Friday, 7 February 2014

Tập làm văn (phần 4) - Thời thổ tả

Hình như có lần hắn kể rằng hắn nộp đơn thi Đại học An ninh chỉ vì mục đích được bắt nạt thiên hạ chứ không để thiên hạ bắt nạt hắn, nhưng rồi bị loại ngay từ vòng sơ tuyển bởi nhẹ cân thì phải nhỉ. Nhưng hắn nhớ nhầm, hóa ra không phải vậy (vì hồi đó tuy hắn có gầy tí chút nhưng với bộ khung xương của hắn chắc cũng phải nặng hơn khối thằng khác của cái dân tộc vốn đa phần đói ăn, suy dinh dường từ trong bụng mẹ này).

Hôm rồi về ăn Tết với gia đình, ngồi cùng nhau ôn nghèo kể khổ, hắn mới nhớ lại hắn bị loại vì vấn đề lý lịch. Ông anh hắn hồi đó cũng từng nộp hồ sơ thi Đại học Hàng hải và cũng bị loại ngay từ vòng sơ tuyển. Chuyện chưa dừng lại ở đó, mà còn xảy ra thê thảm hơn với thế hệ của bố hắn.

Mọi chuyện mới vỡ lở ra nhân một lần bố hắn “lấy” được bộ hồ sơ cá nhân mà Phòng Tổ chức  của công ty bố hắn (Công ty Gang thép Thái Nguyên) đang giữ. Hồ sơ dán kín với dấu tuyệt mật đỏ choét bên ngoài. Bố hắn tò mò, thắng nỗi sợ hãi, mở ra xem và chết đứng với những dòng chữ vô cảm nhưng tàn nhẫn với một cuộc đời ba chìm bảy nổi như bố hắn. Tuy đã đốt bộ hồ sơ khá lâu như để gắng quên một nỗi đau, nỗi thù, nỗi hận những kẻ đê tiện đã làm hại đời mình, nhưng bố hắn vẫn còn nhớ gần như in mấy dòng chữ đó, đại loại:

Đồng chí Đ. (tức bố hắn) mẹ (tức bà nội hắn) là tiểu tư sản (nhà mặt phố Cát Dài, nên buôn bán gì đó), có bố (tức ông nội của hắn) làm cho (cái gì đó) của Pháp (thực ra ông nội hắn giỏi tiếng Pháp, đi làm chân nhân viên, hay thư ký gì đó cho một công ty Pháp), có anh rể (tức bác rể của hắn) làm cảnh sát (tức một cái chân cảnh binh gì đó thời Pháp thuộc), có anh rể nữa (tức một ông bác rể khác) thì làm tư sản bóc lột (vì có một cái máy in roneo, thuê 2 nhân công, còn bản thân cũng làm hùng hục như chó ấy, chứ có khác gì), có chị gái (tức bác ruột hắn) di cư vào Sài Gòn. Đề nghị cơ quan khi sử dụng đồng chí Đ. phải hết sức thận trọng!

Ký tên: Công an Thành phố Hải Phòng

Là lá la la! Thế là xong một cuộc đời!

Bố hắn là một người thông minh, thi đỗ vào Đại học Bách khoa khóa 2 thì phải. Vì lúc đó mới có Nhà máy Gang thép Thái Nguyên nên bố hắn “thức thời”, xin học Khoa Luyện kim, với suy nghĩ rằng đó là ngành “thời thượng”, kiểu như ngành dầu khí một hai chục năm về trước hay ngành lái tầu ngầm hoặc điện nguyên tử như bây giờ ấy mà (là hắn cứ suy ra thế thôi, chứ chẳng biết có phải những ngành này là thời thượng hay không). Và cũng rất vinh dự được học cùng với một số đồng chí sinh viên dạng “cử tuyển” dốt hơn bò (giải thích cho các đồng chí trẻ: cử tuyển tức là không cần phải thi, được đảng cử đi học. Thảo nào...!!!), trong đó có cả đồng chí Phạm Thế D. mà sau này làm to vãi (từ đi mượn).

Điều lạ là bố hắn đi học không được học bổng và chế độ gì cả. Năm đầu và (hình như) năm thứ hai như vậy, những năm sau thì khá hơn là có một chút học bổng, và đến năm cuối mới được toàn phần. Đói đến mức độ bố hắn suýt bỏ học mấy lần, phải ra cảng Phà Đen làm bốc vác lấy tiền ăn, và thỉnh thoảng chạy đến nhà bà chị cả (tức bác cả của hắn) ăn ké. May mà bác cả của hắn là đảng viên kỳ cựu nên cũng có địa vị và đủ cơm để cho thằng em đến ăn ké. Còn lúc đó thì nhà bố hắn ở Hải Phòng đã sa sút lắm rồi sau cái chết sớm của ông nội hắn, còn bà hắn thì đã già và thời thế làm cho kiệt quệ, không buôn bán gì được nữa.

Rồi bố hắn cũng ra trường, được phân công lên Gang Thép Thái Nguyên, chôn vùi cuộc đời ở đó đến hơn 10 năm, sau mới được bà chị ruột lạm dụng sức mạnh của đảng lôi tuột một phát từ Thái Nguyên về làm người Thủ đô. Cái lý lịch đó, mà công ty lấy từ công an địa phương, là vòng kim cô chụp lên đầu bố hắn để đến nỗi tuổi trẻ lúc đó hừng hực khí thế cách mạng do được tảy não lẫn nhồi sọ, phấn đấu các kiểu mà không được vào đoàn, chưa nói đến vào đảng. 10 năm trời cống hiến, với một kỹ sư trẻ học hành tử tế, có năng lực, con đường hoạn lộ lẽ ra phải thênh thang vậy mà kết cục là số 0 khi về đến Hà Nội. Thuyên chuyển qua một đôi nơi, đến cuối đời (sau 3 năm ở Tiệp lao động khổ sai để có tiền nuôi vợ con), chức vụ cao nhất chỉ là trưởng phòng của một cái trường dạy nghề.

Rồi đến cô ruột hắn. Cô cũng thông minh, học giỏi, thi phát năm đầu đỗ ngay trường Y Hà Nội hay Hải Phòng gì đó, nhưng không nhận được giấy báo đỗ thì phải. Cậy cục nhờ người lên hỏi “trển” thì mới vỡ lẽ ra là vì lý lịch “có vấn đề” nên không được học Y (chắc sợ học xong, là thành phần xấu nên sẽ có thiên hướng giết bệnh nhân chăng?). Thế là cô hắn đành gạt nước mắt, gác lại giấc mơ làm thầy thuốc, đi làm bốc vác cho Nhà máy Xi măng Hải Phòng để lấy tiền sống, năm sau quyết tâm theo đuổi giấc mơ đại học nhưng là Đại học Nông nghiệp, khoa Thú Y, vì cho rằng chắc người ta không đến nỗi nghĩ rằng mình sẽ can tâm đầu độc các con vật mình chữa trị như với người.

Rồi đến anh hắn. Cũng thông minh, học hành tài tử, ôm mộng làm giàu, theo trào lưu thời thượng lúc đó là được đi tầu Vosco (giải thích với các đồng chí chưa biết rằng Vosco là tên của một công ty vận tải viễn dương của VN cực kỳ nổi tiếng và sáng giá hồi đó; thủy thủ của tầu được các em gái săn đón như kiểu đại gia bây giờ) để được khuân về đồ bãi của Nhật đặng làm giàu, nên nộp hồ sơ thi vào trường Hàng hải. Nhưng cũng như hắn, hồ sơ bị loại ngay từ vòng sơ tuyển vì công an địa phương chỉ rõ rằng nhà hắn có một bà bác đang sống ở Bỉ (chính là người bác ruột di cư vào Sài Gòn, sau được con gái bảo lãnh cả gia đình sang Bỉ sống). Chắc công an “khuyến nghị” rằng nếu đỗ và đi làm nghề đi tầu viễn dương thì ông anh sẽ lái tầu trực chỉ Bỉ thẳng tiến xin tị nạn, mất cả tầu lẫn hàng chăng?

Rồi tất nhiên là đến đời hắn, với cái lý lịch trên thì đương nhiên là phải từ bỏ giấc mộng làm chiến sĩ an ninh, ngày đêm canh gác giữ gìn an ninh cho đảng. Hắn đành phải chuyển sang nghiệp viết như thế này mà lòng dạ lúc nào cũng bùi ngùi, thương cảm cho cuộc đời của bố hắn mỗi khi nhớ lại. Cũng không biết có phải vì cái lý lịch “hoen ố” này hay không mà hắn tuy đã nhảy việc đến chục nơi trong nước trước khi lang thang nước ngoài, kể cả Ngân hàng Nhà nước, mà không nơi nào “mời” hắn cho dù là đi học “cảm tình đảng”. Đảng viên thì đương nhiên là một danh hiệu quá cao quý và xa vời với hắn rồi, không thể mơ tới được. Cay cú quá nên sau này, mỗi khi thấy có bạn trẻ nào đó được kết nạp đảng, hắn lại nhắc nhở, cẩn thận nhé không thì sau này phải mất 3 cây vàng để “chạy” ra khỏi đảng đấy.

Cái nghiệp trướng của hắn và gia đình hắn chưa dừng ở đó. Khi gần ra trường, đến ngày hẹn đến trường để lấy bằng, hắn mới té ngửa ra là bằng đại học của hắn bị bên an ninh gửi công văn về trường yêu cầu trường hủy đi vì can tội làm gián điệp. Rồi thậm chí sau đó, qua một số biến cố, hắn còn có vinh dự được một đồng chí cấp cực cao trong ngành an ninh chỉ thẳng vào mặt thề rằng sẽ không cho hắn (và cả anh hắn) ngóc đầu lên được.

Lại Là lá la la!

(Disclaimer: Chuyện không nhất thiết là sự thật, chỉ là chuyện chép lại, tác giả không chịu bất cứ trách nhiệm gì)

Thursday, 23 January 2014

Thế kẹt (Bài đăng trên TBKTS Online, 23/1/2014, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/Home/taichinh/tiente/109342/The-ket.html
--------------------------------------

Chính phủ đã giao cho Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong năm 2014 này chuẩn bị các điều kiện kỹ thuật và pháp lý để huy động vàng trong dân, ước tính lên đến nhiều trăm tấn, nhằm phục vụ phát triển kinh tế.
Về phương pháp huy động, NHNN đã khẳng định không huy động bằng hình thức truyền thống là thu hút dân gửi vàng lấy lãi tại các ngân hàng, vì nó sẽ làm trầm trọng thêm nạn vàng hóa, vì người dân sẽ có xu hướng chuyển sang đầu tư vào vàng rồi gửi vào hệ thống ngân hàng, vừa có lãi lại vừa bảo toàn được giá trị tài sản của mình trước biến động của lạm phát. Thay vào đó, NHNN chủ trương sẽ mua vàng từ trong dân.

Tuy tỏ ra là một chủ trương đúng đắn và hợp lý, việc mua vàng trong dân của NHNN đang và sẽ nằm ở thế kẹt. Một mặt, NHNN cho biết là họ vẫn chủ trương trong năm 2014 “tiếp tục bình ổn thị trường vàng bằng cách tiếp tục bán vàng qua đấu thầu”. Nếu “bình ổn” bằng cách bán vàng, tức là tăng cung, thì, về nguyên tắc, giá vàng (trong nước) sẽ chịu xu hướng đi xuống hoặc không tăng (mạnh). Thêm nữa, lưu ý rằng NHNN đã từng nhiều lần phủ định mục tiêu của bán vàng qua đấu thầu là để “bình ổn giá vàng”, hoặc để giảm chênh lệch giữa giá vàng trong nước với giá vàng thế giới. Phối hợp 2 chuyện này, có thể thấy mục tiêu của sự “bình ổn thị trường vàng” của NHNN chính là giữ cho giá vàng trong nước đi xuống hoặc không tăng (mạnh).
Mặt khác, nếu NHNN tiến hành mua vàng từ trong dân của (giả sử sẽ bắt đầu trong năm nay), thì hành động này lại đi ngược với mục tiêu bình ổn thị trường vàng của chính NHNN như nói ở trên. Vì việc mua vàng của NHNN (với quy mô đáng kể) sẽ làm tăng cầu về vàng trong nước, và sẽ đẩy giá vàng lên theo. Như thế, tác động của việc bán vàng qua đấu thầu của NHNN để “bình ổn thị trường vàng”, nếu có, sẽ bị triệt tiêu hoàn toàn hoặc một phần bởi việc mua vàng trong dân của NHNN.

