Tuesday, 19 July 2022

Duy trì room tín dụng: Nên hay không? (Bài đăng trên KTSG, 18/7/2022)

https://thesaigontimes.vn/duy-tri-room-tin-dung-nen-hay-khong/ 

Trong số tuần trước, KTSG có đăng bài “Vì sao Việt Nam vẫn cần ‘room’ tín dụng?” (“bài viết”). Bài viết dường như cổ xúy việc duy trì room tín dụng, và kết luận rằng nhờ room tín dụng nên đã đạt được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô (lạm phát được quản lý tốt, tỷ giá biến động trong biên độ hẹp), giúp gia tăng dòng vốn đầu tư nước ngoài.

Người viết nhận thấy một số lập luận trong bài viết chưa chặt chẽ nên kết luận như trên là chưa thỏa đáng. Theo người viết, ngược lại, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cần nhanh chóng bỏ room tín dụng, tức là bỏ việc đặt hạn mức tăng trưởng tín dụng hàng năm.    

Vai trò của hệ thống ngân hàng Việt Nam “rất khác” nhưng là khác thế nào?

Bài viết cho rằng hệ thống ngân hàng Việt Nam đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bơm vốn cho nền kinh tế. Chắc vì thế bài viết mới đưa ra nhận định rằng vai trò của hệ thống ngân hàng Việt Nam “rất khác”.

Các dữ liệu và lập luận đưa ra trong bài viết nêu ra ba ý minh họa cho cái sự “rất khác” này: (i) tăng trưởng tín dụng của Việt Nam đứng hàng đầu ở châu Á; (ii) nhu cầu vốn dài hạn của nền kinh tế đang phụ thuộc (nhiều) vào nguồn vốn ngắn hạn của ngân hàng; và (iii) hiệu quả của tín dụng trong việc tạo ra tăng trưởng kinh tế đã được cải thiện nhờ áp dụng room tín dụng.

Đáng tiếc là cả ba ý trên đều không nêu bật được sự “rất khác” của vai trò của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong nền kinh tế. Để chứng minh được sự rất khác này, bài viết lẽ ra cần có thêm những so sánh tương ứng với quốc tế và khu vực.

Tuy ý (i) trên có sự so sánh với khu vực, nhưng từ sự so sánh đó thì không thể dẫn đến kết luận gì về sự khác biệt trong vai trò của hệ thống ngân hàng với nền kinh tế. Tăng trưởng tín dụng cao chỉ là kết quả của chủ ý “bơm” mạnh tiền (nới lỏng (quá mức) chính sách tiền tệ) của NHNN trong tham vọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (ý này sẽ được nói thêm ở phần dưới). Bài viết lẽ ra cần chứng minh rằng, ví dụ, ở nhiều nước khác, với cùng mức bơm tiền (tăng cung tiền từ ngân hàng trung ương) nhưng tăng trưởng tín dụng đã không tăng mạnh như ở Việt Nam, để từ đó mới làm toát lên cái sự “rất khác” ở Việt Nam.    

Ở ý (ii), tương tự, bài viết cũng cần có những so sánh với các nước khác để cho thấy (hầu như) chỉ có mỗi Việt Nam là xảy ra tình trạng nguồn vốn ngắn hạn ngân hàng phải gánh vác nhu cầu vốn dài hạn của nền kinh tế. Nếu không làm được như vậy thì buộc phải kết luận rằng tình trạng này là rất... bình thường!

Ý (iii) là rất khiên cưỡng khi cho rằng nhờ có room tín dụng mà hiệu quả sử dụng vốn đã được cải thiện. Lý do đơn giản của sự cải thiện này là tăng trưởng tín dụng đã giảm mạnh. Nhưng tăng trưởng tín dụng giảm hay tăng đều là chủ ý, đều bắt nguồn từ việc chính sách tiền tệ của NHNN được thắt chặt hay nới lỏng thêm.

