Thursday, 29 November 2012

Đọc bài này mà thấy nản quá thôi, chuyên gia ơi là chuyên ra!

http://vneconomy.vn/2012112909423531P0C6/von-cho-doanh-nghiep-duoi-goc-nhin-cua-chuyen-gia-kinh-te.htm

Đồng chí Kiên thì nói: “Để dòng vốn được khơi thông, về phía các ngân hàng thương mại, cần thực hiện chọn lựa khách hàng chính xác, đồng thời cũng có những điều chỉnh về mặt thủ tục đối với các doanh nghiệp có dự án tốt và có khả năng trả nợ. Cần phải hướng đến mục tiêu hai bên cùng khắc phục để cùng tồn tại.”

Rõ là cầm đèn đi trước ô tô. Các ngân hàng họ biết rõ phải làm gì và thế nào để tồn tại và tối đa hóa lợi nhuận. Cái võ của đồng chí thì đương nhiên ngân hàng nào mà chẳng muốn và cũng đã/đang thực hiện.

Cả lời khuyên này của đồng chí nữa: “Còn các doanh nghiệp cũng cần phải đánh giá lại mình xem đâu là điểm yếu, đâu là điểm mạnh, phải xây dựng chiến lược kinh doanh mới cho phù hợp với diễn biến thị trường... nhằm hướng đến đáp ứng được các điều kiện vay vốn mà ngân hàng thương mại đặt ra. Nếu chưa đáp ứng được các điều kiện đó, thì doanh nghiệp cũng cần phải có những cam kết về mặt thời gian hoàn thành để xây dựng lòng tin cho các ngân hàng.” Nói là trẻ con thì hơi quá đáng, nhưng tớ phải nói trung thực rằng đúng là vậy về bản chất.

Còn đồng chí Thành thì vẫn cái điệp khúc NHNN, với quyền hạn và nghĩa vụ của mình, cần in thật nhiều tiền cho ngân hàng thương mại vay với lãi suất thấp để họ cho doanh nghiệp vay cũng với lãi suất thấp. Thưa đồng chí, nói chơi thì rất dễ. NHNN ắt hẳn đang rất đau đầu về vấn đề này – làm sao tung tiền ra mà không gây lạm phát – đấy. Đồng chí nếu có võ gì mà làm được điều này thì hãy tư vấn cho NHNN, chứ không phải nói khơi khơi, dễ ợt: tung tiền vô hạn định nhưng đồng thời không làm tăng lạm phát.

Đồng chí có đề cập đến chuyện thiếu thanh khoản trong hệ thống ngân hàng. Và đồng chí lý luận rằng vì tăng trưởng tín dụng đến nay mới chỉ hơn 3% trong khi chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm là 15%-17% nên có làm gì đi chăng nữa thì (tăng trưởng tín dụng cả năm nay) cũng không vượt qua được mức này và do đó không tác động đến lạm phát.

Về 2 điểm trên, thứ nhất, xin lưu ý với đồng chí rằng thanh khoản trong hệ thống không phải là thiếu, bằng chứng là NHNN đã phải rút tiền về trên OMO. Vì vậy, một trong những điều kiện cần để NHNN phải cấp tập, ồ ạt in tiền theo lý luận của đồng chí để cứu thanh khoản đã không (còn) tồn tại.

Thứ hai, xin nói rõ với đồng chí rằng chẳng có mối liên hệ nào, cũng như chẳng có ai bảo đảm rằng mức tăng trưởng tín dụng 15%-17% là mức tối ưu, không tác động đến lạm phát, vì vậy mức tăng trưởng thực tế dưới mức này càng không gây ra tác động đến lạm phát, vì thế mà cứ yên tâm in tiền ra sao cho tăng trưởng tín dụng miễn là nhỏ hơn mức này là được. Thật là một lý luận… (tớ lại tự kiểm duyệt).

Rồi nữa, cái đề xuất quỹ bảo lãnh của NHNN cho doanh nghiệp vay. Nó cũng là một cái đề xuất nói thì dễ, nghe thì hay. Hẳn đồng chí còn nhớ cái võ cũng hay ho, hấp dẫn không kém mà từng được dùng, được ca ngợi ở Việt Nam mới mấy năm trước đây – bù/hỗ trợ lãi suất – chứ? Tiêu chí để được hưởng ưu đãi này cũng đầy đủ, chặt chẽ cả đấy chứ? Vậy mà kết quả và kết luận về nó sau này ra sao thì đồng chí chắc cũng đã rõ rồi chứ?

Cuối cùng, về phát biểu của đồng chí Ánh. Cũng tương tự, tớ thấy rõ cái hình ảnh của cầm đèn chạy trước ô tô. Đồng chí khuyên các doanh nghiệp: “Để giải quyết hàng tồn kho, cần phân tích xem sự thích ứng của sản phẩm với nhu cầu của thị trường. Yếu tố thứ hai cần xem xét là giá bán hàng hóa. Doanh nghiệp xây dựng giá bán dựa trên các yếu tố đầu vào và lợi nhuận nhưng trong lúc dư cung, việc xem lại giá bán là cần thiết, thậm chí chấp nhận thua lỗ để bán hàng, lúc đó mới có tiền quay vòng vốn. Đặc biệt với những sản phẩm đang dư cung hoặc đã sắp hết chu kỳ sống, doanh nghiệp càng cần bán hàng để có vốn để ra được sản phẩm mới.” Tớ nghĩ là chẳng cần phải bình luận thêm về lời khuyên này.

Tiếp theo, đồng chí Ánh nêu ra một số con số về mức độ không đáng kể của các biện pháp hỗ trợ của nhà nước thông qua hoãn/miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và GTGT. Nhưng mặt khác, đồng chí lại nhấn mạnh rằng (qua cách hành văn) nếu có làm mạnh tay hơn nữa thì tổng giá trị miễn giảm thuế là không quá lớn (chỉ 60-70 ngàn tỷ mỗi khoản).

Ở đây có 2 điều cần lưu ý. Thứ nhất, lập luận rằng miễn giảm thuế tích cực hơn nữa thì gói miễn giảm thuế cũng không quá lớn sẽ dẫn đến câu hỏi ngược, nếu đã không quá lớn thì liệu việc miễn giảm thuế sẽ có tác dụng như mong muốn? Thứ hai, cứ cho là gói miễn giảm thuế là không quá lớn, nhưng xin nên nhớ rằng mọi khoản hụt thu, tăng chi hiện nay đều tạo thêm gánh nặng nợ nần đã/đang trở nên quá sức chịu đựng của ngân sách, với bằng chứng là ngay việc tăng lương cơ bản (đâu như 10 ngàn tỷ?) mà còn đang dự định phải trông vào việc phát hành trái phiếu.

Tóm lại, nội dung phát biểu của 3 đồng chí trên vừa trẻ…, vừa ngây…, vừa ấm… (tớ lại phải tự kiểm duyệt … nửa vời một phát nữa).

Friday, 23 November 2012

5 nhận xét về Báo cáo tình hình tài chính, sản xuất kinh doanh của tập đoàn, tổng công ty năm 2011 (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=264922

08:47 | 24/11/2012
Báo cáo tình hình tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước năm 2011; phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn 2012 – 2015 được Chính phủ gửi tới Quốc hội ít ngày trước phiên bế mạc Kỳ họp thứ Tư. Ngoài những con số thống kê khô khan, có một số thông tin đáng chú ý liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN).
Nợ lẫn nhau, chuyển nợ và cách xử lý
Báo cáo cho biết, Tập đoàn Điện lực (EVN) nợ quá hạn tới hơn 10 nghìn tỷ đồng, trong đó có nợ mua điện của Tập đoàn Dầu khí. Đáng nói là cách xử lý nợ lại như kiểu đà điểu vùi đầu xuống cát, bằng cách chỉ đạo cho khoanh nợ khoản nợ xấu này, mà về thực chất là không cho thể hiện trên sổ sách kế toán của cả 2 bên liên quan để làm đẹp tình hình kinh doanh của chúng, trong khi thực tế nợ xấu vẫn còn đó.
 
Thêm nữa, việc tái cơ cấu Vinashin với những lời hứa hẹn và cam kết tốt đẹp rốt cuộc đã không mang lại kết cục tốt đẹp như thế, với thực tế là Tập đoàn Dầu khí phát sinh khoản nợ quá hạn 1.731 tỷ đồng nhưng là do… nhận bàn giao nợ từ Vinashin! Đây là một biến thể xử lý nợ truyền thống kiểu khác, chuyển nợ từ nơi này sang nơi kia để nợ xấu đỡ gớm ghiếc hơn nhưng nợ xấu vẫn là nợ xấu và vẫn còn nguyên đó.
 
Cố tình quên bài học sơ đẳng về kinh doanh
Báo cáo nhận định: năm 2011 hoạt động sản xuất kinh doanh của các tập đoàn, tổng công ty (TĐ, TCT) gặp nhiều khó khăn, phải đối mặt với nhiều rủi ro về tài chính như chi phí lãi vay cao (hầu hết các TĐ, TCT đầu tư dựa trên vốn vay).
 
Một cách làm thường thấy là đổ lỗi cho tình hình hoạt động yếu kém của các DNNN là do các điều kiện bất lợi của thị trường, trong đó có lãi suất cao và khó vay vốn ngân hàng. Nhưng với thực tế được thừa nhận như trên, lỗi nằm ngay ở những người hoạch định chính sách, những người quản lý, điều hành các DNNN khi chủ trương cho các DNNN sản xuất kinh doanh dựa chủ yếu trên vốn vay, và (cố tình) quên rằng kiểu sản xuất kinh doanh này thế nào cũng có ngày sập tiệm. Cũng có thể họ nghĩ rằng vốn cần vay nằm sẵn ở ngân hàng và chỉ cần một sự can thiệp nào đó là có thể vay được và xù được dưới hình thức này hay hình thức khác khi cần.
 
Nhìn nhận hời hợt và mâu thuẫn về DNNN
Báo cáo khẳng định: trong bối cảnh suy giảm kinh tế, lạm phát tăng cao giai đoạn 2010 - 2011, các doanh nghiệp nhà nước đóng góp lớn để xây dựng và phát triển KT - XH, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nhưng tiếc rằng Báo cáo không nêu những dẫn chứng để chứng minh rằng DNNN “đã đóng góp lớn”, nào là bình ổn giá cả (bình ổn thế nào mà các DNNN thi nhau đòi tăng giá và đã được phép tăng một số thứ?), kiềm chế lạm phát (kiềm chế thế nào mà lạm phát lên tới gần 20% năm 2011?), nào là ổn định kinh tế vĩ mô (ổn định thế nào mà DNNN là một trong những nguồn đóng góp đáng kể nhất vào nhập siêu?) và đảm bảo an sinh xã hội (đảm bảo thế nào mà ngay cả DNNN cũng phải đau đầu với việc giảm biên chế?).
 
Chỉ có một chi tiết trong Báo cáo về sự đóng góp này, nếu có, đó là những con số về nộp ngân sách, năm 2011 tăng 10,1% so với năm 2010. Nhưng lưu ý rằng trong tổng số nộp ngân sách này có đến phân nửa là thuế GTGT và thu nhập doanh nghiệp, là nghĩa vụ bắt buộc phải nộp của mọi doanh nghiệp. Đáng nói hơn là tốc độ tăng trưởng 10,1% này nếu so với tỷ lệ lạm phát gần 20% năm 2011 thực tế là sự thụt lùi. Nói cách khác, đóng góp của DNNN vào ngân sách thực tế giảm đi trong năm 2011.
 
Báo cáo còn có những nhận định mâu thuẫn về hoạt động và vai trò của DNNN. Một mặt, Báo cáo thừa nhận (một cách đúng đắn) rằng: “Hầu hết các doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa có tốc độ tăng trưởng tốt, hoạt động kinh doanh có hiệu quả”. Điều này có nghĩa là hầu hết các DNNN không tăng trưởng tốt, không hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Mặt khác, trong phần “Ưu điểm”, Báo cáo vẫn đánh giá đầy mâu thuẫn với lời thừa nhận trên rằng: hầu hết các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước kinh doanh có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, đóng góp số thu cho ngân sách nhà nước. Hơn nữa, nếu là tốt như vậy thì cần gì phải đặt ra chủ trương tái cơ cấu và cổ phần hóa DNNN làm gì nữa?
 
Ngay sau đó, trong phần “Những bất cập, khó khăn”, Báo cáo lại tự vạch ra những điểm phủ nhận những đánh giá trên, như năng lực quản trị doanh nghiệp “chưa tương xứng”; chưa có sự phân định đủ rõ quyền hạn và trách nhiệm của các cấp quản lý nhà nước; sự phân công, phân cấp, giao quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của Chính phủ cho Hội đồng thành viên, Ban giám đốc chưa rõ ràng; chưa có chế tài đủ mạnh để yêu cầu, buộc các DNNN thực hiện nghiêm các kiến nghị của các cơ quan quản lý nhà nước; những lỗ hổng trong các quy chế giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động v.v... Với hàng loạt những bất cập, khó khăn thế này, điều dễ hiểu, dễ hình dung là chất lượng hoạt động của các DNNN đã và sẽ ra sao, và điều khó hiểu là tại sao Báo cáo vẫn dành những lời tốt đẹp ca ngợi về vai trò và chất lượng hoạt động của DNNN.
 