Tùy theo quy mô mua vàng so với quy mô bán vàng qua đấu thầu, cung cầu vàng, và giá vàng, có thể trồi sụt bất thường nhiều hay ít. Nếu quy mô mua vàng từ dân không nhiều thì sự thiếu cung (tương đối so với cầu về vàng đã tăng lên) sẽ không trầm trọng, và giá vàng trong nước sẽ chịu ít áp lực tăng hơn. Nhưng như thế thì NHNN lại không hoàn thành tốt nhiệm vụ huy động vàng trong dân do Chính phủ giao, vì lượng vàng mua được là không đáng kể so với quy mô có thể huy động.
Ngược lại, nếu quy mô mua vàng của NHNN mà đáng kể, ví dụ vài chục hoặc hàng trăm tấn, thì chắc chắn việc này sẽ châm ngòi cho một đợt tăng giá phi mã của giá vàng trong nước, đẩy thị trường vàng trong nước vào tình trạng hỗn loạn, đầu cơ tái phát v.v... là những điều “kỵ” trong chính sách quản lý vàng hiện nay của NHNN, khi nhấn mạnh đến hai chữ “bình ổn”.

Không chỉ kẹt về mục đích, NHNN còn đang ở thế kẹt về giá mua và bán vàng. Theo NHNN cho biết trên báo chí, hiện giờ với mức giá chênh lệch vàng trong nước và thế giới vẫn ở mức tương đối cao, trên dưới 3 triệu đồng/lượng, thì khả năng NHNN mua vàng vào là rất khó khả thi. Do đó, NHNN sẽ tiếp tục chiều bán ra qua kênh đấu thầu để bình ổn thị trường vàng.
Qua thông điệp trên, có thể hiểu NHNN muốn bình ổn thị trường vàng ở cái nghĩa là thu hẹp chênh lệch giá vàng trong và ngoài nước để tạo điều kiện cho NHNN mua vàng từ dân chúng. Nếu đúng vậy thì ta lại có thể thấy sự lúng túng, mâu thuẫn về mục tiêu bán vàng đấu thầu của NHNN, lúc thì phủ nhận bán vàng để bình ổn giá, thu hẹp chênh lệch giá trong và ngoài nước, lúc thì (gián tiếp) thừa nhận là để thu hẹp chênh lệch giá trong và ngoài nước.

Ngoài chuyện bộc lộ rõ sự lúng túng, mâu thuẫn về mục tiêu bán vàng qua đấu thầu như công bố, giả sử việc tiếp tục bán vàng ra qua đấu thầu của NHNN đúng là sẽ thu hẹp được chênh lệch giá vàng trong và ngoài nước như ý đồ của NHNN. Nhưng lúc đó, việc NHNN mua lại vàng từ dân chúng là chuyện hoàn toàn khác, vì việc mua lại vàng này của NHNN chỉ có ý nghĩa khi giá mua thấp hơn giá lúc họ bán ra qua đấu thầu (vì nếu ngược lại thì có nghĩa là NHNN bị lỗ từ việc mua bán vàng).
Còn đối với dân chúng, họ sẽ lấy giá vàng trúng thầu để làm giá tham khảo, và thường sẽ không muốn bán thấp hơn giá mức giá này, đặc biệt là với những người đã mua vàng qua đấu thầu (thông qua các tổ chức tài chính tham gia đấu thầu vàng). Mà như thế thì giá mà NHNN muốn và sẵn lòng mua sẽ không phải là giá mà người dân có vàng muốn bán cho NHNN (tất nhiên là cũng thông qua các tổ chức tài chính), và, do đó, việc mua lại vàng từ dân chúng của NHNN chắc chắn sẽ rất khó khăn.

Tóm lại, có thể thấy trước được tình trạng bất khả thi khi phải đáp ứng và giải quyết được những mục tiêu và vấn đề mâu thuẫn trong cơ chế quản lý (và huy động) vàng như hiện tại của NHNN. Giải pháp duy nhất là phải bỏ đi một (số) mục tiêu hoặc gác lại một (số) vấn đề nào đó khi muốn thực hiện và giải quyết (các) mục tiêu và vấn đề khác.

Wednesday, 22 January 2014

Đôi điều về PPP ở Việt Nam (Bài đăng trên TBKTSG số ra ngày 23/1/2014, bản gốc)

Bài này tớ tưởng được đăng từ tháng trước nên đã post lên. Nhưng hóa ra là bị hoãn lại nên tớ phải rút xuống. Nay post lại.

------------------------------------
Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB) thì đến năm 2012, GDP trên đầu người ở Việt Nam là 1.596 USD, tăng 2,2 lần so với năm 2006 (dòng 8, bảng dưới đây). Còn nếu tính theo sức mua ngang giá (PPP), quy đổi ra USD giá hiện tại thì GDP đầu người sẽ là 3.635 USD vào năm 2012, chỉ tăng 1,5 lần so với năm 2006 (dòng 10). Vì cả 2 chỉ tiêu này đều được đo bằng USD danh nghĩa (giá hiện tại) hoặc USD theo PPP nên đều có thể dùng để so sánh mức thu nhập đầu người của Việt Nam với quốc tế.
Câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao mức tăng GDP đầu người quy ra USD theo PPP lại nhỏ hơn nhiều so với GDP đầu người quy ra USD theo giá hiện tại (tương ứng là 1,5 lần so với 2,2 lần)?

Lý do cho chuyện này nằm ở tỷ giá VND/USD và chênh lệch lạm phát giữa Việt Nam và Mỹ. Tỷ giá trong giai đoạn 2006-2012 tăng 1,3 lần (dòng 12). Trong cùng kỳ này, lạm phát đã tăng gấp đôi ở Việt Nam (dòng 13), so với mức tăng 1,1 lần ở Mỹ (dòng 14).
 Tỷ giá tuy có tăng nhưng tốc độ tăng khá chậm (1,3 lần) so với tốc độ tăng của GDP đầu người tính theo  VND giá hiện tại (2,8 lần, dòng 6), vì thế mức tăng GDP đầu người tính theo USD giá hiện tại trong thời kỳ 2006-12 tuy có nhỏ hơn mức tăng tính theo VND giá hiện tại nhưng vẫn ở mức lớn, 2,2 lần (dòng 8).

Bên cạnh đó, lạm phát cao ở Việt Nam và chênh lệch lạm phát lớn giữa Việt Nam và Mỹ làm cho VND lên giá thực so với USD, làm cho hàng hóa ở Việt Nam ngày càng trở nên đắt đỏ một cách tương đối so với Mỹ. Cùng một ổ bánh mì trước đây ở Việt Nam có giá là 15.000 VND, tương đương 1 USD (tỷ giá là 15.000 đồng/1 USD) thì nay cùng 1 ổ bánh này nhưng do lạm phát cao ở Việt Nam (so với Mỹ) trong khi tỷ giá thay đổi ít hơn làm người mua phải trả số tiền là 30.000 VND, tương đương 1,5 USD (tỷ giá là 19.500 VND/1 USD). Nói cách khác, tuy mức thu nhập danh nghĩa của người Việt Nam có tăng gấp đôi nếu tính theo VND (từ 15.000 lên 30.000), hoặc tăng gấp rưỡi nếu tính theo USD (từ 1 USD lên 1,5 USD), nhưng sức mua thực của 2 mức thu nhập này không thay đổi so với trước đây.
Trong khi đó, GDP đầu người tính bằng USD theo PPP (dòng 10) được tính dựa trên nguyên tắc quy đổi sức mua cho cùng một rổ hàng hóa như trong ví dụ đơn giản trên.  Vì thế,  tuy GDP đầu người của người Việt Nam tính theo USD danh nghĩa có tăng khá mạnh, nhưng khi điều chỉnh theo PPP thì lại trở nên nhỏ đi vì cùng số tiền USD đó nay chỉ mua được một lượng hàng hóa ít hơn so với trước đây. Điều này lý giải tại sao GDP đầu người quy ra USD giá hiện tại tăng 2,2 lần nhưng theo PPP chỉ tăng 1,5 lần trong giai đoạn 2006-12.
Nói cách khác, chính tỷ giá danh nghĩa tăng chậm (phá giá ít) và lạm phát tăng nhanh ở Việt Nam đã tạo ra ảo giác rằng thu nhập của người Việt Nam đã tăng nhanh trong những năm qua.

Tuesday, 21 January 2014

Đồng chí Tây này phát biểu đúng nhưng... hơi muộn!

Đọc bài này và liên hệ với bài về động lực tăng trưởng tớ viết hôm trước mới thấy tớ lại... đúng, thế mới chán :)

http://bizlive.vn/kinh-te-dau-tu/ts-andrew-burns-fdi-khong-phai-la-lieu-thuoc-tien-78171.html

Đặc biệt lưu ý đoạn này:
"Chính sách của Chính phủ Việt Nam có thể tác động đến những động lực tăng trưởng dài hạn như đầu tư, nhân tố sản xuất và lực lượng lao động."

Và đoạn này:
"Ông Sandeep Mahajan, chuyên gia kinh tế hàng đầu của WB chia sẻ thêm: “Về giáo dục, hiện Việt Nam đã làm khá tốt nhưng cần có thêm những cải cách trong giáo dục đại học. Đồng thời, hiện Việt Nam là nước xuất khẩu nông sản lớn nhưng để đạt được tăng trưởng, giá trị gia tăng cao hơn thì cần phải hiện đại hóa hoạt động nông nghiệp hơn nữa”.

Hình như mấy ông Tây này phủ định ý kiến của nhóm Fulbright thì phải.

Tuy nhiên, cái chuyện nói rằng FDI không phải là thuốc vạn năng thì tớ đã nói đến cách đây đúng 5 năm rồi; lâu quá rồi nên phải cố nhớ xem viết trên báo nào. Sau một hồi lục lọi thì thấy nó ở đây, trên báo Đại biểu Nhân dân

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=59801

Các đồng chí chuyên gia với làm chính sách cứ chịu khó lục tìm các trước tác của tớ, thế nào cũng thấy ánh sáng soi đường sáng lòe, khỏi mất công đi tìm chân lý nữa!!!

Sunday, 19 January 2014

Động lực tăng trưởng: Rõ khái niệm để đúng phương hướng (Bài đăng trên Doanh nhân Sài Gòn, 19/1/2014)

http://www.doanhnhansaigon.vn/online/dien-dan-doanh-nhan/thoi-su/2014/01/1079259/dong-luc-tang-truong-ro-khai-niem-de-dung-phuong-huong/

Gần đây, khi nhận xét về nền kinh tế Việt Nam năm qua, một số tác giả cho rằng trong 4 động cơ tăng trưởng (kinh tế) thì có tới 3 động cơ “nội” (gồm khu vực kinh tế nhà nước, khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước và nông nghiệp) đang trục trặc; chỉ có một động cơ “ngoại” (khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - FDI) đang chạy tốt.