Room tín dụng nếu có vai trò ở đây thì chỉ là một sự biểu hiện ra thành câu chữ, văn bản của đường hướng chính sách tiền tệ của NHNN trong mỗi thời kỳ. Chẳng hạn, room tín dụng năm nay nếu được đặt ở mức là 15% so với mức 25% của năm trước thì cần phải hiểu rằng NHNN muốn vặn bớt lại vòi bơm tiền trong năm nay so với năm trước, và chỉ thế thôi.

Trên hết, cần lưu ý rằng tiền để cho vay (tín dụng) trong hệ thống ngân hàng không phải là do các ngân hàng thương mại tự in/bơm ra, mà đều bắt nguồn từ cái van tổng là NHNN. Nên nếu NHNN giảm cung tiền thì không có cách gì mà tăng trưởng tín dụng (của cả hệ thống) lại có thể “bứt phá” được.

NHNN cũng quản lý cung tiền thông qua... lãi suất!

Tiếp theo các lập luận chưa hợp lý nói trên, bài viết đề cập đến một vấn đề còn chưa hợp lý hơn nữa. Một mặt, trong khi chỉ ra rằng Fed (ngân hàng trung ương Mỹ) quản lý cung tiền thông qua lãi suất, bài viết lại cho rằng việc quản lý cung tiền ở Việt Nam chủ yếu thông qua kênh ngân hàng thương mại.

Nhầm lẫn trên có lẽ bắt nguồn từ nhận thức sai lầm, như nói ở phần trên, rằng tín dụng của ngân hàng thương mại là độc lập với cung tiền của NHNN nên nếu muốn siết/quản lý cung tiền thì chỉ cần siết/quản lý tăng trưởng tín dụng của ngân hàng thương mại là xong.  

Một khi đã nói đến cung tiền – money supply thì phải hiểu rằng đây là cung tiền của/từ NHNN chứ không phải là của/từ một ngân hàng hay cả hệ thống ngân hàng thương mại. Do đó, quản lý cung tiền luôn là việc của NHNN và được thực hiện tại NHNN, thông qua các mức lãi suất điều hành của NHNN như lãi suất chiết khấu, tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm, lãi suất trên thị trường mở. Tóm lại là về bản chất cũng không có sự khác biệt gì so với Mỹ.  

Cần sớm bỏ room tín dụng

Từ những bất hợp lý được chỉ ra ở trên, có thể nói bài viết đã không nêu ra được một căn cứ chắc chắn nào hậu thuẫn cho việc ủng hộ duy trì room tín dụng cho cả hệ thống ngân hàng nói chung và từng ngân hàng thương mại nói riêng. Tuy nhiên, người viết cũng không muốn kết luận một cách dễ dãi từ đây, tuy khá... logic, rằng cần phải làm ngược lại, tức bỏ room tín dụng.

Thực tế, người viết đã có một số bài viết trên KTSG về cùng đề tài, mà gần đây nhất là bài “Hạn mức tăng trưởng tín dụng: những lý do… chưa xác đáng!” (1). Một số lập luận trong bài này, cũng đã được nêu trên, là: (i) NHNN hoàn toàn đúng đắn khi cẩn trọng với rủi ro đến từ việc tín dụng tăng trưởng quá cao. Nhưng để quản lý tăng trưởng tín dụng thì NHNN chỉ cần quản lý cung tiền. Muốn hạn chế tăng trưởng tín dụng thì chỉ cần hạn chế tăng cung tiền/hạn chế nới lỏng chính sách tiền tệ, chứ không phải là quay ra ban hành và áp đặt hạn mức tăng trưởng tín dụng cho từng ngân hàng và cả hệ thống ngân hàng; và (ii) Dù người viết và các tổ chức nước ngoài như IMF và Moody’s đã chỉ ra những bất cập của hạn mức tăng trưởng tín dụng nhưng NHNN vẫn “kiên định” duy trì hạn mức này. Sự kiên định này cho thấy dường như NHNN đang sử dụng hạn mức này với các ý đồ khác, chẳng hạn sử dụng nó như “cây gậy hay củ cà rốt” để “khuyến khích” tổ chức tín dụng tuân thủ tốt định hướng chính sách tiền tệ của NHNN. Nếu đúng vậy thì dễ hiểu tại sao NHNN lại luôn bảo vệ công cụ hạn mức này nhưng tiếc là lại bằng những lý do chưa xác đáng,

Nói cách khác, room tín dụng cần sớm được loại bỏ nhưng, về phía NHNN, họ sẽ không bỏ nó chừng nào chưa tìm ra được công cụ “cây gậy hay củ cà rốt” khác để thay thế.   