Yếu kém luôn có một phần do lỗi khách quan
Phần “Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém”, Báo cáo nêu rằng: “Việc sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước tiến hành trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước có nhiều khó khăn, phức tạp. Sau giai đoạn khôi phục kinh tế của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997 - 1998; từ năm 2008 đến nay liên tục phải ứng phó với khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu; trong nước lạm phát cao, thị trường tài chính, chứng khoán sụt giảm”. Hình như những người viết Báo cáo quên rằng nếu mọi thứ đều tốt đẹp thì đã không phải, đúng hơn là chẳng ai bận tâm đến sắp xếp với đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN làm gì cả. Chỉ khi nào có những biến động bất lợi trong và ngoài nước thì nhiệm vụ trên mới được đặt ra và coi là đương nhiên, nên cần phải coi những bất lợi này là điều kiện tốt cho nhiệm vụ này, chứ không thể/không nên đổ lỗi cho chúng.
 
Chậm chạp đến khó hiểu
Báo cáo nêu: thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3, Hội nghị lần thứ 6 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI; Nghị quyết số 42/2009/QH12 ngày 27.11.2009 của Quốc hội về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, Chính phủ đang chuẩn bị ban hành ngay một số chính sách. Câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao đã có Nghị quyết của đảng và Quốc hội ngay từ năm 2009 mà đến hơn 3 năm sau, Chính phủ mới “đang chuẩn bị ban hành”, mặc dù có thêm từ “ngay”, một số chính sách? Một loạt câu hỏi tiếp theo về ai, thế nào... là tất yếu sau câu hỏi này.

Thursday, 22 November 2012

Thật mừng là đã có một vài người lên tiếng về phát biểu của đồng chí Bình

Trong entry trước tớ phải chán ngán thốt lên là không thấy có một ai, một chuyên gia nào lên tiếng về cái phát biểu đầy tính… ngộ chữ của đồng chí Bình về bộ ba bất khả thi.

Nay quả thật mừng vì cho đến giờ ít ra cũng có 3 người khác lên tiếng về cùng chủ đề. 3 người này là đồng chí Nguyễn Trí Dũng, Phạm Đỗ Chí, và Hiệu Minh. Trong số này, đồng chí Hiệu Minh có bài viết (trên Dân Luận) mạch lạc, rõ ràng nhất. Tớ copy cái link ở đây để bạn đọc nào chưa đọc thì vào đọc và mừng với tớ là ít ra xã hội còn nhiều người không bị ngộ chữ như đồng chí Bình.

Saturday, 17 November 2012

Tiền đi đâu? Và hệ lụy của nó (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân)

 
08:47 | 17/11/2012
Việc cần làm hiện nay là giảm thiểu việc phát hành trái phiếu Chính phủ để tín dụng cho nền kinh tế có điều kiện tăng tốc. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh lạm phát có nguy cơ tăng mạnh trở lại, buộc Ngân hàng Nhà nước phải giới hạn việc tiếp tục tăng cung tiền trong thời gian tới.
Trong phiên chất vấn tại Quốc hội vừa qua, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình cung cấp một thông tin rất có ý nghĩa, liên quan đến tăng trưởng tín dụng. Theo Thống đốc thì lý do tăng trưởng tín dụng thấp (tính đến ngày 30.6, tín dụng chỉ tăng khoảng 3,36% so với cuối năm 2011; trước đó, báo chí đưa tin tăng trưởng tín dụng đến cuối tháng 9 mới đạt 2,35%) là do các ngân hàng đã mua vào tới 183 nghìn tỷ giá trị trái phiếu Chính phủ. Con số này tương đương với khoảng 7% của tổng dư nợ tín dụng tính đến cuối năm 2011.
 
Thông tin trên rất có ý nghĩa vì nó giải thích được cho điều được coi là bí ẩn: tiền đi đâu? Người ta buộc phải hỏi câu này khi cung tiền (còn được gọi là tổng phương tiện thanh toán, M2) tính đến tháng 9 năm nay đã tăng 10,37% so với cuối năm 2011, trong khi tín dụng cho nền kinh tế chỉ tăng rất khiêm tốn như đã nói. Trước đó, một số chuyên gia đã giải thích một cách khiên cưỡng và thiếu logic rằng, tiền đã được các ông chủ ngân hàng đổ vào các doanh nghiệp sân sau của mình; hoặc các ngân hàng với nỗi lo nợ xấu gia tăng nên đã giữ tiền lại, không cho vay ra nền kinh tế nữa. Nay với giải thích của Thống đốc, chuyện tiền đi đâu đã có câu trả lời xác thực.
 
Điều đáng nói hơn là nơi đến của lượng tiền mới cung ra này. Theo đó, có đến hơn 2/3 lượng tiền mới cung ra đã chảy vào trái phiếu, phục vụ cho nhu cầu đầu tư công. Tất nhiên, có những lý do để lý giải tại sao trái phiếu lại hấp dẫn các ngân hàng đến vậy, thay vì cho vay doanh nghiệp và cá nhân như thông thường phải thế (ví dụ, trái phiếu tuy có lãi suất thấp hơn lãi suất cho vay nhưng an toàn hơn, đặc biệt trong bối cảnh nợ xấu cao và tăng nhanh như hiện nay; với kỳ hạn trên 1 năm và với kỳ vọng lạm phát thấp hơn trong các năm tới thì lãi suất trái phiếu như hiện tại vẫn rất hấp dẫn v.v…).
 
Nhưng dù vì lý do gì thì thực tế này đã cho thấy đầu tư công đang bóp nghẹt đầu tư tư nhân. NHNN tăng cung tiền với kỳ vọng lượng tiền tăng thêm đó sẽ chảy qua các ngân hàng để đi đến các doanh nghiệp và cá nhân dưới dạng tín dụng, nhờ đó sản xuất kinh doanh được duy trì và thúc đẩy. Nhưng với việc Chính phủ mạnh tay huy động vốn thông qua trái phiếu với lãi suất hấp dẫn, tiền thay vì đến doanh nghiệp và cá nhân lại chảy vào ngân sách. Tất nhiên, cuối cùng thì lượng tiền tăng thêm này cũng sẽ chảy vào nền kinh tế thông qua chi tiêu của Chính phủ, các dự án sử dụng ngân sách, và các doanh nghiệp nhà nước được cấp phát vốn ngân sách v.v… Nhưng điều đáng nói là đầu tư công thường gắn liền với hiệu quả thấp so với đầu tư tư nhân. Vì thế, cùng một lượng vốn đầu tư, tổng lợi ích mang lại cho xã hội sẽ nhỏ hơn ở đầu tư công và lớn hơn ở đầu tư tư nhân.
 
Sự chèn lấn của đầu tư công còn gây ra một tác hại khác nữa là khu vực tư nhân sẽ bị co lại, phá sản một phần, từ đó không chỉ làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế (khu vực tư nhân thường là động lực cho tăng trưởng kinh tế ở các nước) mà còn làm giảm số việc làm vì khu vực tư nhân là nơi tạo ra nhiều việc làm hơn.
 
Bởi vậy, sẽ hoàn toàn không có gì đáng phải vui mừng như Thống đốc đã “vui mừng” nói rằng “sau nhiều năm chúng ta không thể phát hành được trái phiếu thì năm nay chúng ta phát hành thành công trái phiếu và phát hành với khối lượng lớn”. Ngược lại, cần phải coi việc có đến hơn 2/3 lượng tiền cung ứng mới từ NHNN chảy vào ngân sách là một thất bại chính sách vì đã để trái phiếu Chính phủ bóp nghẹt tín dụng doanh nghiệp/tư nhân.
 
Cũng sẽ có người lập luận rằng trong hoàn cảnh nợ xấu gia tăng thì các ngân hàng không biết đầu tư vào đâu hơn là trái phiếu nên dù không có trái phiếu thì tín dụng sẽ không tăng đáng kể được. Thực tế sẽ không như vậy vì với thanh khoản dồi dào hơn và lãi suất (cho vay của NHNN) thấp hơn thì tín dụng cho doanh nghiệp và cá nhân chắc chắn sẽ tăng lên với lãi suất hạ đi một cách tương đối, tuy có thể không đến mức như kỳ vọng, và đây chính là mục tiêu của chính sách nới lỏng tiền tệ để hỗ trợ nền kinh tế của NHNN.
 
Do đó, việc cần làm hiện nay là giảm thiểu việc phát hành trái phiếu Chính phủ để tín dụng cho nền kinh tế có điều kiện tăng tốc. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh lạm phát có nguy cơ tăng mạnh trở lại, buộc NHNN phải giới hạn việc tiếp tục tăng cung tiền
trong thời gian tới.

Friday, 16 November 2012

Đồng chí Bình khoe chữ nhưng lại bị… ngộ chữ!

Đồng chí Bình NHNN phân bua trên báo Giáo dục Việt Nam về nội dung trả lời chất vấn  có đoạn nói về bộ ba bất khả thi và nửa giải Nobel như thế này: “Còn về giải Nobel thì đó cũng chỉ là một cách nói ví von. Bởi vì trên thế giới, người nghĩ ra bộ ba bất khả thi (tăng trưởng, lạm phát, tỷ giá) thì người ta được giải Nobel rồi. Bây giờ Quốc hội giao cho tôi 3 cái đó không bớt khả thi thì chắc là phải thêm một cái giải Nobel nữa nhưng rất khó và tôi không thể làm được. Và nếu tôi có làm được thì cũng chỉ dám nhận một nửa giải Nobel.  Thực tế thì làm gì có nửa giải Nobel. Và câu nói đó của tôi nói với Chủ tịch Quốc hội để thấy rằng việc đó rất khó, không thể làm được và có làm thì chỉ có thể ở một mức độ nào đó chấp nhận được. Cách thức nói như thế để khẳng định rằng thế giới còn thấy là khó nữa là mình”.    

Tớ phải nói luôn là đồng chí Bình “nghe hơi nồi chõ” ở đâu đó được cái khái niệm “bộ ba bất khả thi”, chẳng hiểu mô tê gì sất và nhớ theo kiểu “râu ông nọ cắm cằm bà kia” nên nói bừa đó là bộ ba giữa tăng trưởng, lạm phát và tỷ giá. Tớ cứ đợi mãi xem có ai lên tiếng phê phán, chỉ ra cái lỗi ngớ ngẩn của đồng chí Bình không mà rốt cuộc chẳng có một ai cả, không một chuyên gia nào cả! Mọi người chỉ tập trung vào cái cách nói của đồng chí Bình. Chán!
Thực tế, đó là bộ ba giữa chính sách tiền tệ độc lập, tỷ giá hối đoái cố định, và tự do lưu chuyển vốn. Còn cái ông “nghĩ ra bộ ba bất khả thi” này mà đồng chí Bình nói đến chắc là GS Robert Mundell, nhưng cái ông Mundell này được giải Nobel hình như cũng chẳng phải là vì “nghĩ ra bộ ba bất khả thi” này, mà chỉ là một trong số những người am hiểu về nó nhất thôi. Về vấn đề này tớ đã viết một bài trên báo Đại biểu Nhân dân từ lâu lắm rồi (chính xác là đăng ngày 29/6/2007, link ở đây), mời các đồng chí bạn đọc ghé xem để thấy cái tầm cũng xứng một góc to tướng của cái giải Nobel của tớ nhé! Các đồng chí đừng có băn khoăn, tìm cách phang tớ về chuyện này nhé!

Lại nói về câu nói của đồng chí Bình. Với bộ ba tăng trưởng, lạm phát và tỷ giá (theo cách hiểu của đồng chí Bình), nó vẫn có thể là bộ ba khả thi. Bằng chứng ư? Chẳng cần nói lôi thôi, cứ lôi ngay ví dụ về nền kinh tế Trung Quốc, đã tăng trưởng mạnh trong suốt hơn 3 thập kỷ qua với tỷ giá cứng nhắc (gần như cố định) và lãi suất/lạm phát thì hầu như hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát và theo ý muốn của NHTƯ. Nói vậy để thấy cái dốt, cái liều của người nói.
Nói thêm, bài trên Đại biểu Nhân dân nói trên chính ra là để “phang” bài viết của đồng chí Huỳnh Thế Du của cái trường Fulbright gì gì đó ở Sài Gòn đăng trên TBKTSG cũng về bộ ba bất khả thi mà theo đó đồng chí Du lập luận (đúng hơn, vẹt một cách máy móc) là luôn bất khả thi (vì vậy tiêu đề của bài mới được tớ đặt như vậy).

