu để bán ở mấy cái chợ nội địa và giá tính bằng VND thì giá bán cũng vẫn tăng lên theo đà tăng của CPI chứ, nó có chịu đứng yên đâu? Ai bảo mớ rau, con cá bán ở các chợ xanh không tăng giá? Nếu đồng ý là có tăng thì “chi phí sản xuất tăng cao” cũng vẫn Ok chứ? Có thế thôi mà không hiểu.

Đồng chí Lịch: Đây là vấn đề được bàn luận khá nhiều ở Hội đồng Tài chính tiền tệ Quốc gia cũng như ở các cơ quan. Cuối cùng cân nhắc là điều hành tỷ giá linh hoạt, nghĩa là để cho biên độ có dao động nhưng không đặt vấn đề phá giá đồng tiền. Đó là chưa kể phá giá đồng tiền ảnh hưởng tâm lý rất lớn khi đồng tiền bị mất giá.
Tớ bình luận: Trời ạ! Tớ đã mấy lần lên tiếng khuyến nghị dẹp cái hội đồng này đi, toàn nói linh tinh, sai nhiều hơn đúng. Có mấy khuôn mặt cộm cán của cái hội đồng này thì tớ đều có vinh dự lôi lên đây hoặc lên báo chí để phang rồi, có đẹp đẽ, sáng sủa gì đâu.

Đồng chí Lịch: Thực chất việc điều chỉnh tỷ giá 9,3% đầu năm 2011 cùng việc giảm biên độ giao dịch từ 3% xuống 1% không phải là phá giá, vì trước đó VNĐ đã mất giá trên thị trường. Trên thị trường từ quý IV-2010 đã hình thành 2 tỷ giá, tỷ giá thực và tỷ giá chợ đen, nhưng sau đợt điều chỉnh đó, cơ bản trên thị trường không hình thành 2 tỷ giá mà tỷ giá hướng dẫn của NHNN phù hợp với giao dịch của thị trường cung cầu về ngoại tệ.
Tớ bình luận: Liều, nhảm có cỡ!

Đồng chí Lịch: Tôi nghĩ rằng, trong thời gian tới, bên cạnh việc giữ ổn định tỷ giá cũng cần phải điều chỉnh ở mức độ phù hợp để nông nghiệp không bị thiệt hại do tỷ giá. Năng lực cạnh tranh của từng ngành tùy thuộc tỷ giá từng phần, còn phần lớn hơn là phụ thuộc năng suất và năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Chúng ta nên có một số biện pháp hỗ trợ nông nghiệp giảm chi phí, tăng năng suất, tăng cạnh tranh và chất lượng chứ không nên chỉ nhìn vào vấn đề tỷ giá để giải quyết căn cơ.
Tớ bình luận: Rồi, cứ “hỗ trợ” đi rồi yên tâm và chuẩn bị tinh thần bị các nước nhập khẩu áp dụng thuế chống phá giá và trợ cấp nhé!

Đồng chí Lịch: Đây là vấn đề khá lớn. Hiện nay sau 6 năm tham gia WTO, xuất khẩu gia tăng mạnh nhưng cũng bộc lộ năng lực cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam yếu kém, đặc biệt là chi phí cao. Gốc vấn đề là ở chỗ Việt Nam có năng suất lao động quá thấp, những năm qua, nhìn trên tổng thể nền kinh tế, tăng tiền lương, tăng các loại chi phí nhanh hơn tăng năng suất. Mặt khác, rất nhiều loại chi phí doanh nghiệp Việt Nam phải gánh chịu nhưng ở các nước không có như chi phí cảng, chi phí vận tải, các loại phí khác mà doanh nghiệp phải chịu, làm nâng giá thành sản phẩm.
Tớ bình luận: Cứ tăng cung tiền lắm vào thì lạm phát tăng và do đó các loại tiền lương và chi phí phải tăng nhanh hơn năng suất lao động là đúng rồi, không tránh được. Nguyên nhân là đấy chứ còn ở đâu mà phải tìm loanh quanh?

Và tớ thề là đã không tin vào mắt mình khi được đồng chí Lịch cho biết rằng các doanh nghiệp ở nước ngoài không phải gánh nhiều loại chi phí như chi phí cảng, vận tải v.v... như ở Việt Nam.

Đồng chí Lịch: Yếu tố tiếp theo là do công nghệ lạc hậu, chủ yếu gia công nên tính cạnh tranh cũng giảm xuống. Tổng thể để nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp, yếu tố tỷ giá chỉ là một phần nhỏ, yếu tố lớn nhất là Chính phủ và Nhà nước phải cung cấp tốt hơn các dịch vụ hạ tầng kỹ thuật và xã hội để doanh nghiệp được hưởng phí tổn thất.

Tớ bình luận: Rốt cuộc cũng đến điểm này. Nếu đã thừa nhận tỷ giá là một yếu tố (dù chỉ là phần nhỏ) thì (trong lúc chưa cải thiện được những yếu tố khác) sao lại không dám công khai thừa nhận và tiến hành “điều chỉnh” đi? Sao cứ lấp liếm, vòng vo, loanh quanh, cộng với sự “kiên định không phá giá” ngu xuẩn như hiện nay thế?

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).