http://www.doanhnhansaigon.vn/van-de/ty-gia-nen-thuan-theo-thi-truong/1091159/
Sau nhiều năm trồi sụt mạnh,
tỷ giá VND đã hưởng một thời kỳ vài năm tương đối ít biến động cho đến nửa đầu
năm trước. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thì coi sự bình ổn tương đối này của tỷ
giá là thành tích của mình, chủ yếu nhờ vào những tuyên bố chắc như đinh đóng cột
rằng sẽ không điều chỉnh tỷ giá quá 2-3% trong năm.
Thực ra, mấy năm trước
là thời kỳ có thể nói là khá “thiên thời địa lợi” cho NHNN. Thứ nhất, lạm phát ở
Việt Nam sau nhiều năm như con ngựa bất kham, là hậu quả của chiến lược tăng
trưởng dựa vào mở rộng mạnh chính sách tiền tệ và tài khóa, đã bị kìm chân, và
đã giảm từ mức 2 con số xuống còn 1 con số, chủ yếu nhờ sự thay đổi trong chiến
lược của chính phủ, chuyển từ ưu tiên tăng trưởng cao sang ưu tiên ổn định vĩ
mô. Lạm phát giảm đã làm giảm đáng kể áp lực lên tỷ giá VND.
Thứ hai, đồng USD đã suy
yếu đáng kể so với các bản tệ chính trên thế giới, trong khi lãi suất của Mỹ xuống
mức gần 0 đã làm giới đầu tư mang USD đi tìm những thị trường mới nổi, trong đó
có Việt Nam, để đầu tư hưởng lãi suất cao hơn. Điều này là nguyên nhân quan trọng
để NHNN vừa có điều kiện mua bổ sung quỹ dự trữ ngoại hối, vừa không phải vất vả
chống đỡ cho VND như trước, khi cung USD luôn thiếu hụt.
Chưa kể đến việc tiếp tục
siết chặt các quy định về quản lý ngoại hối (để hạn chế thị trường tự do, hạn
chế cầu USD của nền kinh tế), chỉ với 2 yếu tố thuận lợi trên đã giúp NHNN “ghi
điểm” với bàn dân thiên hạ khi cả năm có khi chỉ phải điều chỉnh tỷ giá 1 lần ở
mức nhỏ. Thậm chí nhiều người còn hối hận vì đã trót không tin vào lời cam kết
(không phá giá) của NHNN để phải chịu thiệt hại, ví dụ, do “ôm” vào USD thay vì
gửi tiết kiệm bằng VND.
Nhưng tình hình đã có những
thay đổi căn bản kể từ giữa năm 2014 đến nay. Đầu tiên là Mỹ rục rịch chuẩn bị
cho việc nâng lãi suất USD khi bắt đầu thấy có những dấu hiệu tích cực trong sự
phục hồi của nền kinh tế nước này. Mặc dù mới chỉ là “rập rình” tăng lãi suất
USD mà mãi vẫn chưa kết được thời điểm thực hiện, nhưng việc này của Mỹ đã lập
tức tạo ra những đợt sóng bán tháo tài sản và chuyển vốn sang USD hoặc vào các
tài sản niêm yết bằng USD. Hậu quả là sự mất giá mạnh của hàng loạt bản tệ trên
thế giới và trong khu vực so với USD. Hậu quả tiếp theo là xuất khẩu của Việt
Nam bị ảnh hưởng nặng nề, do VND bị neo chặt vào USD, và do đó lên giá thực so
với nhiều bản tệ khác. Chưa kể là VND còn lên giá thực ngay với chính USD, vì
tuy lạm phát ở Việt Nam đã giảm mạnh nhưng vẫn còn cao hơn lạm phát ở Mỹ, trong
khi tỷ giá danh nghĩa VND/USD đã thay đổi không đáng kể. Nhập siêu đã vì thế mà
quay lại từ đầu năm nay và đã liên tục tăng lên cho đến hiện tại.
Nhập siêu ngày càng tăng
đã tạo ra áp lực lớn lên tỷ giá VND, đòi
hỏi NHNN phải có những điều chỉnh kịp thời. Nhưng NHNN đã không những bỏ lỡ cơ
hội để chủ động điều chỉnh tỷ giá vào những thời điểm thuận lợi mà còn tự làm
khó mình thêm bằng sự lặp đi lặp lại cam kết và quyết tâm không phá giá quá mức
đã tuyên bố từ đầu năm 2014-15 (2-3%). Những lý do đằng sau chuyện cam kết này có
thể là do NHNN không đánh giá đúng được sức mạnh của thị trường, hay quá tự tin
vào khả năng của mình, và/hoặc xem thường tác động bất lợi gây ra bởi VND mạnh
cho cả nền kinh tế. Dù là lý do nào chăng nữa thì kết cục thị trường vẫn luôn
đúng, và NHNN đã phải dùng hết hạn mức phá giá 2% trong chưa hết nửa đầu năm.
Rồi một thay đổi bất lợi
khác xảy đến bất ngờ, mà có thể coi là cú đấm bồi mang tính quyết định lên
chính sách tỷ giá của NHNN là chuyện Trung Quốc phá giá Nhân dân tệ (CNY), mà lại
còn phá liên tiếp 3 lần trong 3 ngày kế tiếp nhau trong tháng 8 với cường độ lớn.
Ngay sau đợt phá giá lần thứ nhất của Trung Quốc (11/8), NHNN đã phải tuyên bố
nới rộng biên độ biến động tỷ giá quanh tỷ giá bình quân liên ngân hàng thêm 1
điểm %, mà thực chất là việc chấp nhận cho VND mất giá thêm 1%. NHNN lý giải
hành động này là để đối phó với hành động phá giá của Trung Quốc.