Saturday, 3 November 2012

Nên chất vấn Ngân hàng Nhà nước về quản lý thị trường vàng như thế nào? (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, đã biên tập)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=262911

08:47 | 03/11/2012

Trong phiên chất vấn Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình sắp tới đây tại Quốc hội, một trong những vấn đề nổi cộm hiện nay là việc quản lý thị trường vàng của NHNN chắc chắn sẽ được nêu ra. Bài viết này phân tích và gợi ý một số điểm cần chất vấn và tranh luận với NHNN nhằm buộc họ có các biện pháp quản lý thị trường vàng ở Việt Nam đúng đắn và hữu hiệu hơn.
Câu chất vấn đầu tiên cần phải là NHNN quan niệm thế nào là “vàng hóa”. Điều này rất quan trọng vì nếu hiểu sai ngay từ khái niệm thì sẽ dẫn theo những hành động sai.

Theo giải trình hôm 3/10 của Thống đốc tại Quốc hội thì: “Trong thời gian qua, do bất ổn của kinh tế thế giới và bất ổn của kinh tế trong nước, giá vàng thế giới đã tăng cao và giá vàng trong nước có nhiều biến động thất thường. Như vậy, tình trạng vàng hóa của nền kinh tế đã được đẩy lên rất cao”.  Theo cách lý giải này, hóa ra vàng hóa là tình trạng giá vàng trong nước có nhiều biến động thất thường. Nếu thế thì sai. Vì vàng hóa chỉ tình trạng vàng đã thay thế cho VND ở một mức độ nào đó trong cả 3 vai trò (thanh toán, đo lường giá trị, và lưu giữ giá trị). Tình trạng vàng hóa càng nặng nề nếu mức độ thay thế VND ở cả 3 vai trò này càng lớn, chứ tình trạng vàng hóa chẳng có liên quan trực tiếp gì đến biến động giá vàng trong và ngoài nước cả.
Tuy Thống đốc có nói tiếp: “Theo đánh giá không chính thức sơ bộ ban đầu, trong nền kinh tế của nước ta có khoảng từ 300 - 400 tấn vàng, hay nói một cách khác là có một nguồn lực cỡ khoảng từ 15 - 20 tỷ USD không được đầu tư vào sản xuất kinh doanh và bị chôn chặt vào vàng. Hơn nữa, mỗi khi giá vàng có biến động đã làm ảnh hưởng đến tỷ giá thông qua hoạt động nhập khẩu lậu vàng gây nên ảnh hưởng đến hoạt động xuất, nhập khẩu và gián tiếp làm cho lạm phát tăng cao trong những năm qua và tạo ra sự bất ổn của kinh tế vĩ mô”, nhưng câu giải thích này cũng không có liên quan trực tiếp gì đến chuyện vàng hóa cả, nếu cứ theo lý giải bên trên. Cũng có thể, ý của Thống đốc ở đây muốn nhấn mạnh rằng lượng vàng trong dân là đã lớn đến mức mỗi khi có biến động mạnh về giá sẽ gây ra ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô thông qua hoạt động nhập lậu vàng. Nếu vậy thì việc cần làm là thắt chặt nhập (lậu) vàng chứ không phải là làm giảm bớt/thiểu lượng vàng nắm giữ trong dân.

Thống đốc còn sai khi cho rằng 15-20 tỷ đôla giá trị vàng trong dân không được đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Cần khẳng định ngay không phải tất cả số vàng trên được đem cất vào két, để dưới chiếu, mà chắc chắn rằng một phần không nhỏ trong chúng đã và đang được mang ra cho vay mượn/mua bán, để đổi lấy vốn sản xuất kinh doanh, tất nhiên là thông qua các giao dịch nằm ngoài hệ thống ngân hàng (khi ngân hàng bị cấm huy động/cho vay bằng/mua bán vàng). Nói cách khác, một số lượng vàng trong dân đã và đang thực hiện các chức năng của nó trong sản xuất, kinh doanh chứ không như khẳng định của NHNN.
Cũng chắc chắn rằng một phần không nhỏ trong số trên tuy “chôn” ở đâu đó, ngoài sản xuất, kinh doanh, nhưng đây là điều tất yếu vì vàng còn được dùng làm đồ trang sức, và đồ trang sức thì đương nhiên phải nằm ngoài sản xuất, kinh doanh. Như vậy, con số vàng thực tế cần phải “huy động” trong dân không đến mức 15-20 tỷ đôla như nói trên để người ta phải hoảng sợ đến mức mà tìm mọi cách hạn chế dân giữ vàng. Ngoài ra, sở hữu/trao đổi/mua bán vàng (dùng làm) trang sức là điều không thể/nên cấm đoán được, vì đây là những nhu cầu cũng thiết yếu tương tự như với quần áo, và vì thế càng làm giảm tính cấp thiết phải ngăn chặn việc nắm giữ vàng trong dân.

Thêm nữa, hình như ông Bình quên một thực tế rằng lạm phát mới làm cho tình trạng tích trữ vàng (tức một dạng thức của vàng hóa) tăng lên khi người ta sợ tài sản của mình bằng VND bốc hơi theo lạm phát, chứ không phải ngược lại, vàng hóa gây ra lạm phát, kể cả có là gián tiếp nếu NHNN không bất cẩn với chính sách tiền tệ của mình.
Chính vì sai lầm ngay từ khái niệm nên NHNN mới có những động thái khá kỳ quặc như bình ổn giá vàng và độc quyền nhãn hiệu vàng SJC. Có lẽ NHNN chưa nhận thức được rằng để chống vàng hóa thì không có giải pháp nào khác căn bản, hữu hiệu và bền vững hơn là giải pháp tăng uy tín cho và niềm tin vào VND để người dân tự nguyện nắm giữ VND thay cho vàng trong lãnh thổ Việt Nam.

Thống đốc có lấy những ví dụ như không còn thấy người dân đổ xô đi mua vàng, mặc dù giá vàng biến động lớn nhưng tỷ giá vẫn ổn định, hệ thống ngân hàng đã mua được 60 tấn vàng v.v... để nhấn mạnh rằng các giải pháp chống vàng hóa đã phát huy tác dụng mà bỏ qua nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác. Người dân không còn đổ xô đi mua vàng nữa có thể đơn giản vì giá vàng trong nước đã trở nên quá cao so với giá quốc tế nên người ta không dám mua vào vì sợ rủi ro kép – (i) giá vàng quốc tế quay đầu, và (ii) mức chênh lệch quá lớn đến mức phi lý giữa giá vàng trong nước và quốc tế sẽ thu hẹp lại một thời điểm nào đó vì không thể ở mức phi lý mãi như vậy được. Hoặc có một lý do đơn giản hơn nữa, tài sản khả dụng của người dân hiện nay so với cách đây 2, 3 năm giảm đi nhiều vì sự đi xuống của bất động sản làm cho số vốn khả dụng có thể dùng để mua vàng không còn nhiều nữa, làm cho dòng người xếp hàng mua vàng vì thế cũng giảm mạnh (so với trước đây), gây ra ngộ nhận của NHNN rằng vàng hóa đã được kiềm chế (mà thực chất vàng trong dân vẫn còn từng đó, như nói thêm dưới đây).
Còn chuyện mặc dù giá vàng biến động mạnh nhưng tỷ giá vẫn ổn định có thể chẳng có gì liên quan đến câu chuyện chống vàng hóa thành công mà NHNN đang gán ghép cả. Tỷ giá ổn định có thể đơn giản vì nguồn cung ngoại tệ vẫn tăng lên trong khi cầu ngoại tệ (nhất là từ nhập khẩu) sút giảm. Tương tự, chuyện ngân hàng mua vào 60 tấn vàng cũng nên coi là việc bình thường khi trước đây họ đã huy động rồi bán ra một khối lượng (còn lớn hơn) từng đấy, nay phải tích cực mua vào để sẵn sàng hoàn trả cho người gửi vàng khi họ đến rút ra khi đáo hạn; và rốt cuộc lượng vàng trong dân vẫn không thay đổi, và cũng có nghĩa là tình trạng vàng hóa không thay đổi.

Tóm lại, khi chất vấn Thống đốc về các giải pháp quảnlý thị trường vàng, các đại biểu cần yêu cầu ông Bình làm rõ khái niệm, mục đích và cách thức xử lý giá vàng, quản lý thị trường vàng trong mối liên quan đến vàng hóa để từ đó vạch ra những sai lầm trong cách hiểu và hành động của NHNN như hiện tại vốn góp phần không nhỏ gây ra những rối ren không đáng có trên thị trường vàng. Trên cơ sở chất vấn vạch ra những cái sai như vậy, các đại biểu nên yêu cầu NHNN phải sửa đổi, rút lại các biện pháp quản lý thị trường vàng cũ, thi hành các biện pháp mới chống vàng hóa một cách đúng đắn và hữu hiệu.

Friday, 26 October 2012

2 ý kiến đóng góp vào Báo cáo KT - XH của Chính phủ (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân)

08:34 | 27/10/2012
 
Thủ tướng Chính phủ đã trình bày bản báo cáo trên trong ngày khai mạc Kỳ họp thứ Tư, Quốc hội Khóa XIII. Báo cáo sẽ được đưa ra thảo luận tại Quốc hội. Bài viết này muốn góp ý 2 điểm chính cần tập trung thảo luận.
Góy ý đầu tiên. Có thể thấy toát ra từ Báo cáo là tâm lý ưu tiên cho các hành động và thành quả mang tính ngắn hạn và theo tư duy định kỳ nhằm đạt các chỉ tiêu về KT - XH đã được Quốc hội thông qua.
Điều đáng nói là chính vì tâm lý chạy theo các mục tiêu ngắn hạn thế này nhiều khi sẽ nảy sinh những tác động tiêu cực trong trung và dài hạn. Một ví dụ cụ thể là việc kiềm chế lạm phát. Chính phủ “trong những tháng cuối năm nay sẽ thực hiện các biện pháp để giữ mức lạm phát cả năm khoảng 8%”, theo bản báo cáo. Dòng chữ này tuy ngắn nhưng chứa đựng ít nhất một thông điệp lớn rằng Chính phủ sẽ thực hiện các biện pháp cả cũ và mới, nếu cần thiết, để kìm giữ lạm phát dưới 8%.
Thực ra lạm phát nếu đã ở mức 8% thì cũng không khác biệt bao nhiêu so với mức lạm phát 2 con số ví dụ 10% hay 15%. Điều khác biệt thực sự chỉ là ở cái ngưỡng tâm lý lạm phát 1 con số hay 2 con số mà thôi, chứ không phải ở tác động tiêu cực nhiều hơn hay ít hơn (đáng kể) lên phát triển KT - XH. Bởi vì ngay ở mức 8% thôi, lạm phát ở Việt Nam vẫn cần phải được coi là mức khá cao nếu so với khu vực và thế giới, và so với chính Việt Nam những năm trong thập kỷ trước.
Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi đến cuối năm, triển vọng lạm phát sẽ không dừng lại ở con số 8% như dự tính? Tất nhiên, lúc đó, ngoài những biện pháp rất chung chung và đã quá quen thuộc mà năm nào, báo cáo nào cũng nhắc đi nhắc lại, một số biện pháp mới, mà chắc chắn đa phần mang tính hành chính, sẽ lại được những người có trách nhiệm đưa ra. Dù cũ hay mới, với cường độ như cũ hoặc mạnh hơn, tất cả những biện pháp này đều nhằm khóa mức lạm phát theo báo cáo ở mức 8% cho đến hết năm nay, bất chấp hậu quả để lại cho (các) năm tới.
Ví dụ dễ thấy cho tình trạng này là giải pháp không cho phép một số ngành, doanh nghiệp tăng giá một số hàng hóa dịch vụ nào đó, ví dụ, xăng dầu, điện, nước, học phí, phí y tế v.v… trong một thời gian nào đó. Tuy những giải pháp này có thể ở một mức độ nào đó có tác dụng kìm giữ lạm phát không tăng lên ngay lập tức, nhưng đó chỉ là một hành động tương tự như việc chườm đá lên một cái nhọt đang sưng, và rốt cuộc cái nhọt sẽ vỡ ra, sớm hay muộn.
Lạm phát trong tháng 9 vừa rồi tăng mạnh đến 2,2% được quy kết cho nguyên nhân là quản lý giá cả không khéo léo làm cho một loạt ngành như xăng dầu, điện, giáo dục, y tế chọn cùng thời điểm để tăng giá. Nhưng nếu lật ngược lại vấn đề, vì việc kìm tăng giá những hàng hóa và dịch vụ nói trên không thể kéo dài mãi nên đến một lúc nào đó thì giá cả các hàng hóa đó phải được thả ra, vậy thì việc kìm hãm như trên chỉ có tác dụng làm đẹp số liệu trong một hạn định nào đó (cụ thể là cho đến trước tháng 9 vừa rồi), chứ không có, nếu không muốn nói là ngược lại, tác động tích cực gì đến ổn định kinh tế vĩ mô sau hạn định đó cả. Nếu không thả viện phí, học phí, giá điện, xăng v.v…, lạm phát tháng 9 có thể không tăng tới mức 2,2% nhưng chắc muộn nhất thì đến năm sau lạm phát của một tháng nào đó sẽ phải tăng vọt để bù lại cả một thời gian bị kìm hãm trước đó. Với cung cách điều hành nền kinh tế như vậy thì vô hình trung khuyến khích có các giải pháp ngắn hạn (chủ yếu là hành chính) mang tính bất ổn nhiều hơn là bền vững trong trung và dài hạn.
Với phân tích như trên, nên chăng Quốc hội không nâng lên đặt xuống từng điểm thập phân của mỗi 1 điểm % trong các chỉ tiêu như lạm phát, tăng trưởng GDP, tăng trưởng xuất khẩu, nhập khẩu, tiền tệ và tín dụng v.v… và coi đó như chỉ tiêu pháp lệnh để đánh giá chất lượng điều hành của Chính phủ và/hoặc một thành viên nào đó? Suy cho cùng, việc này, nếu tiếp tục tồn tại, cũng sẽ không còn mấy ý nghĩa khi mỗi lần thấy khả năng không đạt được mục tiêu, Chính phủ lại xin điều chỉnh, và Quốc hội thì thường là thông qua.
Điểm thứ hai muốn góp ý là sự cần thiết phải yêu cầu Chính phủ có những hành động cụ thể chứ không chỉ là những lời nói chung chung luôn luôn được lặp đi lặp lại với tần suất lớn. Chẳng hạn, trong phần Đẩy mạnh thực hiện 3 đột phá chiến lược gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, Báo cáo nêu ra một loạt các biện pháp mà không cần nói thì cũng biết phần lớn chúng đã được đề cập đến từ lâu rồi. Điều người đọc quan tâm không phải là (người đứng đầu) Chính phủ đã có những chỉ đạo gì, quy định gì, triển khai gì v.v… mà là Chính phủ đã đạt được những gì, tiến được bao xa với những biện pháp/chỉ đạo/quy định đó, triển khai cụ thể những biện pháp đó vào thực tiễn như thế nào v.v… Nói cách khác, cái cần được biết là kết quả thực tiễn của các biện pháp chứ không phải là bản thân các biện pháp đó.
Vì những biện pháp này hay biện pháp khác đã được Chính phủ nêu ra trước đây, nên điều Quốc hội cần làm không phải là nghe Chính phủ trình bày và yêu cầu Chính phủ phải có (thêm) các giải pháp khắc phục các yếu kém về KT - XH hiện thời. Thay vào đó, phải chăng Quốc hội nên có thêm một động thái là thảo luận và bỏ phiếu cho chất lượng điều hành của Chính phủ trên phương diện thực hiện các chủ trương, đường lối phát triển chung của Đảng, Nhà nước (ví dụ việc thực hiện 3 đột phá chiến lược)?