Một số tác giả khác thì kể thêm cả yếu tố tài nguyên như là một động lực tăng trưởng khác nữa, ngoài yếu tố vốn, lao động, và công nghệ.

Một số khác nữa thì chỉ ra năng suất nhân tố tổng hợp như là một động lực tăng trưởng.

Thực ra, ngoài vốn, lao động, những cái gọi là “động lực tăng trưởng” như trên không phải là động lực tăng trưởng kinh tế theo đúng nghĩa của nó, theo người viết.

Đối với một cơ thể con người thì nguồn động lực để con người tồn tại và lớn lên chính là năng lượng mang lại từ sự kết hợp giữa thức ăn, nước uống và không khí, chứ không phải là cách/kênh để nạp những năng lượng này vào cơ thể con người.

Cũng tương tự như vậy, năng lượng cho một nền kinh tế tồn tại và vận hành, tăng trưởng được (tức lớn lên được) đến từ sự kết hợp của 3 yếu tố vốn, nhân lực và công nghệ/chat xám.

Nhân lực - một trong 3 yếu tố góp phần làm tồn tại và tạo ra tăng trưởng kinh tế

Đất đai và tài nguyên tuy có quan trọng nhưng chỉ với tư cách là công cụ để giúp kết hợp 3 yếu tố này với nhau, hoặc là đối tượng của việc sử dụng 3 yếu tố này.

Đất đai và tài nguyên sẽ là không có giá trị nếu không có bàn tay con người tác động vào (khai thác, sử dụng). Nói cách khác, không có nhân lực và vốn cùng với công nghệ tác động đến thì đất đai và tài nguyên mãi vẫn chỉ là đất đai và tài nguyên, vẫn nằm nguyên đó, không đóng góp gì vào quá trình tạo ra sản phẩm và dịch vụ, và do đó làm gia tăng tổng sản lượng nền kinh tế.

Minh chứng thêm nữa, có những quốc gia nghèo kiệt về đất đai và tài nguyên nhưng vẫn tăng trưởng, vẫn giàu có, khi nền kinh tế của họ không dựa vào những ngành công nghiệp “đào bới”. Trong khi có những quốc gia khác ngồi trên đống tài nguyên với đất đai mênh mông mà nghèo vẫn hoàn nghèo, lạc hậu.

Xét từng vùng, từng quốc gia riêng biệt thì vốn, nhân lực và chất xám là đủ để họ có trong tay mọi yếu tố sản xuất và dịch vụ; những gì thiếu/không có thì có thể mua hoặc thuê.

Còn nói về những cái gọi là “động lực tăng trưởng” như FDI, khu vực kinh tế nhà nước, khu vực kinh tế tư nhân và nông nghiệp, e rằng càng có sự nhầm lẫn về khái niệm. Những cái này chẳng qua chỉ là công cụ, hình thức, hoặc kênh dẫn để phối hợp vốn, lao động và công nghệ với nhau tạo ra sản phẩm và dịch vụ cho nền kinh tế.

Cũng giống một cơ thể con người, nạp năng lượng vào người có thể qua đường miệng, đường mũi hoặc đường máu v.v…, nhưng dù nạp bằng cách nào thì chúng cũng chỉ là một cách/kênh đưa năng lượng (thực phẩm, nước, oxy) vào người để cơ thể hoạt động được, chứ bản thân những cách/kênh nạp này không phải là nguồn năng lượng, động lực của con người.

Đối với cái gọi là “năng suất nhân tố tổng hợp” (tiếng Anh là “total factor productivity”, viết tắt là TFP), thực ra, về khái niệm, nó là một “dư số” trong một hàm số mà vế trái là sản lượng kinh tế (Y), còn vế phải là vốn (K) và lao động (L).

Ở hàm số này, khi K và/hoặc L tăng lên thì Y cũng tăng lên, nhưng thường thường là không tăng tương ứng, và vì thế yếu tố TFP được đưa vào để phản ánh phần Y tăng lên không do K và hoặc L tăng lên.

Như thế có thể thấy TFP bao hàm nhiều thứ không đo đếm được; nó có thể là tiến bộ công nghệ hoặc vốn chất xám của người lao động (nhờ đó làm Y tăng hơn mức mang lại từ việc tăng K và/hoặc L), hoặc cũng có thể đơn thuần chỉ là sai số thống kê.

Do đó, việc kiến nghị phải làm tăng TFP xem ra là quá mông lung, thay vì nói cụ thể là, ví dụ, phải cải thiện tiến bộ công nghệ, hay vốn chất xám, hay hiệu quả (sử dụng các nguồn lực) của nền kinh tế, các thành phần kinh tế v.v…

Một khi đã xác định rõ được như trên rằng động lực cho tăng trưởng kinh tế vẫn luôn chỉ là vốn, lao động và công nghệ/chất xám, thì cũng sẽ thấy rõ hơn phương hướng cho việc hoạch định chính sách để thúc đẩy tăng trưởng của Việt Nam nói riêng trong những năm tới.

Cụ thể là phải làm thế nào đó để cả 3 yếu tố này – vốn, lao động và, đặc biệt là, công nghệ/chất xám – tăng trưởng mạnh hơn nữa.

Trong vô số những việc phải làm theo phương hướng này, chắc chắn sẽ có việc là, nói một cách văn hoa, giải phóng hơn nữa năng lực sản xuất và sức sáng tạo của toàn xã hội. Mà để làm được vậy thì tất nhiên phải cải cách tư duy và thể chế hơn nữa để các động lực kinh tế, đặc biệt từ các kênh phi nhà nước (tư nhân, FDI), không bị chèn lấn, nhường chỗ cho kênh nhà nước.

Cải cách cũng là để bản thân kênh nhà nước có hiệu quả sử dụng vốn và lao động cao hơn, nhờ thế tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ hơn từ cùng một lượng vốn và lao động.

Ngoài ra, tái cơ cấu kinh tế cũng là một biện pháp quan trọng phải thực hiện để đem lại một sự phối hợp tốt nhất giữa 3 động lực tăng trưởng nói trên tùy theo đặc điểm của mỗi vùng, ngành nói riêng và cả nền kinh tế nói chung, trong từng giai đoạn phát triển.

Wednesday, 15 January 2014

Bệnh “nghiện tăng trưởng” (Bài đăng trên TBKTSG số ngày 16/1/2014, bản gốc)


Những bất ổn kinh tế vĩ mô suốt 2, 3 qua đã dẫn đến sự thay đổI quan trọng về tư duy phát triển kinh tế của Chính phủ, từ chạy theo tăng trưởng GDP bằng mọi giá sang ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy vậy, dường như chính quyền các địa phương vẫn còn “nghiện tăng trưởng”, và việc theo đuổI tăng trưởng GDP vẫn cứ là ưu tiên hàng đầu trong chương trình nghị sự của họ.
Bệnh “nghiện tăng trưởng” có lẽ bắt nguồn từ tư duy rằng tốc độ tăng trưởng cao hơn sẽ giúp địa phương (và quốc gia) tạo ra thêm công ăn việc làm để giảm tỷ lệ thất nghiệp, nghèo đói vớI tốc độ nhanh hơn. Nếu google vớI cụm từ khóa “phấn đấu tăng trưởng GDP” thì sẽ ra cả hàng trăm nghìn kết quả vớI nguyên cụm từ này đi sau tên các tỉnh, thành phố trên cả nước. Bằng tinh thần “phấn đấu” ở quy mô cả nước này, xem ra việc đạt được tốc độ tăng trưởng GDP cao trong địa bàn tình, thành mớI là điều quan trọng, có ý nghĩa sống còn, hơn là mục tiêu phát triển lành mạnh, có tính bền vững của địa phương đó. Điều lạ nữa, mà thật ra cũng không còn lạ lẫm gì nữa, là các mục tiêu “phấn đấu” tăng trưởng GDP của chính quyền các tỉnh thành này đều thường là ở (gần) mức 2 con số trong vài 2, 3 năm nay, trong khi mức “phấn đấu” cho tăng trưởng GDP của cả Việt Nam chỉ là dướI 6-7%.

Mong muốn cho dân giàu hơn là mong muốn chính đáng, nhưng đây không phảI là mong muốn không kèm theo phí tổn. Phí tổn nhãn tiền chính là nợ công của chính quyền trung ương và địa phương đã và đang tăng nhanh chóng. Nếu tiếp tục google vớI cụm từ “phát hàng trái phiếu địa phương” chẳng hạn, thì sẽ thấy một bức tranh hết sức đáng lo ngạI là không chỉ trái phiếu của Chính phủ mà còn trái phiếu của chính quyền các tỉnh thành đang có xu hướng tăng mạnh, vớI nhiều nghìn tỷ đồng ở mỗI tỉnh, thành đã, đang và sẽ được phát hành. Phí tổn này, nếu không kiểm soát được, sẽ làm mất ổn định hệ thống tài chính của Việt Nam.
Không biết đích xác được tổng số nợ của các chính quyền địa phương Việt Nam là bao nhiêu, nhưng cứ nhìn sang Trung Quốc, một trong số ít quốc gia còn lạI trên thế giớI, cùng với Việt Nam, vẫn duy trì việc đặt ra và theo đuổI mục tiêu tăng trưởng hàng năm – một sản phẩm đặc trưng của nền kinh tế kế hoạch thời Stalin – thì có thể thấy mức nguy hạI của vấn đề. Cũng vớI sự “phấn đấu tăng trưởng” như ở các địa phương Việt Nam, tổng số nợ của các địa phương ở Trung Quốc đã tăng vọt từ 1,7 nghìn tỷ đô la hồi cuối năm 2011 lên 2,9 nghìn tỷ đô la tính đến tháng 6/2013 (tương đương vớI 33% GDP của nước này).

Nợ công (cả trung ương và địa phương) tăng lên sẽ buộc chính quyền các cấp phảI tiếp tục “vay nợ để nuôi nợ”, hoặc từ nguồn vay tín dụng ngân hàng thương mạI, hoặc từ phát hành trái phiếu mớI. Cứ tiếp tục như vậy, việc vay nợ này sẽ đẩy lãi suất trong nước lên cao, gây khủng hoảng thanh khoản và đổ vỡ trên các thị trường như bất động sản và chứng khoán, rồI lan đến hệ thống ngân hàng. Để can thiệp, ngân hàng trung ương phảI bơm tiền vào hệ thống và cứu trợ một số ngân hàng mất thanh khoản, gây áp lực lên lạm phát và sự ổn định của cả nền kinh tế.
Chưa kể, tư duy tăng trưởng nhanh để tạo thêm nhiều công ăn việc làm, đồng thời rút ngắn khoảng cách thu nhập đầu người so với các nước láng giềng có thể đúng và có ý nghĩa với những nền kinh tế có dân số trẻ, tỷ lệ tăng trưởng dân số cao, thất nghiệp lớn nhưng tỏ ra không phù hợp hoàn toàn với hoàn cảnh ở Việt Nam hiện nay nữa. Tốc độ tăng dân số của Việt Nam đã liên tục giảm mạnh, từ trên 2,5%/năm vào những năm cuối của thập kỷ 80 xuống còn khoảng 1%/năm trong mấy năm qua. Bởi vậy, tuy tốc độ tăng trưởng GDP có giảm đi 1 hoặc 2 điểm phần trăm gần đây so với thập kỷ trước nhưng tốc độ tăng thu nhập đầu người vẫn không hề suy giảm, do tốc độ tăng dân số đã chậm lại so với trước. Trong khi đó, tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam, theo con số công bố chính thức, lại đang ở mức rất thấp (đến mức bị nghi ngờ về tính chính xác), và từ lâu đã xuất hiện dấu hiệu của khan hiếm lao động, kể cả lao động phổ thông, ở nhiều nơi, nhiều vùng, thậm chí ngay cả trong những năm kinh tế đi xuống như những năm qua.