Nhưng có lẽ không chỉ
NHNN mà còn rất nhiều người không thể ngờ được là Trung Quốc lại tiếp tục phá
giá lần 2 và lần 3 trong 2 ngày kế tiếp sau đó. So với mức mất giá của CNY thì
1% mất giá của VND là quá nhỏ. Hơn nữa, các bản tệ khác trên thế giới lại tiếp
tục mất giá thêm sau những hành động này của Trung Quốc, càng làm tăng áp lực
lên VND. Kết cục là NHNN lại một lần nữa ngay trong tháng 8 phải không chỉ tăng
thêm biên độ biến động tỷ giá thêm 1% mà còn nâng cả tỷ giá bình quân liên ngân
hàng thêm 1% nữa.
Điều đáng nói là trong lần
phá giá VND lần 2 vừa qua (tuy vẫn quá nhỏ), NHNN lý giải là chủ động và linh
hoạt đón trước việc Mỹ tăng lãi suất. Thế nhưng, lưu ý là trong suốt cả giai đoạn
dài trước đó mặc dù có nhiều khuyến nghị NHNN phá giá VND do tác động của khả
năng Mỹ tăng lãi suất làm các bản tệ khác mất giá so với VND, nhưng NHNN đã hầu
như bỏ qua yếu tố này. Bởi vậy, có thể nói, cả 2 đợt điều chỉnh tỷ giá VND chẳng
qua chỉ là phản ứng thụ động, đối phó với tình hình, đặc biệt xuất phát từ cái
thế cố gắng không phải phá vỡ cam kết hạn mức phá giá mà tự NHNN đặt ra.
Điều quan trọng hơn ở
trong bài này là bài học gì cho NHNN rút ra từ diễn biến mô tả bên trên. Trước
áp lực xem ra vẫn còn rất lớn lên tỷ giá VND, với bằng chứng là tỷ giá trong
ngân hàng đã luôn kịch trần, còn tỷ giá trên thị trường tự do thì lên đến gần
23.000 đồng/USD, NHNN lại một lần nữa lặp lại lập trường không phá giá thêm từ
nay cho đến hết năm và sang cả đầu năm sau, rằng không có lý do gì để phá giá
thêm nữa. Có lẽ NHNN vẫn tự tin cho rằng niềm tin của thị trường vào uy tín và
khả năng của NHNN vẫn còn rất lớn. Hoặc NHNN cũng cho rằng điều kiện thị trường
đang ủng hộ họ sau 2 đợt phá giá để đúng là sẽ không cần phải phá giá nữa
chăng?
Nếu cho rằng uy tín vẫn
còn lớn thì tự thân những sự kiện liên quan đến tỷ giá VND trong năm nay đã cho
câu trả lời. Còn về khả năng can thiệp của NHNN, với quỹ dự trữ ngoại hối từ mức
37 tỷ USD (tương đương chưa đến 12 tuần
nhập khẩu là mức an toàn tối thiểu) được tiết lộ tháng trước đã sụt giảm đáng kể
sau một thời gian can thiệp đến hàng tỷ USD thì chắc chắn mức hiện nay đã tụt
xuống hơn nữa so với mức an toàn tối thiểu.
Về điều kiện thị trường,
sau khi Trung Quốc phá giá liên tục 3 ngày liền, nhiều chuyên gia đã cho rằng
Trung Quốc sẽ không phá giá nữa, và đây có thể là cơ sở để NHNN tạm thời an tâm
với mức phá giá VND của mình. Nhưng tiếc là Trung Quốc lại tiếp tục phá giá CNY
trong mấy ngày qua, tuy ở mức nhỏ hơn so với 3 lần trước đây. Hành động của
Trung Quốc đã gây lo ngại sâu sắc vì nguy cơ của một cuộc chiến tiền tệ, khi Nhật
mới đây đã lên tiếng về tác động của CNY. Nếu Trung Quốc và những đối thủ của
Trung Quốc bị cuốn vào cuộc chơi phá giá, chắc chắn VND, vốn đang phải chịu áp
lực mất giá, sẽ phải chịu thêm nữa áp lực mất giá.
Dù cuộc chiến tiền tệ mới
chỉ là nguy cơ, nhưng tự thân nó cho thấy NHNN lại đang đánh cược một cách
không cần thiết với một thị trường đầy biến động về chính sách tỷ giá của mình.
Điều mà NHNN nên làm không phải là lặp lại một cam kết khác về hạn mức “cứng”
(không phá giá thêm) để rồi rất có khả năng một lần nữa phải phá vỡ cam kết đó.
Thay vào đó, hãy biết nương theo, lợi dụng tình hình biến động của thị trường
thế giới để tuyên bố và thi hành một chính sách tỷ giá mềm dẻo, có đường tiến
và có cả đường lùi theo điều kiện thị trường. NHNN cần nhận thức rõ một điều là
không thể chiến thắng được thị trường để không có những hành động đi ngược thị
trường, gây ra những tác hại không đáng có.
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ
(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)
19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU
18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.
17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)
16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)
15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)
14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)
13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)
12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)
11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)
10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)
9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)
8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)
7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)
6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)
5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)
4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).
3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)
2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).
1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).
19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU
18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.
17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)
16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)
15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)
14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)
13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)
12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)
11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)
10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)
9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)
8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)
7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)
6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)
5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)
4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).
3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)
2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).
1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).
No comments:
Post a Comment