Friday, 19 October 2012

Xử lý nợ xấu - Bắt đầu từ đâu và như thế nào? (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=261526

08:58 | 20/10/2012
Nợ xấu, một trong những vấn đề nổi cộm hiện nay, đã được nhắc đến nhiều trong phiên họp của UBTVQH tuần này và chắc chắn sẽ còn được thảo luận nhiều trong Kỳ họp thứ Tư Quốc hội Khóa XIII khai mạc ngày 22.10 tới. Dẫu vậy, chuyện xử lý nợ xấu thế nào là điều còn đang rất mơ hồ, và vẫn chưa được định hình trong giới hoạch định chính sách. Bài viết này gợi ý một số bước đi trong xử lý nợ xấu.
Vì nợ xấu phát sinh từ các ngân hàng thương mại nên chủ thể đầu tiên cần phải tích cực và tự giác xử lý nợ xấu chính là các ngân hàng thương mại. Điều đáng ngạc nhiên là hiện nay hầu như trách nhiệm xử lý nợ xấu lại dường như được dồn lên các cơ quan hữu trách nhà nước. Người ta vẫn còn đang băn khoăn có nên thành lập các công ty mua bán nợ xấu (AMC) trực thuộc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hay không, có nên mở rộng mô hình Công ty quản lý tài sản (DATC) thuộc Bộ Tài chính hay không, có nên dùng ngân sách để giải quyết nợ xấu không v.v..., mà không mấy nhắc đến vai trò chính của các ngân hàng thương mại, buộc họ phải tích cực dọn dẹp đống nợ mình đã để lại trong quá trình kinh doanh nhiều bất cẩn chạy theo lợi nhuận như vừa qua.
Còn phía ngân hàng thương mại thì cũng rất ngạc nhiên khi ta thấy họ hầu như chẳng có mấy động thái gì để chứng tỏ họ đang dốc sức, quyết tâm xử lý nợ xấu để làm lành mạnh hoạt động của mình. Ngay đến việc báo cáo tỷ lệ nợ xấu của mình chính xác là bao nhiêu thì hầu như cũng chẳng có ngân hàng nào thực hiện (được), và vì thế việc xử lý nợ xấu trong tình huống này cứ như thể bảo bác sĩ chữa bệnh mà người bệnh chỉ thò mỗi ngón tay ra cho xem. Dường như đang có một thái độ ỷ lại vào sự cứu trợ và can thiệp của Chính phủ trong việc xử lý những hậu quả do chính các ngân hàng làm nảy sinh với suy nghĩ rằng Chính phủ không thể để các doanh nghiệp phá sản hàng loạt vì không tiếp cận được vốn vay ngân hàng, vì thế sẽ phải làm cái gì đó để cứu trợ cho cả hệ thống ngân hàng.
Vậy, bước đầu tiên cần làm là buộc các ngân hàng thương mại tích cực và tự giác xử lý nợ xấu. Để làm được điều này thì trước tiên NHNN phải tổ chức thanh tra chọn mẫu một số ngân hàng thương mại để biết được mức độ nợ xấu thực sự, mức dự phòng rủi ro, thị giá và loại hình tài sản thế chấp v.v... của từng ngân hàng trong hệ thống. Đồng thời với đó là mạnh tay với việc xử phạt nếu phát hiện các ngân hàng thương mại khác không làm nghiêm túc việc kiểm toán, thanh tra nội bộ (theo các quy trình và tiêu chuẩn đã quy định) để xác định những vấn đề tương tự. Việc này là để khuyến khích các ngân hàng tự giác với mức nợ xấu thực tế của mình mà NHNN không cần phải bỏ công đi thanh tra từng ngân hàng một.
Tiếp đến, sau khi đã biết được mức độ nợ xấu nói chung của hệ thống và của từng ngân hàng nói riêng, cũng như mức dự phòng rủi ro và thị giá của các tài sản thế chấp của họ, NHNN sẽ cần thiết phải buộc những ngân hàng nào có tỷ lệ nợ xấu quá mức quy định/hoặc mức được cho là nguy hiểm (có thể ảnh hưởng đến cả hệ thống) gấp rút xử lý trong một thời gian hạn định (ví dụ, 6 - 9 tháng) nhằm đưa nợ xấu về ngưỡng an toàn (bằng những cách ví dụ như bán nợ, thanh lý tài sản thế chấp, sử dụng trích lập dự phòng và lợi nhuận v.v...). Quá trình xử lý gấp rút, trong một hạn định như thế này có thể sẽ rất thiệt thòi cho ngân hàng thương mại đó nhưng đây là một việc cần thiết và phải thực hiện hết sức nghiêm túc để lập lại kỷ cương trong hệ thống. Bất kể ngân hàng nào không thực hiện nghiêm túc việc xử lý này cần phải có chế tài mạnh từ NHNN.
Đồng thời với quá trình xử lý nợ xấu ở các ngân hàng, Nhà nước cũng cần phải hoàn thành các khuôn khổ luật pháp chưa hoàn chỉnh (nếu có) để quá trình xử lý nợ xấu diễn ra trôi chảy hơn (ví dụ những rắc rối pháp lý liên quan đến việc phát mại tài sản thế chấp, nếu có).
Sau khi đã thực hiện xử lý nợ xấu ở bước thứ nhất (cấp độ từng ngân hàng thương mại), Chính phủ và NHNN sẽ nắm được một bức tranh đầy đủ hơn về những vấn đề tồn đọng, chẳng hạn quy mô và bản chất/cấu thành của khối nợ xấu còn lại mà không thể giải quyết được ở bước thứ nhất bởi từng ngân hàng thương mại. Tùy theo quy mô nợ xấu tồn đọng, NHNN và Chính phủ ở bước thứ hai có thể phải cân nhắc đến những giải pháp mang tính hệ thống hơn như dùng ngân sách để xóa nợ cho một nhóm con nợ nào đó (ví dụ các đối tượng được NHNN chỉ định cho vay), cho một nhóm con nợ nào đó được vay vốn từ ngân sách để trả nợ ngân hàng thương mại, thành lập AMC với nguồn vốn từ ngân sách để mua nợ xấu tồn đọng với giá chiết khấu tối đa (mang tính bắt buộc đối với ngân hàng thương mại phải bán nợ xấu cho AMC này nếu không còn bán được ở nơi khác).
Ở bước thứ ba, NHNN sẽ phải cân nhắc việc quốc hữu hóa (toàn bộ hoặc từng phần) hoặc cho phá sản một số ngân hàng nào đó mà tất cả các biện pháp trên vẫn không giải quyết được hết nợ xấu, đến mức mà phần nợ xấu còn lại ăn lạm cả vào một phần hoặc toàn bộ vốn chủ sở hữu. Cũng tương tự như trên đã đề cập, các khuôn khổ pháp lý cho những biện pháp này (ví dụ việc buộc các cổ đông sở hữu phải giảm tỷ lệ nắm giữ cổ phần tương ứng, việc NHNN cử cán bộ của mình vào các vị trí quản trị ngân hàng v.v...) cũng cần phải được hoàn thiện song hành.
Trong quá trình xử lý theo các bước nói trên, một nguyên tắc cần được quán triệt là phải tối thiểu hóa nguồn lực công nếu cần phải sử dụng đến, và tối đa hóa các nguồn tài chính từ chính các ngân hàng thương mại có nợ xấu. Nguồn lực công có thể là từ ngân sách (hoặc thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ) hay từ NHNN và điều này không quan trọng vì đằng nào thì gánh nặng tài trợ cũng sẽ dồn lên NHNN và kết thúc ở việc NHNN bơm tiền cho hệ thống.
Song song với các bước giải quyết nợ xấu, điều không kém phần thiết yếu là NHNN phải tiếp tục củng cố và xiết lại các tiêu chuẩn hoạt động an toàn của hệ thống ngân hàng để không làm phát sinh thêm nợ xấu. Chính phủ nói chung cũng phải có những động thái tích cực, ví dụ như ngừng các chỉ đạo cho vay (ưu đãi) một số nhóm đối tượng nào đó, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước v.v... để sao cho cho vay thương mại sẽ chỉ còn đơn thuần được tiến hành trên những cân nhắc mang tính thị trường giữa các bên liên quan.

Thursday, 18 October 2012

Kết quả thực tế cho kiến nghị chính sách kiểu của 2 đồng chí TS Phạm Đỗ Chí và Vũ Viết Ngoạn


Trong mấy bài viết đi và phản hồi lại của tớ với 2 đồng chí TS này trên TBKTSG và cả trên blog này, tớ đã vạch ra cái sai lầm về khuyến nghị chính sách của 2 đồng chí theo mô hình IS-LM là nới lỏng chính sách tiền tệ để hạ lãi suất nhờ đó kích thích đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng.

Cụ thể, tớ nói rằng mô hình IS-LM dựa trên giả thiết cơ bản rằng đầu tư chỉ phụ thuộc vào lãi suất. Nhưng thực tế thì đầu tư còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, trong đó có việc doanh nghiệp tiếp cận được với vốn tín dụng ngân hàng. NHNN nới lỏng chính sách tiền tệ để/sẽ dẫn đến hạ lãi suất nhưng điều này lại không nhất thiết sẽ dẫn đến làm tăng đầu tư vì ngân hàng lúc đó có cho doanh nghiệp vay hay không là chuyện khác, và rất có thể ngân hàng sẽ khắt khe hơn về tiêu chuẩn được vay vốn khi đầy nợ xấu và rủi ro phá sản. Rốt cuộc thì tăng trưởng tín dụng và đầu tư sẽ không được như kỳ vọng.

Nay thì ngay cả đồng chí Chí trong bài viết mới nhất của mình cũng phải thừa nhận rằng nới lỏng chính sách tiền tệ (tăng hơn 10% trong 9 tháng, mà theo đồng chí ấy thì là “vừa phải”) và lãi suất đã hạ nhưng tín dụng vẫn tăng “nhỏ giọt” (sic). Tức là kịch bản mà đồng chí Chí và Ngoạn dựng nên trong kiến nghị chính sách của họ đã không xảy ra.