Hệ lụy nữa của việc chạy theo tốc độ tăng trưởng là sự tàn phá môi trường. Đất nông nghiệp, đất rừng đã được ưu tiên dành cho những dự án công nghiệp, trung tâm công nghiệp tập trung. Tuy có sức tăng trưởng nhanh hơn, mang lạI nhiều công ăn việc làm hơn nhưng những dự án, trung tâm công nghiệp này lại tàn phá môi trường ghê gớm, thể hiện ở sự nhiễm độc nặng nề đất đai, không khí, và nguồn nước, cùng với sự biến mất mầu xanh của rừng ở nhiều địa phương trong cả nước.
Nợ công tăng nhanh và sự xuống cấp của môi trường đến mức nguy hiểm đã làm thức tỉnh nhiều người. Ở Trung Quốc, con bệnh điển hình của “nghiệ tăng trưởng”, nhiều chuyên gia kinh tế đã đề xuất nước này bỏ hẳn việc xây dựng và công bố mục tiêu tăng trưởng GDP, để tạo hậu thuẫn cho việc chuyển hướng của Chính phủ từ việc theo đuổi mô hình tăng trưởng đặt ưu tiên lên tốc độ tăng trưởng bằng mọi giá sang mô hình tăng trưởng nhấn mạnh đến tính cân bằng và bền vững. Thực tế, Đảng Cộng sản Trung Quốc hồI tháng 12/2013 phảI tuyên bố một chương trình đánh giá thành tích các cán bộ ở cấp địa phương dựa vào chất lượng của tăng trưởng, bao gồm cả yếu tố môi trường.

Tiếc là, một tinh thần đổi mới tư duy và chương trình hành động như vậy vẫn còn là điều thiếu vắng ở Việt Nam, một láng giềng có nhiều tương đồng, cho đến tận thờI điểm này, được minh chứng rõ hơn, như đã nói, ở việc chính quyền các địa phương vẫn đặt ra các mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng, bất chấp hậu quả tiêu cực lên sự ổn định vĩ mô và chất lượng môi trường. Và ở đâu đó, ta vẫn nghe thấy những phát biểu từ một vài quan chức về việc phải đẩy cái nọ, tăng cái kia lên để “phấn đấu” đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP cao hơn năm qua và cao hơn nữa trong những năm tới, bất chấp những nghị quyết với văn kiện nhấn mạnh đến chất lượng tăng trưởng từ những cấp cao nhất.

Thư của bạn đọc gửi liên quan đến đồng chí Huyền Chíp

Hôm trước, có đồng chí gửi tớ link đến thư của đồng chí ấy gửi cho đồng chí Huyền Chíp trên facebook, nhưng tớ không có nên đồng chí ấy gửi bằng email cho tớ. Nội dung của thư có một số chi tiết đáng suy ngẫm nên tớ post lại ở đây để các đồng chí có them cái để đọc. Tớ chỉ post ở đây thôi chứ không có ý định comment gì hết.

-----------------------------------------------------------

Tớ chỉ là 1 anh quèn a dua facebook cho kịp với thời đại chứ cũng ko biết gì về IT cả, nhìn thấy những đóng góp học thuật của Phan tiên sinh bên dưới, tớ hãi quá, xin Phan tiên sinh lượng thứ! 
Blog ko cho up quá 4096 ký tự do vậy tớ đành gửi mail, nếu muốn a Phan có thể up lên blog như là 1 cmt của bạn đọc!
Đây là toàn văn bức thư tớ gủi Chip hôi, để Chip thêm dũng khí vượt qua khó khăn... Tớ chả có tí liên quan nào đến em đó cả, nhưng cũng là thằng đàn ông Viêt nên thấy có nhóc con tinh tướng với Chị Em cũng thấy xấu mặt thay!
 
