Wednesday, 19 August 2015

Thêm một bước đi quyết đoán nữa (Bài đăng trên CafeF, 19/8/2015)

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/them-mot-buoc-di-quyet-doan-nua-20150819134532421.chn

Trước áp lực dồn nén ngày càng lớn đến từ không chỉ khả năng FED nâng lãi suất USD trong năm nay mà còn 3 đợt phá giá liên tiếp của nhân dân tệ ở mức độ lớn chưa từng thấy trong 2 thập kỷ qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã chính thức từ bỏ chính sách neo tỷ giá VND của mình vào USD và đã nới biên độ biến động xung quanh tỷ giá bình quân liên ngân hàng tuần trước thêm 1 điểm %, một động thái mà tôi đã từng phải ca ngợi là dũng cảm với đúng lý do, đúng thời điểm.
Tuy nhiên, đợt điều chỉnh tuần trước dường như là quá nhỏ, được biểu hiện ra ở mức tỷ giá bán ra trong hệ thống ngân hàng luôn ở mức kịch trần ( 22.106 đồng/USD), còn tỷ giá bán ngoài thị trường tự do thì  vượt xa tỷ giá trong ngân hàng. Nhận thức được điều này, cũng như những bất lợi cho nền kinh tế Việt Nam nếu VND tiếp tục đứng giá ở mức cao so với USD và các bản tệ khác trong khu vực và trên thế giới, NHNN hôm nay lại một lần nữa không chỉ nới biên độ biến động tỷ giá liên ngân hàng lên đến 3% mà còn điều chỉnh cả tỷ giá bình quân liên ngân hàng.
Cần nói ngay đây là một hành động quyết đoán và rất đáng hoan nghênh nữa của NHNN, mở rộng đường cho khả năng để tỷ giá VND tự điều chỉnh theo điều kiện thị trường không chỉ trong nước mà còn trên quốc tế. Đây cũng là một phản ứng chính sách tích cực của NHNN theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ mới đây khi yêu cầu NHNN điều hành linh hoạt tỷ giá.
Về tác động tích cực của những động thái linh hoạt này của NHNN, chúng ta đã nói đến nhiều, nên chỉ xin tóm tắt ở đây rằng VND yếu hơn đáng kể so với chính nó cách đây hơn 1 tuần sẽ góp phần hóa giải những tác động tiêu cực mang đến cho nền kinh tế Việt Nam từ sự phá giá của những quốc gia khác, đặc biệt là Trung Quốc.
Quan trọng hơn, sự nới lỏng tỷ giá VND không chỉ bằng việc nâng trần biến động quanh tỷ giá bình quân liên ngân hàng mà còn điều chỉnh trực tiếp tỷ giá bình quân liên ngân hàng đã tạo ra cho NHNN ở một vị thế mới, phá bỏ mọi ràng buộc, hoàn toàn chủ động đón đầu các diễn biến bất lợi do các quốc gia khác mang đến. Cụ thể hơn, nếu mai kia Trung Quốc tiếp tục phá giá Nhân dân tệ (CNY) và/hoặc FED có nâng lãi suất USD thì NHNN không còn ở  thế bị động, lúng túng bởi một trói buộc nào đó nữa, mà họ đã biết sẽ phải làm gì, sẵn sàng có hành động đáp trả theo những kịch bản thích ứng.
Về phía thị trường, cũng đã hiểu rằng NHNN từ nay trở đi đã ở  thế sẵn sàng để cho VND suy yếu nhằm bảo vệ sản xuất và công ăn việc làm trong nước. Sẽ không còn một cái neo tỷ giá để nhiều người có thể trục lợi, từ việc vay USD với lãi suất thấp rồi bán lấy VND cho vay lãi suất cao, hay thay vì đầu tư sản xuất trong nước chỉ cần nhập khẩu về là bán có lãi…Chuyện vay nợ nước ngoài tràn lan cũng trở thành chuyện quá khứ, buộc ai, kể cả Chính phủ, muốn vay  mượn nước ngoài phải cân nhắc 2 lần, nhờ thế giảm áp lực nợ nước ngoài lên nền kinh tế Việt Nam nói chung và NHNN nói riêng khi không phải dốc quỹ dự trữ ngoại hối gián tiếp trả nợ thay cho cả nền kinh tế.
Về tác động tiêu cực của các động thái phá giá VND nói trên, nhiều người cứ mang con "ngáo ộp" là lạm phát ra để cản trở việc phá giá VND. Nhưng, cũng như đã nói nhiều lần, nền kinh tế thế giới đang đối mặt với tình hình giảm phát, với giá cả các loại hàng hóa đều trên xu hướng giảm sút mạnh, đặc biệt từ đầu năm nay, chủ yếu do nhu cầu sụt giảm, đặc biệt từ Trung Quốc. Sự giảm phát trên thế giới đã lan đến Việt Nam, làm cho lạm phát ở Việt Nam cũng đang ở mức thấp kỷ lục trong hàng thập kỷ nay. Trong bối cảnh này thì việc phá giá bản tệ nói chung trên thế giới, và Việt Nam nói riêng, chắc chắn sẽ không gây ra áp lực đáng kể lên lạm phát, ít nhất trong nhiều tháng tới.
Rồi cũng có nhiều người ta thán rằng họ đang chịu thiệt vì khi nhập khẩu hàng hóa về, họ phải trả nhiều VND hơn, chi phí tăng lên, lãi giảm đi… để mong NHNN đừng phá giá nữa. Nhưng, chưa nói đến khía cạnh phải đặt ưu tiên hàng đầu cho lợi ích của cả nền kinh tế , lời ca thán này là sai, ngụy biện, vì các nước xuất khẩu sang Việt nam nhìn chung thường đã phá giá bản tệ của họ trước khi NHNN phá giá VND, hoặc phá giá nhiều hơn mức VND bị phá, nên giá nhập khẩu về Việt Nam tính ra VND không thể tăng lên, nếu không muốn nói là chắc chắn đã giảm đi.
Tóm lại, phản ứng  chính sách vừa qua của NHNN là đúng đắn và chắc chắn sẽ mang lợi ích chung cho cả nền kinh tế. Kỳ vọng rằng NHNN tiếp tục vững bước trên con đường đi đã lựa chọn để sẵn sàng đối phó tốt hơn những bất trắc ngoại lai mai đây.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).