Nói qua vậy thôi để mong đây là một bài học kinh nghiệm cho những học giả/học thật trước khi động chạm gì đến lý thuyết thì cần phải có sự hiểu biết một cách thực sự lý thuyết đó. Tuyệt đối cần tránh tình trạng dùng những lý thuyết/mô hình với những khái niệm và ký hiệu (toán học) lằng nhằng để làm le với thiên hạ, theo kiểu khoe chữ và làm hàng.

Cũng qua cái sự việc nêu trong entry này, sự ngớ ngẩn trong cái kiểu kiến nghị chính sách của đồng chí Bùi Kiến Thành (NHNN in tiền thật nhiều cho ngân hàng thương mại vay với lãi suất cực thấp để ngân hàng thương mại cho vay lại doanh nghiệp với lãi suất thấp...) cũng đã được vạch ra. Hy vọng đến một lúc nào đó những cái loa gây nhiễu kiểu này sẽ tự censored/tự kiểm duyệt và đục bỏ.

Sunday, 14 October 2012

Chuyện về Moody’s và Standard and Poor’s


Tuần trước nữa và tuần vừa rồi tớ đã thu xếp đến gặp 2 đồng chí Moody’s và Standard and Poor’s (S&P) ở Singapore để hỏi cho ra nhẽ tại sao 2 đồng chí ấy tuy cùng là hãng xếp hạng tín nhiệm lại có hành động mâu thuẫn nhau đến vậy (đồng chí Moody’s thì cuối tháng 9 đã hạ hạng tín nhiệm của Chính phủ Việt Nam và một số ngân hàng Việt Nam, còn đồng chí S&P thì lại sửa lại triển vọng hạng tín nhiệm của Chính phủ Việt Nam từ Tiêu cực thành Ổn định và cũng cuối tháng 9 vừa rồi lại nâng hạng của một số ngân hàng thương mại Việt Nam).

Nhìn chung, có thể nói 2 đồng chí này ở 2 thái cực khác hẳn nhau. Một đồng chí thì quá tiêu cực và lo xa, nhưng ẩu (Moody’s). Đồng chí còn lại (S&P) thì quá tích cực và hời hợt, nhưng cả tin.

Về Moody’s, các đồng chí ấy lo ngại rằng nợ xấu và thiếu hụt thanh khoản trong hệ thống ngân hàng sẽ là một gánh nặng rất nặng chất lên vai Chính phủ và Chính phủ không thể trốn tránh được khỏi nghĩa vụ phải nhảy vào cứu trợ hệ thống ngân hàng trong khi bản thân (Chính phủ) thì nợ đầm đìa, khó mà xoay xở ở đâu được. Tăng trưởng chậm lại cũng làm khuyếch đại những khó khăn của Chính phủ thêm nữa.

Sau một hồi tớ vặn vẹo thì các đồng chí Moody’s cũng phải thừa nhận rằng sự cứu trợ này của Chính phủ, nếu có, thì cũng có hạn (chứ không phải cần bao nhiêu thì đáp ứng bấy nhiêu) và cũng không thể xảy ra ngay nay mai được. Mà như vậy thì lại mâu thuẫn với lập luận ban đầu của các đồng chí ấy để làm cơ sở để hạ hạng tín nhiệm của các ngân hàng Việt Nam như nói ban đầu. Cuối cùng, các đồng chí ấy đành bào chữa rằng hành động vừa rồi của các đồng chí ấy là hành động mang tính phòng xa, đi trước sự việc (ring-fencing), có nghĩa là cảm thấy sẽ xảy ra thế thì hành động luôn, chứ không chờ cho đến khi sự việc xảy ra rồi thì mới hành động!

Trong quá trình thuyết minh, các đồng chí ấy đưa ra một vài bảng biểu với đồ thị ước tính mức độ nợ xấu của Việt Nam và theo đó là mức độ vốn cứu trợ (tái cấp vốn) cần thiết cho hệ thống ngân hàng mà mức cao nhất là (tương ứng với tỷ lệ nợ xấu là 30%) chỉ là tương đương với 11% của GDP. Nghe thì cũng hơi hơi... kinh (vì tớ không nghĩ nó lại ... thấp thế!) để minh họa cho tính nguy cấp, trầm trọng của vấn đề nợ xấu và nhu cầu can thiệp của Chính phủ. Nhưng vấn đề là các đồng chí ấy sử dụng số liệu có đến năm 2011 thôi! Thế thì tớ mới có cái cớ để hỏi xoáy rằng tại sao các đồng chí ấy không hạ hạng tín nhiệm ngay từ đầu năm (cùng lắm là cuối quý 1 hoặc sang quý 2), khi các loại số liệu mà các đồng chí ấy sử dụng trong các bảng biểu và đồ thị trên được công bố? Sao phải chờ đến tận cuối tháng 9?

Điều đáng nói là sau cái ngày bọn tớ viếng thăm đó 2 ngày (tức vào thứ 2 tuần qua), các đồng chí ấy lại gửi cho tớ một bản Special Comment chính thức (hình như có đăng trên website của Moody’s), trong đó cũng có những bảng biểu với đồ thị như trước, nhưng điều đáng nói hơn nữa là các số liệu gánh nặng tái cấp vốn của Chính phủ lại tăng vọt, từ 11% trong ước tính hôm gặp bọn tớ vọt lên đâu như 20-30% của GDP gì đó, và tất nhiên vẫn là tính trên số liệu cuối năm 2011. Lên bao nhiêu thì không quan trọng lắm bằng cái bản chất sự việc là các đồng chí ấy đã phải sửa sang số liệu trước và sau khi công bố chính thức. Điều này cũng chứng tỏ các đồng chí ấy hành động khi chưa có một cơ sở chắc chắn cho các nhận định làm nền tảng cho các hành động điều chỉnh hạng tín nhiệm.

Vì những vấn đề ấm ớ như trên nên tớ khi viết báo cáo nội bộ phải cố vắt óc nghĩ ra một lý do khả dĩ hơn để làm nhẹ “tội phán mò” của các đồng chí Moody’s. Cuối cùng thì tớ cũng tìm ra được một chi tiết, đó là chuyện Moody’s đề cập đến việc bắt đồng chí bầu Kiên, và bình luận thêm rằng việc bắt giữ này gây ra quan ngại cho Moody’s và họ cũng không nghĩ rằng sự việc tương tự chỉ dừng lại ở ACB (mặc dù các đồng chí ấy có vẻ cũng chẳng biết nhiều về những chuyện này, và cũng có vẻ cũng không sẵn sàng để nói về chúng lắm). Từ đó, tớ mới triển khai thêm rằng phải chăng đây mới chính là một (trong những) lý do thực sự để Moody’s đến thời điểm này mới hạ hạng tín dụng của các ngân hàng Việt Nam, khi lo ngại rằng nếu có các hành động bắt bớ hoặc trấn chỉnh mạnh tay của các cơ quan có thẩm quyền sẽ gây ra một cơn chấn động trong toàn hệ thống làm tăng đột ngột rủi ro đổ vỡ hệ thống và Chính phủ buộc phải nhảy ngay vào can thiệp và cứu trợ đúng như kịch bản mà các đồng chí ấy vạch ra? Nếu đúng Moody’s nghĩ vậy thì còn thông cảm được. Bằng không thì buồn lắm, các đồng chí Moody’s à! Chắc cũng đoán được những “băn khoăn” của tớ trong buổi gặp gỡ, mấy đồng chí Moody’s này 2, 3 lần gửi email nhắc tớ là nếu cần trao đổi thêm thì cứ cho biết. Nhưng tớ thì vốn lịch sự nên đành trả lời là để bọn tớ nắm lại vấn đề đã rồi có gì hỏi thêm sau, để cho các đồng chí ấy còn đường mà làm ăn, vì rõ ràng là các đồng chí ấy đã rất nao núng.

Về S&P, các đồng chí này thì theo kiểu thấy đâu nói đó, rất cả tin. Chẳng hạn, các đồng chí ấy thấy anh Bình nhà ta (thống đốc NHNN) tuyên bố cái này cái kia, quyết tâm làm cái này cái kia (tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, khống chế tăng tín dụng cho ngành phi sản xuất v.v...) thì tin sái cổ rằng anh Bình đang làm thật và kết quả có tốt hơn thật. Các đồng chí ấy còn khen anh Bình hết lời, nào là con người của đổi mới, nào là con người của minh bạch (là Thống đốc lần đầu tiên công bố tỷ lệ nợ xấu cao hơn con số báo cáo của các ngân hàng thương mại, là người mạnh tay áp đặt các chuẩn mực hoạt động nghiêm khắc hơn cho hệ thống ngân hàng v.v...). Cũng tương tự, các lời khen ngợi được dành cho các chính sách vĩ mô của Chính phủ, nào là đã thắt chặt chính sách tiền tệ để giảm lạm phát, giữ ổn định tỷ giá, chấp nhận giảm tăng trưởng tín dụng (giảm tăng trưởng GDP) để ổn định vĩ mô. Từ đó, hệ thống ngân hàng thương mại dần đi vào ổn định, và S&P thấy là cần phải tăng hạng của họ lên. Xong! Rất đơn giản và... dễ hiểu!

Tớ nghe các đồng chí này nói một hồi về những chuyện tốt đẹp trên mà ù hết cả tai, bèn chỉ dám khẽ khàng hỏi lại là thế các đồng chí có biết rằng chính sách tiền tệ thực tế là nới lỏng rất mạnh không (10,5%/9 tháng), có biết tại sao tín dụng chỉ tăng 2,5%/9 tháng không (mà không phải là do chính sách kiềm chế tăng trưởng tín dụng đâu), có biết anh Bình hứa nhiều nhưng chẳng làm được bao nhiêu không, Chính phủ thực tế đang thi hành những chính sách ngược lại với ý định ban đầu không v.v... Tức là những cái các đồng chí S&P ca ngợi và lấy đó làm cơ sở để nâng hạng tín dụng của các ngân hàng thực ra đã không còn tồn tại, nếu có. Và vì thế hành động nâng hạng của các đồng chí như vừa rồi rất là vội vã, dựa trên những hiểu biết hời hợt về Việt Nam – superficial – là từ mà tớ dùng trong báo cáo nội bộ của mình.

Không biết các đồng chí S&P có khách sáo không, vì khi tớ phản biện lại, các đồng chí ấy thỉnh thoảng lại nói “justified”, và tỏ ý sẽ trao đổi với tớ sau này. Tớ trộm nghĩ khéo mà mình có ảnh hưởng to lớn đến các quyết định xếp hạng của S&P chứ chẳng chơi! Nhưng có điều chắc chắn là S&P sẽ không tăng hạng của Việt Nam ít nhất là hết năm 2013. Khả năng đánh tụt hạng là nhiều hơn, nhất là sau khi các đồng chí ấy ngộ ra nhiều chuyện ở Việt Nam, nhờ cuộc nói chuyện với tớ! Thế thì cũng gay go cho tớ quá lắm!

Friday, 12 October 2012

Một số dự đoán cho xu hướng chính sách tiền tệ năm 2013 (Bài đặt của một báo nhưng không được đăng)


(Một phiên bản bài này cuối cùng cũng được đăng trên Vneconomy. Biên tập ẩu quá.

Chính sách tiền tệ (CSTT) đã bước vào quý 4 và để lại một số điểm đáng chú ý đằng sau nó như tổng phương tiện thanh toán (cung tiền của NHNN, M2) đã tăng tới 10,4% trong tháng 8 so với cuối năm 2011. Tương ứng, tổng số dư tiền gửi tại các tổ chức tín dụng cũng tăng 11,2% trong cùng kỳ. Trong khi đó, tổng dư nợ tín dụng (tính đến 20/9) chỉ tăng 2,4% so với cuối năm 2011. Lạm phát đã quay trở lại một cách rõ nét với mức tăng trong tháng 9 vọt lên 2,2% so với tháng 8 và 6,2% so với tháng 12/2011, chấm dứt thời kỳ của cái gọi là “suy thoái kép”, mà một số người lo lắng sai lầm đã gán ghép cho nó khi lạm phát theo tháng giảm liên tục trong một số tháng, thậm chí xuống mức âm như vừa qua và tăng trưởng GDP theo quý cũng chững lại.

Trong bối cảnh trên, CSTT sẽ theo hướng nào trong thời gian tới là một vấn đề đáng quan tâm. Liệu M2 sẽ nên tiếp tục tăng với tốc độ tương tự năm nay, tức tới trên 15% (10,4% trong 8 tháng đầu năm, cộng thêm tối thiểu 5% cho 4 tháng còn lại của năm khi nhu cầu phương tiện thanh toán thường tăng mạnh, cũng như nhu cầu tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hơn nữa từ mức tăng “lẹt đẹt” trong suốt cả 9 tháng qua? Câu trả lời là không nên. Bức tranh kinh tế vĩ mô của 9 tháng qua khác nhiều so với những tháng còn lại của năm nay và sang năm tới.