TẢN MẠN CHUYỆN CHIP, LAN MAN CHUYỆN ĐỜI
Chào em, HuyềnChip,
 
Đọc sách em xong đã mấy hôm rồi, và anh cũng hay theo dõi những phản hồi của dư luận xung quanh cuốn sách vừa ra mắt cùng chút thông tin cần hỏi, hôm nay anh tranh thủ gửi đến em đôi lời. Anh là Thắng, một độc giả dự họp báo và đã xin thông tin của em hôm ở L’espace tháng trước.
Anh tình cờ tìm thấy tập 1 Xách ba lô lên và đi trong thư viện Hà Nội cách đây không lâu, và đã tò mò đọc hết cuốn sách dù không có nhiều thời gian bởi anh cũng là một người đã và cũng rất thích đi du lịch, tìm hiểu các nền văn hóa. Thú thật, lúc đầu anh hơi choáng và rồi khâm phục khi biết tác giả của nó là một cô gái mới chỉ 19, đôi mươi!
Đã lâu rồi mới xuất hiện một sự kiện văn hóa đặc sắc trong giới trẻ, và nó hoàn toàn khác với những vụ ồn ào, khoe thân khoe “bị” kiểu hãnh tiến, trọc phú đang diễn ra như nấm sau mưa trong xã hội Việt Nam hiện nay... Những sự kiện tích cực đã ít, sự kiện về sách lại càng ít hơn, mà lại là chuyện thật, li kỳ kiểu “Papillon” của Henri Charrière nên lại càng trở nên bom tấn giữa rừng sách sáng tác.
Trong cơ man những thông tin, hình ảnh khoe khoang sự hoành tráng, phong phú của cơ ngơi các Sao Việt, có lẽ có một chi tiết mà ít người Việt Nam trong nước để ý, phát hiện! Đó là: Anh chưa bao giờ nhìn thấy phòng đọc sách, thư viện gia đình hay thậm chí chỉ 1 tủ sách của họ, thay vào đó là những xe cộ, nội thất, túi xách, quần áo, giày dép v.v., ngồn ngộn tầm thường… Vậy nó nói lên điều gì? Chính là sự thiếu vắng, nghèo nàn đến thảm hại về tri thức, dân trí, của đời sống tinh thần của một bộ phận tầng lớp mới giàu lên, vốn được coi là những thần tượng ở Việt Nam. Thế nên cũng chẳng có gì lạ khi thống kê cho biết người Việt đọc sách thuộc loại ít nhất thế giới. Không phải ngẫu nhiên sự thịnh vượng của 1 đất nước luôn tỉ lệ thuận với tầm cỡ ngành xuất bản.
Nhìn ra các xứ phát triển, tầng lớp trung, thượng lưu của họ thường là những người có tầm, yêu văn hóa, trọng tri thức, họ luôn dành một nơi trang trọng, yên tĩnh làm một thư viện nhỏ, cũng là để hướng văn hóa đọc cho con cái. Các vua chúa châu Âu cũng như chính quyền kế tiếp thì khỏi nói, đã xây dựng cho xã hội những thư viện không thể hoành tráng hơn, không thể trang trọng hơn với những bộ sưu tập sách đồ sộ… A. Einstein từng bàn về giáo dục, đại ý: Cần phải hướng con người tới những giá trị nhân bản, nếu không anh ta, với kiến thức chuyên môn hoá sẽ giống như một con chó được huấn luyện tốt, chỉ tôn thờ sự thành công hám lợi như một sự chuẩn bị cho sự nghiệp tương lai, thay vì phục vụ xã hội một cách cao cả (đúng là hiện trạng chúng ta). Nhà văn quen thuộc Nguyễn Nhật Ánh cũng viết: Đồng tiền mang khuôn mặt của người cầm (dùng) nó...
Trở lại chuyện Chip, chiều hôm 18/9 tình cờ đọc được tin trên mạng thông báo Huyền Chíp sẽ tổ chức họp báo và ra sách tập 2 Xách ba lô lên và đi, anh đã quyết định đến. Lần đầu tiên nhìn thấy nhân vật chính, anh hơi ngạc nhiên khi thấy Chip không có cái vẻ “bụi bặm”, “phượt thủ prồ” mà anh đã từng gặp ở giới trẻ nước ngoài, trái lại là một cô gái trông cũng “hay hay”, dễ mến, có vẻ ít quan tâm đến ngoại hình, giản dị, tóc dày tự nhiên, lại có vẻ dịu dàng nữa, điều đó khác nhiều với những cô cùng trang lứa trong nước tuy táo tợn trong ăn mặc, hành xử (nhiều người gọi không đúng lắm là Tây hóa) nhưng có khi lại “sọc dưa”, khóc nhè nếu chẳng may lỡ chuyến xe cuối cùng trong đêm vắng... Liệu đây có phải là một lý do mà nhiều độc giả đã sinh nghi ngờ về tính chân thực của câu chuyện?
Nhân đây anh cũng nói qua về mình, anh là dân 7x, từng du học và làm việc tai Tiệp Khắc cũ (nay là Cộng hòa Séc), rồi qua Đức, Pháp, Bỉ,... lang thang cũng cỡ chục nước Châu Âu. Vì thế, anh cũng đã từng nếm trải những màn ngủ vạ, ăn uống thất thường thiếu chất, hay vượt biên, trốn vé, v.v... Nên rất thông cảm và hiểu những gì em đã kể lại trong sách, dù châu Âu có khác đi chăng nữa nhưng cũng đủ các vấn đề, và mùa đông rất lạnh; Chip’s story không phải là chuyến dạo chơi lãng mạn dành cho kẻ nhút nhát, yếu đuối, đó là chuyến đi bão táp, là bài thực hành tốt nghiệp đại học kỹ năng sinh tồn, đó như là cuộc “thập tự chinh-hành hương” trở về với bản ngã, đến với đam mê...
Dù em ít kể những chi tiết vặt, nhưng là người cũng đã từng tự lập khá lâu, anh biết luôn có những phiền toái mọi lúc mọi nơi mà ta phải tự tìm cách giải quyết. Như đang đi chỗ đông người, bất tiện lại rất cần nhà vệ sinh, hay cuốc bộ nhiều quá đến nỗi đêm về buốt tận óc, tê dại hết 2 chân không tài nào ngủ được, hay nhầm đường sau khi đã hăm hở một quãng dài, rồi mất nọ mất kia, giày phồng chân hay đơn giản là cả tuần chưa tắm, da kém cảm giác với quần áo bết nhớp khó chịu… và lại còn đống hành lí ăn bám sau lưng nữa chứ.
Trước nay, người Việt nam ta chỉ loanh quanh với “giặc ngọai xâm”, “cơm áo”, “bằng cấp...” mà quên đi những trải nghiệm “sống” khác. Khái niệm đi du lịch hay xuất ngoại cũng chỉ mới xuất hiện trong dân cỡ 20 năm nay, thế nên con người rất ít được mục sở thị bên ngoài, nhiều người cứ nghĩ nước nào cũng như ta!? Thêm vào đó, ảnh hưởng nặng của văn hóa Khổng Giáo ưa an nhàn, nhu thuận, an toàn, ngại dư luận, bề trên luôn đúng v.v, thế nên cả dân tộc Việt như tự giam hãm chính mình... Chả thế mà dù chúng ta tự hào là thông minh, khéo tay, nhưng đến nay cũng chẳng làm nổi một chiếc đồng hồ! Chả thế mà dù có hàng ngàn km bờ biển, nhưng ngàn năm ta vẫn sống như một dân tộc lục địa, chả dám vươn ra biển lớn khám phá, đến muối ăn có lúc còn thiếu và đắt, chứ đừng nói đi chinh phạt bờ cõi khác... Chả thế mà Nguyễn Trường Tộ đã suýt bị vua Tự Đức xử trảm sau khi ông đi sứ Pháp về ca ngợi nền văn minh công nghiệp với cái đèn treo ngược (bóng điện) vì tội “vọng ngữ khi quân” (dối vua)... Và cũng bởi ít được giao lưu với thế giới, nên dân Việt tới giờ vẫn thích ôn cố, hay nhắc về những chiến thắng quân sự để tự hào (ăn mày dĩ vãng - Chu Lai), dù chính đáng nhưng sao vẫn thấy buồn lòng chua xót, trong khi các dân tộc văn minh khác đã tiến xa và thích tự hào, tôn vinh các giá trị tri thức thay vì say sưa trong vinh quang xương máu…
Có một câu chuyện không biết thật hay vui, là có lần báo chí phương Tây phỏng vấn một cụ bà đắc thọ Bách niên ở Việt Nam (anh không nhớ tên): “Cụ đã đi đâu bao giờ khỏi quê mình chưa?”. Cụ bảo: “Từ nhỏ đến giờ tui chỉ mò cua bắt cá, vui sống với con cháu ở làng thôi!”, thế là họ kết luận: “Thế thì Cụ chưa bao giờ SỐNG cả!” .
Các dân tộc phương Tây, cụ thể Đế quốc Anh thế kỷ 17 dù chỉ có vài triệu dân nhưng đã thống trị khắp thế giới, hay Bồ Đào Nha, Hà Lan bé tí teo nhưng đô hộ tận Macao, Indonesia..., và cũng cần biết, nhiều khám phá, phát minh lớn lại không phải là kết quả từ những nỗ lực kiểu chính quy, bài bản, của những con người được đào tạo đúng chuyên môn, mà đến từ sự tình cờ, ngẫu nhiên, phi quy luật, hay những quyết tâm, đam mê cháy bỏng ngoài ngành. Ví dụ, phát minh ra máy bay là của anh em nhà Wright vốn chỉ là nhà sản xuất xe đạp, trong khi đó Chính phủ Mỹ đầu tư cho cả một đội ngũ khoa học để tìm cách phát minh ra cỗ máy nặng hơn không khí mà bay được thì hết thất bại này đến thất bại khác, rồi Edison, Honda cùng bị trường lớp chính quy coi là đồ bỏ,… hay gần gũi hơn như thày giáo dạy sử Võ Nguyên Giáp...
Tất cả những lùm xùm quanh cuốn Xách ba lô lên và đi gần đây đã phần nào tố cáo chủ nhân của chúng đích thị là con cháu của dân tộc vẫn “say sưa dưới chiến hào”. Nếu cuốn sách phát hành ở một quốc gia khác, văn hóa khác, chắc chắn sự đón nhận của độc giả cũng rất khác, có thể được ca ngợi hay quên lãng vì cũng không có gì mới (phương Tây chẳng hạn), hay thậm chí còn bị “Ném đá” mạnh hơn cả Việt Nam (hồi giáo chẳng hạn).
Dù anh biết có một số chi tiết trong sách không hoàn toàn chính xác, nhưng nó không nghiêm trọng, bởi sự việc được mô tả bởi một cô gái trẻ, và nói chung, Nữ thể hiện chắc chắn khác Nam. Đọc sách Chip, anh thấy nhiều đoạn về văn hóa, con người bản địa khá tinh tế, sâu sắc và nhân bản, điều mà nhiều cô gái sống ở Việt Nam ngày ngày chỉ quen với gia đình, con cái, giá son giá váy bon chen, hay tác giả nam... không bao giờ có thể có được! Sự nhạy cảm nữ tính và tình yêu, sự hồn nhiên tươi trẻ rất teen, duy tình chứ không duy lý, đó chính là thế mạnh và cái đẹp của cuốn sách. Nhưng nó lại ít các yếu tố định lượng định tính, mang tính kỹ thuật như thời tiết, nhiệt độ, thủ tục, những con số chính xác, không gian v.v. khô khan lạnh lùng, cái mà nam giới lại mạnh, thế nên câu chuyện không thể đánh giá theo kiểu cẩm nang du lịch. Anh cũng biết em từng là học sinh chuyên cua ĐH Khoa học Tự nhiên và khỏi phải nghi ngờ về sự thông minh trừu tượng của Chip ở đây, nhưng trong văn chương, nữ vẫn luôn có cách biểu đạt riêng!
Anh đã gặp nhiều dân phượt, lang thang ở châu Âu, đủ các thể loại, phải công nhận người Tây phương rất năng động, hướng ngoại, thích khám phá di chuyển, dù không phải ai cũng có tiền, thế nên không tiền thì đi kiểu không tiền, có sao đâu! Với họ, đợi đủ tiền để đi là một sai lầm lớn. Họ chỉ có một lợi thế duy nhất so với ta là mang hộ chiếu của các nước phát triển, hay còn gọi là thế giới thứ nhất (ta, các nước châu Phi v.v. là thế giới thứ ba) nên xin visa khá dễ dàng, yêu cầu ít, nhưng cũng không được làm việc nếu không có giấy phép. Có cô người Australia có vài ngón ảo thuật, thế là đi đến đâu gặp quảng trường (các thành phố châu Âu đều có khá nhiều không gian công cộng để dân vui chơi, tụ tập) là cô ấy cũng biểu diễn rồi chìa cái mũ xuống hè để ai thích thì cho. Hay nhiều anh Tây lang thang kéo đàn, vẽ chân dung cho khách, hay dân da đen thường có trò tết tóc kiểu Phi 5-10$/cái, v.v… (cái này em biết rồi). Điều muốn nói ở đây chính là bản lĩnh tự lập, không dựa dẫm của họ, khác xa cái văn hóa bao bọc của dân Việt mình (nếu an phận ngồi nhà, thì các nước phương Tây luôn có chế độ an sinh xã hội, trợ cấp tối thiểu hàng tháng cho họ).
Còn nói về sự chân thực, có lẽ xã hội ta đang có quá nhiều giả dối trong mọi lĩnh vực nên người dân rất nhạy cảm chăng, ít có sắc dân nào luôn phải căng mình ra để đối phó, cảnh giác trong đời sống như dân Việt... Ai mà biết được có bao nhiêu thanh niên đã hy sinh bởi ảnh hưởng từ bài thơ “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” của Tố Hữu, người khi viết còn chưa bao giờ đặt chân đến đó. Ai mà biết được có bao nhiêu thiếu niên đã bỏ mạng vì học theo gương Kim Đồng, Lê Văn Tám, những “con người” chưa bao giờ tồn tại trên cõi đời này… nhưng lại ngự đàng hoàng trong nhiều cuốn sách và còn không ít ví dụ dân đen không muốn kể vì nhạy cảm… Thế nên cái xứ Việt mình còn mệt, thấy con mèo trộm con cá nhép thì đánh trối chết, còn thấy ông Ba mươi tha cả con lợn của hợp tác thì cũng đành im cho lành... Chúng ta đang chịu hệ lụy không nhỏ của một hệ thống ngược: Có uy tín vì có quyền thay vì uy tín tạo ra quyền lực; Giỏi vì có bằng cấp thay vì có nhiều cống hiến cho xã hội; Có lẽ phải vì là lãnh đạo thay vì trở thành lãnh đạo vì mình đúng đắn... (Thẳng Thắn Thật Thà Thường Thua Thiệt, Lọc Lừa Lươn Lẹo Lại Lên Lon). Nếu ai đó muốn nổi tiếng, hay trả lại “sự thật, công lý” trong các ấn bản phẩm thì tôi thấy có nhiều đề tài tầm cỡ, xứng đáng hơn nhiều. Sao không tìm “sự thật” trong văn thơ bốc thơm, trơ trẽn của TH, trong nhật ký của bác Trần Dân Tiên, trong đời tư còn đầy bí ẩn, li kì của Chủ tịch vĩ đại, hay trong vô số sách lịch sử đã bị xào xáo cho phù hợp khẩu vị một số người... Hay có lẽ cũng biết rõ không nên phản biện với cái còng, nổi tiếng trong nhà đá thì chẳng có ai tung hô... nên rỉa róc chuyện rong chơi của một con nhóc là dễ và an toàn nhất... Một quan chức Công an ta từng nói: Phản biện hả, Phản biện là phản động, chúng tôi có đủ cách đối phó không hề thua kém ai... Ts. Hà Huy Khoái, nguyên Viện trưởng Viện Toán học từng nhận xét chí lí: "Việt Nam làm gì có Khoa học xã hội, tất cả đã bị gói gọn bởi tư tưởng Mác-Lênin"... Ai đó mà tài giỏi phán xử được những người có trách nhiệm hay lành mạnh, trong sạch hóa cỗ máy thông tin, tuyên truyền thì dân Việt hưởng đại phúc.
Nói về tấm gương, tính âm dương, hai mặt tốt xấu luôn thường trực trong mọi phạm trù, tùy người nhìn nhận, khai thác nó. Anh ca ngợi Bill Gates, tôi bảo xấu vì ông ấy bỏ học, khó tính, hay chê bai người khác. Steve Jobs: bỏ học, tuần tắm 1 lần, rất lập dị, cũng xấu! v.v. Sự ồn ào, khoe khoang của một số người Việt, một mặt thỏa mãn cái tôi, động lực phấn đấu cho nhiều người, nhưng mặt khác đã cổ xúy, đề cao, lan truyền lối sống vật chất, phù phiếm, bề ngoài giả tạo, nông cạn, thói sĩ diện, “nổ”, đang là căn bệnh mãn tính của người Việt Nam. Stephen Hawking, khoa học gia lỗi lạc về vũ trụ thiên văn, đã đúc kết: Đừng tìm kiếm sự hoàn hảo, bởi đơn giản là nó không tồn tại!
Ta vẫn thấy có những hiện tượng, nhân vật xuất chúng trong nhiều lĩnh vực nhưng khởi đầu, tuổi thơ lại chẳng có gì ấn tượng! Hay học cái này nhưng sau lại tỏa sáng ở cái khác chả liên quan gì! Ở đây, nếu ta cứ cố gắng phân tích, suy luận kiểu lý trí để tìm lời giải đáp thì thường đi vào ngõ cụt, mọi lý lẽ đều có vẻ không ổn. Ví dụ, sao cái ông B. Gates, Honda bằng cấp chẳng có mà lại giỏi thế? Sao thày giáo dạy sử Võ Nguyên Giáp lại có thể trở thành thiên tài quân sự? Sao cái cô Chip đang học giỏi, có tương lai thế, hay đang làm công việc ngon thế, bao người mơ chẳng được tự dưng lại bỏ ngang lang thang?! Trông như cái kẹo ấy mà đòi chu du! Tôi đầy tiền, chơi tennis, thể hình, bồi dưỡng các kiểu, chỉ loanh quanh ở đây, thế mà có thoát được ốm đau đâu. Chắc có đại gia, đại điên nào đó chu cấp thì ai mà chả làm được... Điên!? Hỏng!? Phét! PR? hay độc miệng hơn (kiểu VN): Nhà vô phúc!
Nhưng phương Đông có cách lí giải tuy siêu hình, thần bí nhưng thỏa đáng: Đó là ĐỊNH MỆNH của người đó là vậy! Vâng, Thuyết Định mệnh. Dù thế nào thì tất cả vẫn cảm thấy có tồn tại một sức mạnh siêu nhiên nào đó chi phối cuộc đời chúng ta. Vì thế, cùng khả năng, nhưng có người làm được những việc lớn lao, có người chỉ ngồi nhà gặm nhấm những giấc mơ và tin rằng, mình không làm được thì không ai làm được, vì “nó” có hơn gì mình đâu. Đơn giản là làm theo tiếng gọi của đam mê, tiếng gọi của Định mệnh, cứ xốc tới... và điều kỳ diệu, phi thường xuất hiện. Khát khao, say mê, sức sáng tạo hay gì đó thuộc về tinh thần, đều là sức mạnh mà Đấng Tạo hóa ban tặng cho ai Ngài thấy thích hợp. Nó không nhân bản, copy được, không mua bán, học theo được, không mượn được…
Nếu sau này em thích, anh thấy em hoàn toàn có thể mở dịch vụ tổ chức tour du lich chuyên khám phá thiên nhiên hoang dã châu Phi (Safari - loại hình này còn mới lạ nhưng chắc sẽ đầy hấp dẫn với dân ta).
Thư cũng đã dài, nên để kết thúc anh dành chỗ xin hỏi em một chút. Anh luôn ao ước đi thăm một chuyến Ân Độ, Nepal tầm 1 tháng gì đó, anh không thích tour mà định xin visa để tự đi. Tiền bạc, ăn ở trọ không lo. Nếu em có thời gian thì cung cấp cho anh một số thông tin về thủ tục Visa cho khách lẻ, nên đi theo lộ trình thế nào, nên thăm những đâu, các phương thức thanh toán, đổi tiền, các trở ngại v.v... vì anh biết Ấn Độ rất mênh mông...
Và để kết thúc, anh có lời khuyên là sau này có đi dài ngày nữa, nên chuẩn bị hành trang chuyên nghiệp hơn. Vì theo như trong sách, hình như không thấy Chip nói đến bao giờ các đồ dùng mà dân Tây ai cũng mang: túi ngủ, thuốc men, đồ sơ cứu, chống muỗi, thiết bị (device) an ninh như bình xịt cay (cái này có kể), báo động phát tiếng kêu lớn, v.v. Qủa thật, cuốn sách một phần hấp dẫn cũng là bởi người ta muốn biết làm thế nào một cô bé không chút kinh nghiệm bên ngoài, tài chính eo hẹp, chuẩn bị sơ xài lại có thể đi qua hàng chục quốc gia, trong đó có quốc gia được coi là nguy hiểm khi du lịch, trở về bình an. Nếu một lính Mỹ hay một nhà thám hiểm thâm niên, trang bị tận răng thì chắc không ai để ý. Đó chính là tinh thần “Xẻ dọc Trường Sơn”, dám thực hiện ước mơ, phá vỡ sự tẻ nhạt, quy luật nhàm chán của đời người. Danh họa Bùi Xuân Phái hay nói: “Sư tử chỉ đi một mình”. Bản lĩnh, tháo vát, đồng ý, nhưng nhìn ở góc độ nhân văn, chuyên nghiệp, thì điều đó rất nguy hiểm cho bản thân, bởi có thể hóa thành nỗi đau cho gia đình, bạn bè…
Phần lớn những nơi em qua đều là các nước đang phát triển, nghèo, luật pháp lỏng, tình người chan hòa (Africa vẫn được người Âu gọi là châu lục của Tuyệt vọng-The Desperate Continent). Nhưng châu Âu thì lại là một câu chuyện khác. Chặt chẽ, nguyên tắc, dân nhập cư bất hợp pháp Á, Phi rất nhiều, phức tạp, nếu không có giấy tờ hợp lệ mà bị cảnh sát hỏi là bị giữ (đôi khi gặp may cũng xin được) để trục xuất (Đức, Bỉ vài tháng, Pháp thì tối đa 2 tuần, nếu không trục được họ lại thả, nhiều trường hợp bắt, thả cả chục lần), nhưng lại có nhiều tổ chức từ thiện, phi chính phủ trợ giúp… Tây Âu rất tôn trọng quyền con người, luật pháp thế, nhưng trước cổng hay trong các nơi do các tổ chức từ thiện quản lý đầy dân nhập lậu, không bao giờ họ hỏi…
Cuối thư, anh chúc em sớm đạt được những kế hoạch tiếp theo, và luôn là Chip tóc xù như trong câu chuyện còn đang dang dở./.
 