Khác biệt đầu tiên là áp lực lạm phát đã gia tăng trở lại rõ nét, thu hẹp đáng kể dư địa cho CSTT nới lỏng của NHNN. Nếu như từ đầu năm nay NHNN đã dốc sức bơm tiền để “cứu” thanh khoản, để “cứu” tăng trưởng tín dụng nhằm “cứu” doanh nghiệp, sự bơm tiền mạnh đó chưa làm tăng đáng kể áp lực lạm phát. CSTT cần một độ trễ nhất định (vài tháng, thậm chí là 2, 3 quý) để phát huy tác dụng. Nay cũng là thời điểm để sự bơm tiền này phát huy tác dụng, thông qua chỉ báo CPI đã quay đầu tăng vọt. Thêm nữa, việc bơm tiền của NHNN thời gian vừa qua “may mắn” diễn ra trong bối cảnh tổng cầu suy giảm mạnh nên áp lực lạm phát nếu có cũng vì thế mà dịu bớt.

Khác biệt thứ hai, môi trường kinh tế thế giới đã có một số diễn biến đáng chú ý khi đồng hành với các gói kích thích kinh tế và nỗ lực bơm tiền của NHTW các nước, giá cả thế giới đã tăng mạnh ở nhiều loại hàng hóa nhập xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Vì thế, yếu tố lạm phát đẩy sẽ phối hợp với yếu tố lạm phát từ cầu kéo do cung tiền trong nước tăng sẽ củng cố thêm xu hướng tăng của lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới.

Khác biệt thứ ba, bất chấp ai đó liên tục lôi chuyện doanh nghiệp phàn nàn khó khăn, phá sản, liên tục nói đến nguy cơ suy thoái, thực tế là kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng và mạnh dần lên, ở mức không thể gọi là không khả quan được, 4% quý 1, 4,7% quý 2 và 5.4% trong quý 3, đặc biệt trong bối cảnh toàn thế giới đang suy giảm tăng trưởng. Điều này chứng tỏ tổng cầu đã phục hồi và tăng trưởng khá mạnh ở Việt Nam, làm triệt tiêu hoặc ít ra là bớt đi nhu cầu cấp thiết phải nới lỏng CSTT để kích thích tăng trưởng như ở nhiều nước trên thế giới.

Với những yếu tố trên, sự tiếp tục nới lỏng CSTT ở mức độ lớn như năm nay trong năm tới chắc chắn sẽ đẩy Việt Nam vào lại vòng xoáy lạm phát mới.

Tuy vậy, có một số lý do mà NHNN có thể sẽ buộc phải duy trì CSTT nới lỏng ở mức độ lớn trong năm sau. Lý do thứ nhất, áp lực từ chiêu bài tăng cung tiền để “cứu” tăng trưởng tín dụng nhằm “cứu” doanh nghiệp không phải là dễ bỏ qua đối với NHNN. Cho dù rõ ràng tăng trưởng tín dụng “lẹt đẹt” như thời gian vừa qua không phải có nguyên nhân từ việc thắt chặt CSTT của NHNN, nhưng vẫn có nhiều tiếng nói kể cả của giới chuyên gia, quan chức, và Quốc hội đòi hỏi NHNN tiếp tục “hỗ trợ” ở phương diện này. Và cũng dễ thấy là NHNN không hiếm khi phải thay đổi lập trường của mình trước những áp lực như vậy.

Lý do thứ hai, với cục nợ xấu vốn đã lớn và lại có nguy cơ tiếp tục phình ra nhanh chóng song hành với sự đi xuống của thị trường bất động sản trong khi việc tái cơ cấu ngân hàng gần như án binh bất động và việc giải quyết nợ xấu vẫn còn đang ở giai đoạn... tranh cãi xem nên làm thế nào, thì  áp lực cứu thanh khoản cho hệ thống lên NHNN ngày càng lớn. Chắc chắn rằng trong số 10,4% tăng trưởng M2 nói trên có không nhỏ một tỷ lệ là dành cho cứu trợ thanh khoản trên toàn hệ thống. Hãng xếp hạng tín dụng Moody’s vừa rồi hạ hạng tín dụng của Việt Nam cũng chủ yếu vì lý do lo ngại rằng nhu cầu lớn về vốn cho việc tái cấp vốn cho hệ thống ngân hàng để dọn dẹp nợ xấu và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng sẽ đặt lên vai Chính phủ và việc bơm tiền từ NHNN là điều khó tránh khỏi. Trong tình huống khẩn cấp, với cam kết không để bất cứ ngân hàng nào đổ vỡ của NHNN, nhìn từ thực tế chuyện đã xảy ra ở ngân hàng ACB, không khó để hình dung một lượng tiền khổng lồ sẽ phải được bơm ra từ NHNN vào hệ thống ngân hàng để duy trì sự sống còn của cả hệ thống. Lúc đó, áp lực lạm phát và những bất cân đối vĩ mô đương nhiên là những vấn đề bị đẩy lùi lại trên bậc thang ưu tiên trong hoạch định chính sách.

Tóm lại, xu hướng CSTT sang năm tới rốt cuộc có nhiều khả năng sẽ phải theo hướng tiếp tục nới lỏng đáng kể (tức M2 sẽ tăng đáng kể) để hỗ trợ thanh khoản, tái cấp vốn cho hệ thống ngân hàng và kéo tăng trưởng tín dụng, bất chấp việc những người trong cuộc như NHNN có thể không mong muốn như vậy. Đồng nghĩa với điều này là lãi suất sẽ tiếp tục được duy trì thấp một cách khiên cưỡng còn áp lực lạm phát sẽ tăng mạnh.

Friday, 28 September 2012

Chương trình nới lỏng định lượng lần thứ 3 của Mỹ và những tác động lên Việt Nam

(Bài này đã được báo Đầu tư đã trả nhuận bút, có nghĩa là đã được đăng, nhưng chẳng biết đã đăng khi nào và ở đâu. Tớ đang “điều tra”, khổ thế đấy)

Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) mới đây đã tiến hành đợt nới lỏng định lượng (tức nới lỏng chính sách tiền tệ) lần thứ 3, được gọi tắt là QE3. Sự khác biệt chủ yếu giữa QE3 với các chương trình nới lỏng trước đó của Fed (QE1 và QE2) nằm ở chỗ QE3 – chương trình mua lại tài sản, với tổng giá trị lên tới 85 tỷ đôla/tháng, gồm 45 tỷ đôla dành để mua các khoản vay có thế chấp – là chương trình không có thời hạn kết thúc. Nói đúng hơn, nó sẽ được kết thúc chỉ khi nào Fed thấy được sự cải thiện mạnh mẽ trên thị trường việc làm của Mỹ. Như thế cũng có nghĩa là Fed đã gắn thời hạn của QE3 với một mục tiêu kinh tế vĩ mô cụ thể. Ngoài ra, Fed cũng nới rộng thời hạn duy trì lãi suất gần bằng 0 cho các khoản vay tái chiết khấu (Fed Funds) của mình ít nhất là đến giữa năm 2015, thay vì năm 2014 như trước đó đã tuyên bố.

Mục tiêu
Trên lý thuyết, việc ngân hàng trung ương mua tài sản là nhằm nới lỏng chính sách tiền tệ và, do đó, hạ lãi suất dài hạn, gồm cả lãi suất cho vay có thế chấp. Việc này được kỳ vọng sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế thông qua tăng đầu tư lợi dụng lãi suất thấp, đồng thời làm phục hồi thị trường bất động sản Mỹ. 

Tuy vậy, 2 chương trình nới lỏng trước đây chỉ cho một kết quả không rõ ràng, không hoàn toàn như kỳ vọng khi các thị trường nhà cửa và việc làm vẫn trì trệ. Có lẽ đây chính là lý do để Fed lần này tung ra QE3 vô thời hạn gắn với một mục tiêu vĩ mô cụ thể và với cam kết mạnh mẽ duy trì lãi suất thấp trong một thời gian dài hơn nhằm khôi phục mạnh mẽ lòng tin và kích thích đầu tư, tiêu dùng.

Tác động có thể lên nền kinh tế Việt Nam
Tuy QE3 chỉ là một hành động nghiệp vụ của Fed, cũng có thể được tiến hành bởi bất cứ ngân hàng trung ương nào trên thế giới khi muốn nới lỏng chính sách tiền tệ của mình, nhưng phạm vi tác động của chính sách này của Mỹ không chỉ dừng lại ở Mỹ mà lan ra toàn cầu vì vị thế cường quốc số 1 của Mỹ trong nền kinh tế toàn cầu.

Tác động đầu tiên của QE lên một nền kinh tế khác, chẳng hạn như Việt Nam, là làm tăng áp lực lạm phát. Với triển vọng lạm phát Mỹ sẽ tăng lên do QE3, giá cả hàng hóa toàn cầu (tính theo USD) sẽ chịu áp lực tăng lên, làm tăng áp lực lạm phát ở những nền kinh tế có mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu lớn như Việt Nam. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng điều này – QE sẽ làm tăng giá cả thế giới – chỉ đúng (ít nhất là trong trung hạn) khi phần còn lại của thế giới không chịu áp lực giảm phát. Các nền kinh tế lớn trên thế giới hiện nay như EU, Trung Quốc và Ấn Độ thì hoặc là đang suy thoái, hoặc là đang phải chứng kiến đà suy giảm tăng trưởng mạnh, từ đó đã và đang tác động tiêu cực đến tăng trưởng tổng cầu thế giới, và tức là hãm đà tăng của giá cả thế giới do QE gây ra, nếu có. Vì thế, có thể nói tác động của QE3 làm tăng lạm phát ở Việt Nam chỉ xảy ra khi tình hình tại các nền kinh tế lớn khác trên thế giới không tiếp tục xấu đi hơn hiện tại.

Với giả thiết trên, ta tiếp tục xem xét tác động của QE3 lên Việt Nam. Phản ứng của ngân hàng trung ương nước sở tại (ví dụ, Ngân hàng Nhà nước, NHNN) trước áp lực lạm phát gia tăng thường là tăng lãi suất bản địa (VND).  Nhưng nếu làm như vậy thì VND lại chịu áp lực lên giá so với USD, từ đó làm giảm sức cạnh tranh của xuất khẩu của Việt Nam, và, tức là, giảm tốc độ tăng trưởng. Đây chính là tác động có thể có thứ 2 của QE3 lên Việt Nam.
Nếu NHNN cân nhắc thấy rằng việc tăng lãi suất hơn nữa trong bối cảnh các doanh nghiệp đang đồng thanh than khó vì lãi suất vẫn còn cao như hiện nay là việc cần tránh (mặc dù lạm phát đã thực sự tăng tốc trở lại gần đây). Như thế, lãi suất rất có thể được duy trì ở mức hiện tại nhằm hỗ trợ tăng trưởng, thông qua việc giữ nguyên hoặc nới lỏng thêm chính sách tiền tệ (ít nhất là không thắt chặt) của NHNN. Lúc đó, áp lực lạm phát thay vì chỉ đến từ áp lực tăng giá hàng hóa quốc tế, còn đến từ chính sách tiền tệ ít-nhất-là-không-thắt-chặt của NHNN. Nói cách khác, lạm phát gia tăng là điều khó tránh khỏi ở Việt Nam, ít nhất trong giai đoạn trước mắt và sang năm tới.

QE3 có thể còn gây ra tác động thứ 3, và trực tiếp, lên nền kinh tế Việt Nam thông qua kênh tỷ giá và xuất khẩu của Việt Nam. Với việc tăng cung USD, lạm phát ở Mỹ có khả năng sẽ tăng lên thêm một vài điểm phần trăm (khoảng 3%, theo kỳ vọng của Fed). Trong bối cảnh NHNN muốn duy trì ổn định tỷ giá danh nghĩa VND đi đôi với kiềm chế lạm phát bằng chính sách tiền tệ “linh hoạt, thận trọng”, tức là nới lỏng ít, nếu có, thì USD sẽ lên giá thực so với VND (vì chênh lệch lạm phát giữa 2 nước thu hẹp lại, trong khi tỷ giá danh nghĩa ít biến động). Điều này có tác dụng tương đương như việc NHNN chủ động phá giá VND một vài điểm phần trăm so với USD, nhờ đó làm tăng tính cạnh tranh của xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường Mỹ. Tuy nhiên, tác động tích cực này sẽ bớt đi về mức độ nếu lạm phát ở Việt Nam cũng lại chịu áp lực tăng lên từ việc nới lỏng cung USD của Fed và làm tăng áp lực lạm phát đẩy trên toàn cầu, trong đó có Việt Nam, làm cho chênh lệch lạm phát giữa 2 nước không thay đổi nhiều theo hướng có lợi cho Việt Nam.
Ngược lại, nếu NHNN thi hành chính sách phá giá chủ động bám sát lạm phát của Mỹ thì tính cạnh tranh của xuất khẩu của Việt Nam sẽ không bị ảnh hưởng cho dù lạm phát của Việt Nam cũng sẽ tăng lên ở mức độ nào đó thông qua “nhập khẩu lạm phát” khi giá hàng hóa nhập khẩu bằng USD tăng lên đồng thời tỷ giá VND/USD cũng tăng lên.

Cũng có thể hình dung thêm một tác động nữa của QE3 lên Việt Nam. Với lãi suất USD và lợi tức trái phiếu Chính phủ Mỹ thấp, các ngân hàng và/hoặc cá nhân, tổ chức Việt Nam sẽ bớt đi nhu cầu đầu tư vào các tài sản này. Thay vào đó, nhu cầu về vàng và bất động sản sẽ tăng lên, đặc biệt trong bối cảnh lạm phát toàn cầu có thể sẽ tăng lên. Như thế, thị trường bất động sản có khả năng ấm lại nhanh hơn còn giá vàng trong nước tiếp tục xu hướng tăng trong thời gian tới.
Tóm lại, ảnh hưởng của QE3 của Fed lên Việt Nam trước tiên sẽ phụ thuộc vào diễn biến ở phần còn lại của nền kinh tế thế giới. Với giả thiết rằng các nền kinh tế lớn trên thế giới sẽ thoát ra cuộc khủng hoảng hiện thời trong năm sau và/hoặc phục hồi tốc độ tăng trưởng, QE3 sẽ rất có thể làm lạm phát gia tăng ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung trong năm tới. Vì áp lực duy trì và phục hồi tăng trưởng, NHNN sẽ có thể phải chấp nhận “sống chung” với lạm phát để cố gắng hạ hoặc ít nhất là duy trì lãi suất như hiện tại (không tăng lên để chống lạm phát). VND vì thế cũng có khả năng bị phá giá ở mức độ nhẹ theo sát với mức lạm phát ở Mỹ để đảm bảo tính cạnh tranh của xuất khẩu. Bất động sản và vàng sẽ sôi động hơn và giá cả có xu hướng đi lên.

Friday, 21 September 2012

Có chặn được cơn sốt vàng hay không? (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân)

http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=258708

08:34 | 22/09/2012
Quyết định 1623/QĐ-NHNN và Thông tư 24/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành ngày 23.8 được cơ quan này coi là liều thuốc đặc trị sự bất kham của thị trường vàng trong thời gian qua.
Cụ thể, Quyết định 1623 đã chính thức công bố việc tổ chức và quản lý sản xuất vàng miếng SJC thuộc độc quyền NHNN và nó làm nền tảng pháp lý để nhà điều hành bổ sung nguồn cung vàng miếng, can thiệp thị trường khi cần thiết, nhất là những khi xảy ra sốt vàng. Còn Thông tư 24 thì cấm các tổ chức tín dụng vay và cho vay vốn bằng vàng đối với khách hàng và các tổ chức tín dụng khác; họ cũng không được gửi vàng tại tổ chức tín dụng khác; không được thực hiện các nghiệp vụ ủy thác, đầu tư và các hình thức cấp tín dụng khác bằng vàng.
Tuy vẫn còn chút bán tín bán nghi nhưng tại thời điểm ban hành các quyết định trên thì đa phần giới chuyên gia đều có nhận định khá tích cực về tính hiệu quả của các giải pháp quản lý thị trường vàng như thế này của NHNN.
 
Thế nhưng thực tế đã nhanh chóng chứng tỏ các giải pháp trên không có mấy tác dụng như kỳ vọng trong việc bình ổn giá vàng cũng như ngăn chặn sốt vàng. Giá vàng trong nước đã nhanh chóng tăng vọt kể từ thời điểm ban hành những quy định trên và vượt mức 47 triệu đồng/lượng vàng SJC gần đây. Tất nhiên, cũng cần phải nói rằng giá vàng thế giới trong thời gian qua cũng gia tăng nhanh chóng, vượt trên ngưỡng 1.700 USD/oz. Tuy vậy, không thể đổ lỗi gây ra cơn sốt vàng trong nước hoàn toàn là do giá vàng thế giới tăng, đơn giản vì giá vàng quốc tế nếu quy ra USD thì thường thấp hơn giá vàng trong nước đến cả 1 - 2 triệu VND/oz hoặc hơn. Cũng cần nhắc lại lời cam kết của NHNN không xa trước đây trong việc bình ổn giá vàng trong nước bám sát giá vàng thế giới ở khoảng cách 400.000 VND/lượng.
Vậy thì các giải pháp trên không ổn ở chỗ nào? Thực ra, các nguyên nhân đều khá đơn giản nếu suy từ các nguyên tắc kinh tế thị trường. Thứ nhất, các quy định trên đã biến một thị trường từ chỗ “trăm người bán, vạn người mua” thành một thị trường “vạn người mua, một số ít người bán”, cho dù lượng hàng hóa mang ra mua bán có thể là không phải là quá ít ỏi. Một thị trường như vậy thì quyền lực thuộc về kẻ bán và sẽ làm nảy sinh những rào cản để giá hàng hóa tiệm cận được với mức giá thực được xác định bởi cung thật và cầu thật, đặc biệt là khi những kẻ bán trên phối hợp với nhau để trục lợi, lũng đoạn thị trường (là việc trở nên dễ dàng hơn so với trước đây vì nay chỉ còn một số ít kẻ bán, dễ thông đồng và hợp sức với nhau hơn).
Thứ hai, các quy định trên đã biến một thị trường từ chỗ có nhiều hàng hóa cùng chủng loại để lựa chọn thành một thị trường chỉ có duy nhất một chủng loại và từ duy nhất một nhà cung cấp. Việc quy định NHNN độc quyền nhãn hiệu vàng SJC là một trường hợp điển hình như thế này. Vì chỉ còn một loại hàng hóa để giao dịch thay vì nhiều loại khác nhau như trước đây, đương nhiên loại hàng hóa độc quyền này không thể thỏa mãn được nhu cầu hiện tại trên thị trường và sẽ gây ra sốt giá.
Thứ ba, NHNN đã tiến thêm một bước nữa trong việc chất thêm củi vào cơn sốt vàng bằng việc cách ly thị trường vàng trong nước với thị trường vàng thế giới (ví dụ, không cấp hạn ngạch nhập khẩu vàng, không cho lập sàn giao dịch vàng qua thanh khoản). Thông thường, sự ngăn sông cấm chợ như vậy sẽ dẫn đến hậu quả tất yếu là hàng hóa trong khu vực cách ly đó sẽ trở nên khan hiếm hơn và vì thế giá cả sẽ tăng lên. Nếu biết được quy luật cơ bản của thị trường như vậy thì lẽ ra NHNN không nên mạnh bạo tuyên bố/kỳ vọng rằng sẽ ổn định được giá vàng trong nước ở khoảng cách 400.000 VND/lượng so với giá vàng thế giới.
Tất nhiên ta cũng nên hiểu rằng, NHNN có cái khó của mình là vừa muốn neo giá vàng (theo giá quốc tế) lại vừa không muốn để một lượng lớn ngoại tệ bốc hơi khỏi quỹ dự trữ ngoại hối của mình nên mới không cho nhập khẩu hoặc mở thanh khoản giao dịch vàng. Có lẽ họ hy vọng hoặc cho rằng lượng vàng hiện có trong nước đủ lớn để thỏa mãn tất cả nhu cầu trong các cơn sốt vàng, và vấn đề còn lại chỉ là làm thế nào để huy động được số vàng trong nước sẵn sàng cho mục đích can thiệp mỗi khi có biến động đột xuất về cầu.
Thế nhưng quan niệm kiểu này, nếu có, thì vẫn là sai lầm vì, cũng theo nguyên tắc thị trường, trong bối cảnh bình thường thì nhu cầu huy động sẵn vàng (ví dụ, thông qua hệ thống ngân hàng) rồi để đấy đợi sốt mới tung ra bán (gọi chính xác thì đây chính là nhu cầu đầu cơ) sẽ không thể ở mức lớn để có thể thỏa mãn được mọi nhu cầu tăng đột ngột do sốt vàng (nhất là khi nhu cầu đầu cơ này lại cho mục đích nhân đạo là ổn định thị trường theo yêu cầu hành chính của NHNN được). Và như thế thì khi xảy ra sốt vàng, nguồn lực vàng trong nước cho dù có lớn đến đâu cũng không thể dập tắt nhanh chóng được cơn sốt mà phải đợi thị trường tự điều chỉnh, hoặc có sự chủ động can thiệp của NHNN bằng cách tung vàng dự trữ (nếu có nhiều) hoặc cho nhập khẩu vàng. Nếu quỹ dự trữ ngoại hối (cả vàng và ngoại tệ) là không đủ lớn thì NHNN phải chấp nhận để cho cơn sốt vàng xảy ra và kéo dài cho đến khi thị trường tự điều chỉnh. Nói cách khác, tuyên bố về ổn định giá vàng theo giá thế giới của NHNN như vừa qua là hết sức phản thị trường.
Có thể hình dung ra một khả năng là NHNN sẽ phải thay đổi, rút lại các quy định quản lý vàng hiện tại của mình khi nhận thức rõ tính phi thị trường và vô hiệu của chúng. Nếu không, thị trường vàng thậm chí còn tiếp tục bất ổn và ở mức độ lớn hơn trước.

Friday, 7 September 2012

Tăng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng và nỗi lo lạm phát quay trở lại (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=256721

08:38 | 30/08/2012
Một số ngân hàng thương mại vừa được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho phép nâng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng quanh mức từ 15 - 17%/năm lên mức trên 25%, thậm chí tới 30%/năm.
Trước thực tế này, một số chuyên gia đã lên tiếng lo lắng về khả năng lạm phát sẽ quay trở lại như là kết quả của việc tăng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng. Tuy không giải thích rõ ràng mối liên hệ giữa việc nới chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng với khả năng lạm phát quay trở lại, những chuyên gia này có đề cập đến khả năng hấp thụ vốn thấp và lấy đó làm bối cảnh cho mối lo ngại về lạm phát của mình.
 
Theo họ, trong bối cảnh nền kinh tế vẫn đang khó hấp thụ vốn, thể hiện ở chỉ số tồn kho vẫn đứng ở mức cao và sức mua của thị trường sụt giảm làm cho doanh nghiệp không mặn mà với việc tiếp tục vay vốn để tiếp tục kinh doanh và đầu tư mới, nếu các ngân hàng thương mại gượng ép tăng trưởng tín dụng theo hạn mức tăng trưởng mới thì các doanh nghiệp có khả năng sẽ “làm liều”, “nhắm mắt” nhưng không phải cho mục đích kinh doanh, đầu tư mà cho mục đích xử lý rủi ro cho việc đầu tư chứng khoán, bất động sản trong quá khứ.
Đến đây, ta có thể phần nào hình dung cơ sở của mối lo ngại về lạm phát từ hạn mức tăng trưởng tín dụng của các chuyên gia này là nằm ở chuyện nếu vốn sử dụng không “khéo”, không đúng mục đích, không hiệu quả thì sẽ gây ra lạm phát, một vấn đề tương tự mà cả nền kinh tế đã và đang đối mặt nếu nhìn từ hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thấp của nền kinh tế nói chung trong các năm qua.
 
Có thể thấy nỗi lo ngại nói trên không có cơ sở vững chắc. Trước tiên, cần thấy rằng việc theo đuổi tăng trưởng tín dụng (trong chỉ tiêu) là quyền lợi chứ không phải là nghĩa vụ của các ngân hàng thương mại, ở cái nghĩa là ngân hàng không phải tăng trưởng tín dụng bằng mọi giá. Vì vậy, nếu chỉ dựa trên chuyện tăng chỉ tiêu như thế này mà lo ngại rằng ngân hàng sẽ phải “ép” để đạt được tăng trưởng tín dụng theo hạn mức bằng cách nhắm mắt làm ngơ cho các doanh nghiệp “làm liều” thì mối lo ngại này là không logic, đơn giản vì ngân hàng chẳng cần phải “ép” nếu họ thấy rủi ro, không có lợi khi nhắm mắt theo đuổi tăng trưởng tín dụng.
 
Tiếp theo, điều kiện cần để lạm phát quay trở lại là cung tiền của NHNN tăng lên đáng kể, tạo điều kiện dẫn đến tăng tổng cầu, từ đó tăng (áp lực) lạm phát. Một trong những điều kiện đủ cho lạm phát quay trở lại là cung tiền tăng lên từ NHNN được dẫn dụ thông qua kênh ngân hàng thương mại đi vào nền kinh tế dưới dạng tăng tín dụng (và thường phải tăng hơn mức tăng tổng cung). Nói cách khác, tăng tín dụng từ (một số) ngân hàng thương mại không nhất thiết làm tăng lạm phát.
 
Nhìn lại tình hình Việt Nam hiện tại. Thực tế là cung tiền của NHNN đã tăng mạnh với các mục đích và/hoặc như là kết quả của việc hỗ trợ thanh khoản ngân hàng, kích thích tăng trưởng kinh tế, và mua ngoại tệ. Lạm phát đã thực sự quay trở lại, trước cả khi các ngân hàng được phép tăng hạn mức tăng trưởng tín dụng, biểu hiện bằng chỉ số CPI tháng 8 ở các thành phố lớn đã chuyển sang dương và tăng đáng kể (tại thời điểm viết).
 