Trịnh Quang Thắng
(thangtrinhquang@yahoo.com)

Thursday, 9 January 2014

Thử lý giải việc tiếp tục bình ổn vàng của Ngân hàng Nhà nước (Bài đăng trên TBKTSG số ngày 9/1/2014, bản gốc)


Bất chấp giá vàng thế giới tụt giảm liên tục xuống những kỷ lục mới trong suốt phần lớn năm 2013, kéo theo giá vàng trong nước cũng nhu cầu về vàng của thị trường trong nước cũng đứng ở mức thấp, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vẫn tiếp tục tung vàng ra đấu thầu như hiện nay. Thoạt đầu, việc đấu thầu vàng bắt đầu từ cuối tháng 3 năm 2013 được làm cho hiểu là một hành động giúp hệ thống ngân hàng tất toán vàng vay mượn từ dân chúng. Tuy vậy, sau thời điểm đến hạn tất toán hồi tháng 6, NHNN vẫn tiếp tục cho đấu thầu vàng với mục đích, theo tuyên bố của họ, là để bình ổn thị trường vàng.
Đáng chú ý là trong suốt nửa năm sau 2013, thị trường vàng đã hầu như vắng bóng các cơn sốt vàng đi kèm với giá vàng trong và ngoài nước có xu hướng suy yếu (mặc dù chênh lệch giá vàng trong và ngoài nước thì hầu như không được thu hẹp, nếu không muốn nói ngược lại). Trong bối cảnh này, rõ ràng việc “bình ổn” của NHNN trở nên hoàn toàn không cần thiết. Bởi vậy, một câu hỏi được đặt ra là tại sao NHNN lại vẫn tiếp tục cho đấu thầu vàng cho đến tận bây giờ (và rất có thể sẽ còn kéo dài sang những tháng tới)?
Có thể nói ngay, việc NHNN liên tục đi nhập khẩu vàng về để đấu thầu chắc chắn có liên quan đến luồng ngoại tệ dồi dào đã và đang chảy vào Việt Nam. Theo các báo cáo của các cơ quan chủ quản, cán cân vãng lai và thanh toán của Việt Nam đang và sẽ ở mức thặng dư lớn, hàng tỷ đô la, có được nhờ nguồn kiều hối và FDI ở mức cao so với các năm trước, trong khi xuất khẩu tăng trưởng mạnh hơn nhập khẩu, chưa kể các các nguồn vay nợ và viện trợ vẫn đang chảy vào nền kinh tế. Nếu không có nguồn ngoại tệ lớn này, NHNN chắc chắn sẽ không có đủ tiềm lực để duy trì nhập khẩu và đấu thầu vàng ở quy mô lớn và thời gian kéo dài như vậy, nếu không muốn làm suy kiệt quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia.

Thông thường, khi nguồn ngoại tệ chảy mạnh vào nền kinh tế của một quốc gia, nước đó sẽ phải mua vào ngoại tệ, tung bản tệ ra để ngăn không cho bản tệ lên giá, ảnh hưởng đến xuất khẩu. Việt Nam cũng đã phải theo con đường này trong năm nay, với tuyên bố của NHNN đã mua vào ngoại tệ làm tăng mạnh quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia, trong khi, không như mọi năm, tỷ giá rất ổn định, thậm chí có nhiều thời điểm còn giảm đi (tiền đồng lên giá). Việc này có một hiệu ứng không mong muốn là làm tăng áp lực lạm phát do cung tiền đã tăng lên. Để khắc phục tác động tiêu cực này, NHNN phải tung tín phiếu ra để hút bớt tiền về (ngoài việc nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, một công cụ ít khi được sử dụng).
Nhưng năm 2013 là năm khá đặc biệt, với hiện tượng vàng không còn là một tài sản được ưa thích nhiều trên thế giới và cả ở Việt Nam nữa. Tuy vậy, do NHNN đang nắm độc quyền nhập khẩu vàng và, do đó, trở thành nguồn cung độc quyền vàng ra thị trường trong nước, giá vàng trong nước và thế giới vẫn đã và đang có một khoảng cách lớn, lên tới vài triệu đồng/lượng. Trong bối cảnh như vậy, NHNN rất có thể đã biết lợi dụng cơ chế đặc biệt này để phục vụ mục đích chính sách tiền tệ của mình một cách có lợi nhất, theo kiểu một mũi tên trúng nhiều đích.

Cụ thể, có thể NHNN đã tính rằng, việc tung tín phiếu ra để hút tiền đồng về vừa không phải là không tốn kém vì phải trả lãi, vừa không phải là đơn giản, vì nếu lãi suất tín phiếu quá thấp, không hấp dẫn được các ngân hàng thương mại thì NHNN, nếu không muốn dùng đến mệnh lệnh hành chính bắt buộc các ngân hàng thương mại phải mua tín phiếu, phải nâng lãi suất tín phiếu lên, làm cho chi phí từ kênh chính sách này càng lớn, trong khi hiệu ứng phụ của nó là làm tăng lãi suất trong nền kinh tế, đồng thời lại cạnh tranh với trái phiếu Chính phủ v.v...
Trong khi đó, nếu dùng một phần ngoại tệ đã mua được để nhập khẩu vàng về, bán lại trong nước với giá (quy đổi) cao hơn giá nhập khẩu, NHNN một mặt vẫn đạt được mục tiêu là hút bớt tiền đồng về, mặt khác, không những không phải trả lãi một đồng nào như đối với trường hợp can thiệp thông qua kênh tín phiếu, mà còn thu lãi lớn qua kênh nhập khẩu và đấu thầu vàng do chênh lệch lớn giữa giá vàng trong nước với giá quốc tế.

Ngoài lợi ích về chi phí, đấu thầu vàng của NHNN còn có một số tác dụng không nhỏ, chủ yếu ở mặt tâm lý, khi chứng tỏ cho thị trường thấy thái độ cứng rắn của NHNN, theo kiểu nói là làm và sẽ làm được, để từ nay về sau thị trường đừng có dại mà không tin vào tuyên bố và lập trường của NHNN. Giới đầu cơ vàng chắc sẽ còn lâu mới có thể gượng dậy được khi thị trường vàng liên tục bị đánh xuống với các đợt đấu thầu, và giá vàng thì, có phần trùng hợp, cũng liên tục đi xuống, chẳng còn thấy đâu cơ hội để mà đầu cơ chờ giá lên nữa, đúng như ý đồ của NHNN muốn “dẹp” thị trường vàng như một kênh gây bất ổn kinh tế vĩ mô trong nhiều năm qua.
Nếu lý giải trên là đúng thì ta sẽ có ngay câu trả lời cho câu hỏi tiếp theo được đặt ra là, bao giờ NHNN sẽ ngừng đấu thầu vàng? Cho dù có muốn tiếp tục thì NHNN cũng sẽ phải ngừng đấu thầu vàng khi nguồn ngoại tệ đổ vào không còn dồi dào nữa (có thể xảy ra với việc chấm dứt các gói nới lỏng định lượng của các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới, nhất là của Mỹ). Hoặc việc này sẽ xảy ra khi các hoạt động trong nền kinh tế thực được tăng tốc, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, và, do đó, lôi cuốn nguồn tiền đồng dư thừa trước đó. Khả năng khác, không phải là khả năng cuối cùng, là khi NHNN thực sự muốn bình ổn thị trường vàng, và đây là mục đích chính, nhưng nhận ra rằng thực ra hành động đấu thầu vàng không có tác dụng bình ổn gì cả, ngoài cơ may là thị trường vàng xuống dốc như vừa qua (chứ không phải bình ổn như chủ ý của NHNN) hoàn toàn nhờ yếu tố bên ngoài, chứ không phải nhờ hành động đấu thầu vàng của NHNN. Nếu giá vàng thế giới mà đảo ngược và duy trì như vậy trong một thời gian tới, đặc biệt nếu đi kèm với dấu hiệu căng thẳng ngoại tệ, chắc chắn NHNN sẽ phải cân nhắc lại hai lần trước khi tiếp tục duy trì đấu thầu vàng.