Như vậy, có thể khẳng định ngay rằng lạm phát “tái hồi” như hiện tại bắt nguồn một phần từ nới lỏng cung tiền của NHNN trong suốt nửa năm vừa qua hoặc trước đó nữa. Nếu trong thời gian tới, với lo ngại sự tái hồi của lạm phát ở mức độ nghiêm trọng hơn, NHNN có thể thắt chặt lại chính sách tiền tệ, giảm cung tiền. Khi đó, vì lượng tiền cung ra nền kinh tế trở thành hữu hạn nên tăng trưởng tín dụng của (nhóm) ngân hàng A nào đó sẽ được bù trừ bởi suy giảm tăng trưởng tín dụng của (nhóm) ngân hàng B nào đó, và tổng lượng tín dụng cung cấp cho nền kinh tế thông qua kênh ngân hàng thương mại là một con số không đổi, tức là không tạo thêm áp lực tăng lạm phát. Ngược lại, chỉ khi nào NHNN trong thời gian tới tiếp tục tăng cung tiền để tạo điều kiện tăng trưởng tín dụng trong cả hệ thống ngân hàng thì mới có thể có cơ sở để lo ngại lạm phát tăng từ việc tăng hạn mức tăng trưởng tín dụng.
Cần nhấn mạnh rằng, việc NHNN tiếp tục tăng cung tiền trong thời gian tới mới chỉ là cơ sở để lo ngại lạm phát tăng, chứ chưa phải là khả năng chắc chắn lạm phát sẽ tăng, khi xét thêm điều kiện đủ nói trên.
 
Tín dụng cho cả nền kinh tế tuy mới tăng trưởng ở mức thấp (dưới 2% so với cuối năm 2011), nhưng đã là tăng trưởng dương. Điều này chứng tỏ rằng điều kiện đủ nêu trên, tăng cung tiền từ NHNN được dẫn dụ thông qua kênh ngân hàng thương mại làm tổng tín dụng cho nền kinh tế tăng lên (và tăng hơn mức tăng tổng cầu), đã xảy ra (tuy không hoàn hảo vì mức tăng trưởng tín dụng vẫn thấp xa so với mức tăng cung tiền từ NHNN trong nửa đầu năm nay), và góp phần làm lạm phát quay trở lại mức dương trong tháng 8 này. Có điều, vì tổng tín dụng chỉ mới tăng ở mức thấp như vậy nên có thể thấy một điều rằng cầu tín dụng vẫn ở mức thấp, có thể bắt nguồn từ chuyện tồn kho tăng cao v.v… đúng như nhìn nhận của các chuyên gia nói trên.
 
Trong bối cảnh cầu tín dụng tiếp tục ở mức yếu như vậy, việc một số ngân hàng được tăng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng và nếu giả thiết rằng họ có thể hiện thực hóa được chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của mình thì điều này sẽ chỉ dẫn đến một kết cục là tăng trưởng tín dụng ở các ngân hàng khác phải giảm đi tương đối. Nói cách khác, tổng tín dụng từ hệ thống ngân hàng rốt cuộc có thể chỉ tăng ở mức độ khiêm tốn cho dù một số trong các ngân hàng đã được nới rộng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng và hiện thực hóa được chỉ tiêu đó. Nếu kết hợp thêm với khả năng NHNN sẽ siết lại cung tiền trong thời gian tới như phân tích ở trên thì ảnh hưởng của việc nới chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng lên lạm phát càng trở nên mờ nhạt.

Thursday, 23 August 2012

Tái cơ cấu các ngân hàng thương mại và vụ Văn Giang nhìn từ những thông tin lề trái, phải


Như tớ nói trong bài trả lời phỏng vấn Tiền Phong (và bị bóp méo, sửa đổi đến mức độ tớ bắt phải gỡ xuống), “bản thân tôi chưa bao giờ cắt nghĩa được tại sao phải tái cơ cấu hệ thống ngân hàng bằng cách sáp nhập các ngân hàng với nhau”, tớ vẫn nghi hoặc động cơ tiến hành sáp nhập các (9?) ngân hàng “yếu kém” với nhau của NHNN. Nay thì qua các thông tin tung tóe trên cả báo chí lề phải lẫn lề trái, động cơ thực sự của NHNN (chính xác là của Thống đốc Bình) đã lộ ra. Không biết rồi đây NHNN còn có đủ bản lĩnh để đi đến cùng chương trình hành động của mình không nhỉ? Chỉ tiếc rằng Tiền Phong là tờ báo “ăn hại”, không dám đăng nguyên văn bài của tớ.

Cũng liên quan đến thông tin lề phải, lề trái, hôm nay tớ đọc được một mẩu thông tin rất thú vị liên quan đến đồng chí “bầu Kiên” lại có liên quan đến ... tớ! Chẳng là theo báo chí phỏng vấn hàng xóm của đồng chí này thì khu đất đồng chí ấy đang ở (hồ Tây) trước đây là khu đất nông nghiệp trồng quất, sau được mang ra bán đấu giá và đền bù cho dân với giá 350.000 VND/m2 (không phải 3,5 triệu đâu nhé!) vào năm 2003. Tớ khoái chi tiết này quá vì nó minh họa cho ý kiến tớ “phang” đồng chí TS Vũ Quang Việt về bài của đồng chí ấy viết về vụ Văn Giang. So sánh giá đất đền bù ở hồ Tây và đất đền bù ở Văn Giang (không kể các quyền lợi khác đi kèm) thì rõ ràng giá đất đền bù ở Văn Giang đâu có phải là giá đi ăn cướp của dân đâu? Nếu dân hồ Tây, những người đồng ý nhận đền bù với cái giá này nghĩ gì vào thời ấy nhỉ? Sao họ không làm như Văn Giang?

Wednesday, 15 August 2012

Suy thoái kép - Cụm từ không thể sử dụng tùy tiện (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=255426
(Bài này được đăng nhanh hơn tớ tưởng)

08:47 | 16/08/2012
Gần đây, cụm từ “suy thoái kép” hay được nhắc đến bởi một số chuyên gia và quan chức như một lời cảnh báo cho một thảm họa kinh tế có khả năng xảy đến với nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới. Tuy nhiên, điều đáng nói là hầu như không có cơ sở nào cho cách gán ghép cụm từ này vào tình hình hiện tại và trong thời gian tới ở Việt Nam. Bản thân các chuyên gia và quan chức cũng có những cách hiểu và diễn giải khác nhau và khác xa với cách hiểu theo thông lệ quốc tế, làm cho “suy thoái kép” trở thành sản phẩm made in Vietnam.
 
Dù chưa có một ai giải thích tường tận nguồn gốc của sự xuất hiện cụm từ trên ở Việt Nam trong thời gian qua, nhưng qua bối cảnh của các phát biểu và nhận định, có thể suy đoán rằng nó được ra đời trong hoàn cảnh chỉ số giá tiêu dùng (CPI) giảm xuống mức âm liên tục trong 2 tháng vừa qua, còn GDP thì cũng tăng trưởng chậm lại trong 2 quý liền (quý I và II).

Nếu đúng như vậy thì cách dùng cụm từ trên rất tùy tiện, cũng giống như việc dùng lẫn lộn cụm từ “thiểu phát” và “giảm phát” vốn đang cực kỳ phổ biến hiện nay. Dường như với họ, nếu tăng trưởng GDP suy giảm thì cần được gọi đó là suy thoái, bất chấp thực tế rằng tuy tốc độ tăng trưởng GDP có giảm nhưng vẫn là dương, và còn ở mức không hề “tệ” nếu so với tình hình chung của cả nền kinh tế thế giới (ít nhất là trên mức trung bình của thế giới).

Tương tự, có lẽ chúng ta đã quá quen với thực tế rằng CPI ở Việt Nam thường chỉ có tăng lên chứ ít khi giảm đi, nhỏ hơn so với cùng kỳ năm trước. Nên nay với CPI giảm đi, người ta cũng vội vã coi đó là một dấu hiệu thứ hai của suy thoái, bên cạnh “suy thoái tăng trưởng”, đủ điều kiện để được gọi là “suy thoái kép”.

Nếu ta đi từ thông lệ quốc tế, có lẽ cụm từ suy thoái kép được dịch ra từ cụm từ “double-dip recession” và được định nghĩa như sau: “Suy thoái kép xảy ra nền kinh tế rơi vào suy thoái, theo sau là một giai đoạn phục hồi ngắn (1 hoặc 2 quý), rồi lại quay trở lại suy thoái”.

Và nếu tiếp tục theo thông lệ quốc tế thì một nền kinh tế được gọi là suy thoái khi tăng trưởng GDP tụt xuống mức âm trong ít nhất 2 quý liền nhau. Đem ghép 2 khái niệm này (“suy thoái” và “suy thoái kép”) ta có thể thấy một nền kinh tế được gọi là suy thoái kép khi nền kinh tế đó đã trải qua ít nhất là 2 quý tăng trưởng âm, theo sau là 1 hoặc 2 quý tăng trưởng dương, và lại theo sau bằng ít nhất là 2 quý tăng trưởng âm.

Như vậy, tổng cộng một chu trình suy thoái kép phải kéo dài ít nhất 5 quý, trong đó có 4 quý tăng trưởng âm. Đem điều này áp dụng ở Việt Nam, ta sẽ thấy xác suất xảy ra suy thoái kép là hầu như bằng 0 vì xác suất để xảy ra cho dù một quý tăng trưởng âm cũng đã là rất nhỏ ở Việt Nam trong năm nay và năm tới, chứ chưa nói đến hai quý liền nhau và cần tất cả 4 quý tăng trưởng âm.

Có vị học giả tuy cũng đã phủ định việc Việt Nam đã rơi vào tình trạng suy thoái kép nhưng lại lo ngại rằng suy thoái kép sẽ có thể xảy ra vào năm 2013. Lo ngại này cũng không có cơ sở nếu ta vận dụng tập hợp điều kiện của suy thoái kép nêu ở đoạn trên vào Việt Nam. Vì năm 2013 (hay năm nào cũng vậy) chỉ có 4 quý, trong khi điều kiện của suy thoái kép là phải có chu kỳ kéo dài tối thiểu 5 quý liền nhau nên trong năm 2013 chúng ta không thể nào chứng kiến nạn suy thoái kép.

Có thể có ai đó lập luận rằng biết đâu trong năm nay sẽ có một quý (chẳng hạn là quý IV) sẽ có tăng trưởng GDP âm; sang năm 2013, sẽ xảy ra tiếp 1 quý có tăng trưởng âm (quý I) theo sau bởi 1 quý tăng trưởng dương (quý II) rồi lại đến 2 quý tăng trưởng âm liên tục (quý III và IV), đủ đáp ứng điều kiện của suy thoái kép. Nhưng, như đã nói, vì xác suất để xảy ra tình trạng suy thoái kép như thế này là nhỏ hơn xác suất để cho tăng trưởng âm xảy ra trong một quý nào đó ở Việt Nam, vốn hầu như bằng 0, ít nhất trong 2 quý còn lại của năm nay và cho cả các quý năm sau, nên suy ra là chuyện suy thoái kép nếu có xảy ra ở Việt Nam thì chắc chắn không phải trong năm nay và một hai năm tới!

Có chuyên gia nêu ra ý kiến phản biện rằng khác với thế giới, nếu tăng trưởng GDP của Việt Nam cần được duy trì cao hơn một mức tăng trưởng “tự nhiên” nào đó, chẳng hạn 3% là mức tối thiểu cần có để đảm bảo việc làm và an sinh xã hội tối thiểu để không xảy ra rối loạn, chứ không phải là 0% như theo định nghĩa quốc tế nêu trên. Nếu thấp hơn mức tăng trưởng tự nhiên này thì lúc đó cần phải gọi nền kinh tế Việt Nam đã rơi vào suy thoái.

Tuy có lý nhưng ý kiến trên cũng không thể biện hộ được cho sự tùy tiện trong cách nhìn nhận của các chuyên gia và quan chức liên đới như nói ở trên. Nếu đi theo hướng gắn với tốc độ tăng trưởng tự nhiên thì những người này trước tiên phải nêu ra khái niệm suy thoái kép theo “tiêu chuẩn Việt Nam” được chấp nhận rộng rãi với cơ sở vững chắc dựa trên các nghiên cứu và đánh giá khoa học, để rồi từ đó họ mới có cơ sở để phán định rằng nền kinh tế Việt Nam đã rơi vào suy thoái kép hay không. Mà xem ra chuyện này chưa bao giờ được nhắc đến ở Việt Nam (một cách nghiêm túc)! Và cho dù nếu có xảy ra thì rốt cuộc chuyện suy thoái kép chỉ là câu chuyện mang màu sắc Việt Nam, chứ không hề có tính tương thích với quốc tế.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).