 

 

Sunday, 22 December 2013

Thúc đẩy tăng trưởng tín dụng và rủi ro nợ xấu (Bài đăng trên TBKTSG, số ra ngày 19/12/2013)


Với diễn biến “ì ạch” của tăng trưởng tín dụng từ đầu năm cho đến nay, có khả năng không hoàn thành mục tiêu tăng trưởng tín dụng 12% trong năm 2013 này, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có những biện pháp chỉ đạo quyết liệt đốc thúc và tạo điều kiện cho hệ thống ngân hàng tăng trưởng tín dụng. Còn bản thân các ngân hàng thương mại thì cũng quyết liệt tìm mọi cách để tăng tín dụng vì áp lực lợi nhuận, giảm nợ xấu, và giành thị phần.
Trong khi đó, nền kinh tế xem ra cũng vẫn đang trong giai đoạn “ì ạch” tăng trưởng, với hàng tồn kho ở mức lớn, với sản xuất cầm chừng ở nhiều ngành, nhiều nơi do nhu cầu thấp, thu nhập dân cư và doanh nghiệp tăng chậm, dẫn đến vòng luẩn quẩn là tổng cầu tăng chậm, nợ xấu gia tăng, nhu cầu tín dụng hạn chế, bất chấp mọi nỗ lực quyết liệt giải quyết khó khăn, thúc đẩy tăng trưởng của Chính phủ.

Bối cảnh này làm dấy nên nỗi lo ngại rất chính đáng rằng các biện pháp tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng như hiện nay sẽ tiếp tục làm gia tăng khối nợ xấu trong nền kinh tế, đơn giản vì nhanh và “quyết liệt” thường đồng nghĩa với ẩu và bỏ qua các nguyên tắc hành động chuẩn mực.
Sẽ có nhiều người, nhiều ngân hàng phản đối mối lo ngại này, vì cho rằng cho vay tín dụng luôn đi kèm với những nguyên tắc bất di bất dịch của ngành, kể cả trong giai đoạn đang phải “quyết liệt” như hiện nay. Họ sẽ dẫn ra những bằng chứng nào là thông tin tín dụng được cung cấp bởi Trung tâm Thông tin tín dụng NHNN (CICB), nhờ đó họ nắm rõ được lịch sử tín dụng của khách hàng, nhờ đó giảm thiểu khả năng cho vay “nhầm” đối tượng; nào là cán bộ tín dụng được đào tạo bài bản, có kinh nghiệm và tuân thủ pháp luật; nào là hệ thống quản lý rủi ro của các ngân hàng đã được nâng cấp, tái cơ cấu để hạn chế gia tăng rủi ro tín dụng từ cấp cơ sở v.v... Còn phía NHNN thì liên tục khẳng định đã tăng cường và thắt chặt công tác thanh tra, giám sát hoạt động tại các ngân hàng, quản lý rủi ro của toàn hệ thống v.v...

Và mọi việc dường như sẽ đúng như vậy cho đến khi có những vụ việc nổ ra, làm bộc lộ những lỗ hổng lớn trong công tác quản lý rủi ro của hệ thống ngân hàng và cả NHNN. Mới đây nhất là vụ tranh chấp kho cà phê trị giá 100 tỷ đồng của Công ty Trường Ngân vốn là tài sản thế chấp cho ... 7 ngân hàng với tổng số nợ lên tới 600 tỷ đồng. Trước đó, theo báo chí, thì còn có vụ Công ty cổ phần Inox Việt Mỹ cũng dùng sản phẩm inox của mình để thế chấp tại 5, 6 ngân hàng để vay 200 tỷ đồng. Đây chắc chắn mới chỉ là 2 trong số nhiều vụ việc đã và đang xảy ra mà dư luận còn chưa được biết đến.
Những vụ việc trên, về nguyên tắc, là không được phép xảy ra. Nếu đúng rằng các ngân hàng có sử dụng thông tin của CICB và các thông tin của CICB là đầy đủ để cung cấp một bức tranh tổng quát về những khách hàng như  Trường Ngân hoặc Inox Việt Mỹ thì chắc chắn các ngân hàng sẽ biết chính xác hiện tại các khách hàng này đang có bao nợ, với những ngân hàng nào. Bản thân từng ngân hàng có ý định cho các công ty này vay, dựa trên thông tin của CICB, có khả năng và bắt buộc phải phân tích xem với dư nợ vay hiện tại và số nợ mới mà họ đang xem xét, thì liệu các công ty khách hàng tiềm năng này có khả năng trả nợ cho họ không (dựa vào, ví dụ, thu nhập và dòng tiền), để rút ra kết luận có thể cho họ vay được không v.v...

Nhưng những vụ việc như trên vẫn xảy ra, chứng tỏ hai điều. Hoặc là thông tin của CICB là không đầy đủ, không được cập nhật (kịp thời). Điều này có thể xảy ra khi đối tượng cung cấp thông tin cho CICB, theo luật định, là các tổ chức (có hoạt động) tín dụng không thực hiện nghiêm túc đúng nghĩa vụ của mình; còn CICB thì không thực hiện được việc giám sát công tác báo cáo của các tổ chức này. Hoặc là bản thân các ngân hàng thương mại đã lơ là với chuyện cho vay, không có hệ thống quản lý rủi ro tín dụng hoạt động tốt, bị cán bộ tín dụng qua mặt v.v...
Điều rủi ro hơn hiện nay là các ngân hàng đang dốc sức phát triển mảng tín dụng cá nhân trong bối cảnh tín dụng doanh nghiệp đang “mắc cạn”. Các khoản cho vay cá nhân như tiêu dùng; mua, xây, sửa nhà; mua ô tô, thẻ tín dụng đang được khuyến khích và quảng bá rầm rộ.

Vì quy mô khoản vay tương đối nhỏ, số lượng đối tượng nhiều, chi phí cho vay lớn hơn đáng kể so với tín dụng doanh nghiệp nên thông tin gửi về CICB hoặc thông tin lấy ra từ đây còn hạn chế hơn nữa so với thông tin về các doanh nghiệp khách hàng vay tiền. Một số thông tin cực kỳ quan trọng đối với tín dụng cá nhân là tổng thu nhập và tổng số các khoản đã vay ngân hàng của từng khách hàng cá nhân là những điều mà các ngân hàng rất khó, và hầu như không nắm được. Nếu như ở nhiều nước khác, thông tin về thu nhập của mọi cá nhân được thể hiện rõ ở tổng mức thu nhập khai báo với cơ quan thuế vụ, thì ở Việt Nam, thu nhập này khá là mù mờ hoặc không được biết đến, không được xác nhận. Trong khi đó, thông tin về tổng mức vay nợ của khách hàng cá nhân với các tổ chức tín dụng hoặc là cũng không có, hoặc là không đầy đủ, thậm chí còn tệ hơn nhiều (nếu có) nếu so với thông tin tương tự của các khách hàng doanh nghiệp, vốn cũng đã không đầy đủ, cập nhật.
Thiếu vắng thông tin về thu nhập và đi vay của các khách hàng cá nhân làm nảy sinh rủi ro lớn về nợ xấu từ mảng nghiệp vụ này, vì phòng ngừa rủi ro luôn có hiệu quả hơn là xử lý hậu quả khi sự việc đã rồi, xét về mặt bảo toàn vốn và lợi nhuận. Lúc đó, các ngân hàng chỉ còn biết dựa vào các biện pháp “rắn” sau cho vay để đôn đốc thu nợ nếu khách hàng mất khả năng, hoặc cố tình không chi trả, cho dù kết quả có thể chẳng là bao.

Cũng phải công bằng mà nói rằng lỗ hổng trong cho vay cá nhân (và cả một bộ phận doanh nghiệp) nói trên là do “ở Việt Nam nó thế!”, và trói tay các cơ quan giám sát Chính phủ và các ngân hàng muốn làm nghiêm túc, trong khi là điều có thể thực hiện được ở nhiều nước khác. Ở Singapore, ví dụ, mới đây, nhân chuyện giá bất động sản tăng nóng do đầu cơ, Chính phủ đã khống chế tổng mức vay nợ ngân hàng dùng để mua căn hộ của Chính phủ quản lý sao cho mức trả góp hàng tháng (tiền trả nợ gốc cộng lãi) không quá 30% tổng thu nhập hàng tháng của người vay. Và đương nhiên là tổng thu nhập hàng tháng và tổng mức vay mượn ngân hàng của đại bộ phận người sống ở Singapore là điều có thể biết được qua một cái bấm chuột máy tính.
Nói tóm lại, rủi ro nợ xấu tăng lên mạnh hơn là điều có thể nhìn thấy trước khi mục tiêu tăng trưởng tín dụng đang được quyết liệt và ráo riết thực hiện, bởi không chỉ những lý do chủ quan (yếu kém nội tại trong hệ thống quản lý rủi ro của các ngân hàng) mà còn bởi những lý do khách quan (không phân tích, theo dõi được tổng số tiền vay và khả năng trả nợ của khách hàng).

Saturday, 14 December 2013

Lại thêm cái quen quen!

Tiếp theo bài mới đọc buổi chiều nay, tớ lại thấy có bài này có mùi văn thoang thoảng của tớ (ở trong bài này), ở cái đoạn định nghĩa về tỷ giá thật trong cái box màu vàng phía dưới. Hóm thật. Sao đồng chí tác giả không google một phát là ra cái định nghĩa chuẩn rồi tha về, mà cứ phải bệ nguyên cái thoang thoảng của tớ làm gì nhỉ. Tớ xem ra khéo sắp thành lãnh tụ đến nơi mất.

Friday, 13 December 2013

Bài này nghe quen quen!

Tớ lướt báo, thấy có bài này trên tờ An ninh Thủ đô, nghe quen quen mùi của tớ, hehe!

http://www.anninhthudo.vn/Van-de-hom-nay/Khong-de-cung-cau-venh-nhau/528889.antd

Vì là nó "hơi hơi" có mùi của bài này của tớ

http://phan-minh-ngoc.blogspot.com/2013/11/quan-ly-gia-khong-phai-cu-muon-binh-la.html

Phải công nhận là bọn báo chí cũng xào xáo giỏi và "thản nhiên" thật.

Và các báo cũng đưa tin giá sữa đã bắt đầu tăng ở một số nhãn. Trong khi đó thì Bộ Tài chính đã thành lập mấy đoàn kiểm tra với xử phạt. Rốt cuộc, như tớ nói, hãy chuẩn bị mà đón đợi tinh thần giá sữa tiếp tục tăng

Thursday, 5 December 2013

Ở đâu động lực tăng trưởng? (Bài đăng trên TBKTSG, số 5/12/2013, bản gốc)


Trong bối cảnh nền kinh tế đang tăng trưởng thấp hơn so với mức được coi là tiềm năng và vẫn còn đó những bất ổn kinh tế vĩ mô, một câu hỏi được đặt ra là phải làm gì để “vực” dậy tăng trưởng kinh tế trong khi vẫn tiếp tục cải thiện các cân đối kinh tế vĩ mô.
Trả lời câu hỏi trên, gần đây có luồng ý kiến cho rằng đã đến lúc Việt Nam cần phải từ bỏ chính sách quản lý tổng cầu (hay “trọng cầu”) để thúc đẩy tăng trưởng. Thay vào đó là chính sách “trọng cung”, gồm thực thi chính sách tiền tệ theo hướng duy trì lạm phát ở mức thấp, giúp doanh nghiệp có thể tiên đoán được sự biến đổi về lãi suất, nhờ đó có thể giúp doanh nghiệp xây dựng được các chiến lực kinh daonh và yên tâm bỏ vốn đầu tư trong trung và dài hạn; giảm các loại thuế và phí, cắt giảm chi tiêu chính phủ; đẩy nhanh hơn nữa tiến độ cổ phần hoá các DNNN; giải điều tiết các thị trường, tăng cường cạnh tranh và tự do thương mại; khuyến khích đầu tư vào phát triển công nghệ, giáo dục và đào tạo để cải thiện năng suất và phát triển vốn con người.

Đối với luồng ý kiến này, có thể thấy một số vấn đề cần làm rõ thêm.

Nhận diện thách thức hiện tại
Nền kinh tế Việt Nam hiện đang phải đối mặt với tổng cầu tăng yếu (hơn mức kỳ vọng và/hoặc tiềm năng), thể hiện ở tăng trưởng GDP và chỉ số bán lẻ ròng thấp. Cầu yếu còn thể hiện ở  việc dư cung, với chỉ số hàng tồn kho cao, ở việc doanh nghiệp không dám vay vốn (mặc dù đủ điều kiện vay với lãi suất ưu đãi) để mở rộng sản xuất. Trong khi đó, thu ngân sách bị hụt lớn (so với kế hoạch) do Chính phủ tiến hành một loạt động thái cắt giảm, hoãn, miễn,  hoàn thuế trong khi mức giao nộp của doanh nghiệp và cá nhân, theo báo cáo, bị sụt giảm bởi sản xuất kinh doanh không khả quan.

Cho dù các thách thức trên có thể chỉ là ngắn hạn nhưng nếu không có biện pháp xử lý đúng đắn thì chúng sẽ thành vấn đề có tính dài hạn hơn. Nói cách khác, hiện nay nền kinh tế đang đối mặt với thiếu cầu chứ không phải thiếu cung để mà phải “kích cung”. Nên nếu tiến hành chính sách trọng cung (hiểu ở đây chắc là, theo ý của phía “trọng  cung” này, phải tăng cung hơn nữa; và lưu ý thêm rằng hiểu như vậy thì chính sách này không thể được gọi là “trọng cung” theo đúng định nghĩa của nó) thì nền kinh tế sẽ càng phải chứng kiến sự dư thừa, tồn kho hàng hóa lớn hơn, doanh nghiệp càng phải co hẹp và đóng cửa nhiều hơn. Vì thế, chí ít thì tình trạng thiếu cầu (và dư cung) là căn bệnh đang diễn ra hiện nay và cần phải được giải quyết ngay và trước mắt đã. Cho đến khi nào sự bất cân đối này được cải thiện thì có thể lúc đó ta mới có thể phải xem xét các biện pháp kích thích sản xuất kinh doanh (lưu ý lại là các biện pháp này không thuộc về chính sách “trọng cung” theo đúng nghĩa của nó) trong trung và dài hạn.
Trong bối cảnh hụt thu ngân sách ở mức lớn như hiện nay (và còn kéo sang ít nhất năm sau), chính sách trọng cung với các biện pháp giảm thuế phí hơn nữa chỉ càng dẫn đến sự hụt thu trầm trọng hơn. Nguy hiểm hơn, điều này sẽ càng buộc Chính phủ phải dựa vào Ngân hàng Nhà nước (NHNN) để tiền tệ hóa khoản thâm hụt ngân sách Chính phủ, tức là làm trầm trọng thêm các bất ổn vĩ mô (áp lực lạm phát và tỷ giá gia tăng v.v...).

Cho dù phía trọng cung nói trên có đề cập đến giảm chi tiêu Chính phủ, nhưng rõ ràng là cho dù có giảm được chi tiêu Chính phủ nhưng thâm hụt ngân sách vẫn có khả năng không giảm đi, thậm chí vẫn trầm trọng hơn, nếu tổng thu ngân sách giảm mạnh hơn mức giảm chi của Chính phủ. Chưa nói thêm rằng giảm chi tiêu của Chính phủ sẽ lại dẫn đến vòng luẩn quẩn là tổng cầu yếu lại càng thêm yếu trong khi cái cần ngay trước mắt là phục hồi tổng cầu, chứ không phải là tổng cung.

Động lực tăng trưởng nằm ngay ở giải pháp xử lý những thách thức hiện tại
Xử lý được những “điểm nghẽn tăng trưởng” nói trên cũng tức là mang lại động lực phục hồi tăng trưởng cho nền kinh tế. Và giải pháp xử lý đương nhiên sẽ phải là tăng tổng cầu (và giảm tồn kho), và giảm thâm hụt ngân sách Chính phủ. Vì khuôn khổ giới hạn, nên ở đây ta chỉ nêu một số nét làm ví dụ.

Tổng cầu gồm có cầu từ thị trường nội địa và từ xuất khẩu. Tuy xuất khẩu đã tăng trưởng rất khả quan trong suốt mấy quý qua nhưng vẫn có thể tạo thêm dư  địa để khu vực này đóng góp tích cực hơn nữa vào tăng trưởng kinh tế, thông qua các biện pháp như phá giá tiền đồng để tăng sức cạnh tranh, nhờ đó tăng được doanh số xuất khẩu. Xuất khẩu tăng sẽ có tác động tích cực tới nền kinh tế nội địa khi nó tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập, thuế phí giao nộp, v.v... và tức là tăng tổng cầu.
Ngoài mặt lượng, dư địa đóng góp của xuất khẩu vào tăng trưởng còn có thể được mở rộng thêm về chất, tức nhờ vào tăng hàm lượng giá trị gia tăng trong hàng xuất khẩu. Các biện pháp chính sách theo hướng này là phải tăng cường liên kết theo chuỗi giữa hoạt động xuất khẩu với hoạt động của các ngành công nghiệp phụ trợ. Mà theo hướng này, một loạt các biện pháp chính sách cần phải tiến hành, trong đó đáng kể nhất là cải thiện tính hiệu quả của việc hoạch định chính sách, của hoạt động của bộ máy công quyền, quản lý hành chính; cải thiện chất lượng và số lượng các yếu tố đầu vào như lượng và chất nguồn lực lao động, đất đai, hạ tầng v.v...

Đối với thị trường nội địa, giảm, miễn và hoãn thuế phí như đã và đang làm có lẽ không phải là một giải pháp hiệu quả và có tính quyết định, vì như đã nói, nó có tác dụng phụ là làm tăng hụt thu. Ngay những nước như Nhật, với nền kinh tế trì trệ hàng thập kỷ qua, vẫn phải cân nhắc đến tăng thuế tiêu thụ để bù đắp nguồn thu. Thay vào đó, cải thiện lòng tin của người tiêu dùng, của doanh nghiệp vào triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế là điều cần được ưu tiên để họ mở rộng hầu bao cho tiêu dùng và đầu tư. Mà để làm việc này thì việc giảm thiểu tính bất trắc của nền kinh tế trong tương lai, chứ không phải là việc nâng lên hay hạ xuống bản thân một chỉ số kinh tế vĩ mô nào đó (như lạm phát), mới là điều quan trọng. Người ta thậm chí còn mạnh tay chi tiêu tại thời điểm hiện tại nếu nhìn thấy trước được rằng lạm phát chắc chắn sẽ ở mức xung quanh, chẳng hạn, 7% vào năm sau. Kể cả đối với đầu tư cũng vậy, đầu tư vẫn có thể tăng nếu nhà đầu tư tính toán được bài toán lợi nhuận dựa trên mức lạm phát cho trước hầu như là sẽ thành sự thật này. Điều rủi ro mà người ta lo ngại nhất, và co lại, chính là việc dự tính lạm phát một đằng mà thực tế hóa ra một nẻo. Nói cách khác, chính sách tiền tệ làm cho lạm phát ở mức thấp, như phía “trọng cung” đề xuất, không nhất thiết là cần thiết và/hoặc có lợi hơn một chính sách tiền tệ gây ra lạm phát cao hơn, nhưng ổn định hơn.
Với chi ngân sách Chính phủ, cắt giảm chi tiêu và đầu tư công vừa là điều không dễ dàng, vừa là điều không nhất thiết là ưu tiên hàng đầu, đặc biệt trong bối cảnh không còn trông chờ vào đâu để vực tổng cầu. Thay vào đó, và hiển nhiên là vậy, hiệu quả chi tiêu là điều cần chú trọng. Theo hướng này, tất nhiên sẽ có một loạt biện pháp chính sách cần được xây dựng và thực thi để cải thiện chất lượng chi tiêu của Chính phủ. Một khi hiệu quả chi tiêu được nâng cao thì đương nhiên nhu cầu tăng thâm hụt ngân sách sẽ phải giảm đi.

Những giải pháp trên cũng sẽ mang lại động lực tăng trưởng trong trung và dài hạn
Không như một số người sẽ hiểu lầm rằng các giải pháp trên chỉ mang tính ngắn hạn, đối phó với những thách thức hiện tại. Cần lưu ý rằng các giải pháp trên thường là (và liên quan đến), như đã dẫn chứng,  việc cải thiện tính hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế, của từng khu vực, thành phần kinh tế và của chức năng và hoạt động của Chính phủ v.v... để sao cho cùng một nguồn lực hiện có nhưng thành quả đóng góp vào tăng trưởng kinh tế lớn hơn.  Mà bản thân nội hàm của việc cải thiện tính hiệu quả đã tự nó bao gồm tất cả những biện pháp mà phía “trọng cung” đề xuất. Chẳng hạn, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) cũng chính là một biện pháp để cải thiện tính hiệu quả của khu vực kinh tế này, sao cho ngân sách không phải bỏ thêm vốn ra mà đóng góp của nó lại tăng lên. 

Tóm lại, đi tìm và mang lại động lực cho hồi phục và tăng trưởng kinh tế không nên chỉ giới hạn ở trong 2 khái niệm “trọng cầu” và “trọng cung”. Trong ngắn hạn, động lực này nằm ngay ở chính kết quả của các giải pháp có xử lý hữu hiệu được các khó khăn và thách thức hiện nay của nền kinh tế hay không. Tiếp tục thực thi hữu hiệu các giải pháp này để cải thiện tính hiệu quả của các nguồn lực trong trung và dài hạn cũng chính là động lực cho tăng trưởng kinh tế trong trung và dài hạn.

Wednesday, 27 November 2013

Tái cơ cấu kinh tế, hãy đợi đấy!

Đọc bài này và những bài tương tự thời gian gần đây về tái cơ cấu kinh tế với kinh tiếc, tớ lại ngậm ngùi cho số phận của con dân Việt, đồng thời phải thốt lên lần thứ n rằng tớ phục tớ quá vì cách đây đúng 2 năm tớ đã viết bài này trên VEF, dự cảm xấu về triển vọng tái cấu trúc với lại tái cơ cấu, câu cửa miệng một thời của người người, nhà nhà.

Tiếc là VEF đăng lên đâu như được 1 ngày thì tự diễn biến, thấy sợ sao đó bèn biên tập lại bài đã bị biên tập (mặc dù trong bài đã bị biên tập, giọng điệu và nội dung đã biến thái đi rất nhiều so với bài gốc mà tớ post ở đây, làm tớ không thể nhận ra bài của mình nữa. Phải nói thêm rằng vì viết cho báo nên trong bài gốc tớ cũng đã phải uốn lưỡi rất nhiều sao cho dễ được đăng, thế mà vẫn không xong).

Khi tớ phản ứng mạnh vì biên tập mà không hỏi ý kiến tớ, VEF có phân trần, đại loại, rằng viết thế thì ngang với nói rằng tình hình nước đến cổ mới nhảy, đã quá muộn để cải cách với tái cơ cấu, thế thì tiêu cực quá, cần phải viết lại cho tích cực hơn.

Tớ điên quá bèn bắt phải gỡ bài đầu Ngô mình Sở này xuống và chấm dứt luôn chuyện bài vở với VEF. Mới thế mà đã 2 năm trôi qua rồi, nhanh thật, và cũng nhanh như thế cho ngày xuống lỗ của nền kinh tế VN.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).