-----

(1) https://thesaigontimes.vn/han-muc-tang-truong-tin-dung-nhung-ly-do-chua-xac-dang/

Monday, 18 July 2022

Tại sao lãi suất lại tăng? (Bài đăng trên KTSG, 17/7/2022)

https://thesaigontimes.vn/tai-sao-lai-suat-lai-tang/

Lãi suất huy động và cho vay của các ngân hàng thương mại trong nửa đầu năm nay có xu hướng tăng với mức tăng khoảng 0,5 đến 1 điểm % tính đến tháng 6 so với cuối năm trước.

Một số ý kiến cho rằng nguyên nhân của xu hướng tăng này là do thanh khoản trong hệ thống ngân hàng không còn dồi dào như năm 2021. Cụ thể, nhu cầu tín dụng nửa đầu năm nay đã tăng mạnh, ở mức 8,5% so với cuối năm 2021 (mức tương ứng của năm 2021 là 6,8%), trong khi huy động vốn chỉ tăng gần 4% so với cùng kỳ (1).

Nguyên nhân trên là hoàn toàn không sai. Có điều, nó vẫn chưa trả lời được đâu là nguồn gốc của lãi suất tăng, vì nguyên nhân tại sao vốn huy động tăng chậm vẫn chưa được trả lời.

Tại sao huy động vốn tăng chậm?

Vốn huy động là một hàm số với nhiều biến số chi phối, trong đó có lãi suất huy động và mức độ sẵn có của vốn có thể huy động trong nền kinh tế. Với các điều kiện khác không thay đổi, gồm lãi suất huy động không thay đổi, số vốn huy động được sẽ tăng/giảm nếu mức độ sẵn có của vốn có thể huy động trong nền kinh tế cũng tăng/giảm tương ứng.

Câu hỏi tiếp đến là, điều gì quyết định số vốn có thể huy động trong nền kinh tế? Đó chính là cung tiền của ngân hàng trung ương. Cung tiền nhiều hay ít, tăng lên hay giảm đi thường được thể hiện qua số liệu M2, mà ở Việt Nam được gọi là tổng phương tiện thanh toán.

Số liệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy, như ở biểu dưới, tăng trưởng của M2 so với cùng kỳ năm trước đã  giảm tốc rõ rệt kể từ nửa năm sau của 2021 kéo dài sang bốn tháng đầu năm 2022. Cụ thể, bốn tháng đầu năm nay, tăng trưởng M2 trung bình là 11,95%. Nửa năm sau của năm 2021, tốc độ này cao hơn một chút, ở mức 12,2%, so với mức cao hơn thế nhiều là 14,52% ghi nhận trong nửa năm đầu 2021.

Do tháng 4 là tháng mới nhất có số liệu về M2 nên chưa thể khẳng định những tháng sau đó xu hướng giảm tốc của M2 quan sát trước đó có tiếp tục hay không. Tuy nhiên, dựa vào diễn biến mới gần đây của NHNN tăng cường hút tiền qua kênh phát hành tín phiếu và bán USD giao ngay, có thể kết luận tương đối chắc chắn rằng xu hướng giảm tốc M2 đã và đang tiếp diễn trong các tháng qua cho đến nay.

Chính cung tiền, M2, tăng trưởng chậm lại đã làm lượng tiền có thể huy động trong nền kinh tế để cho vay không còn dồi dào như trước trong bối cảnh nhu cầu vay từ nền kinh tế đã tăng mạnh như nói ở trên. Tại mức lãi suất huy động không đổi, do cung tiền giảm tốc nên tốc độ tăng vốn huy động được sẽ phải giảm tương ứng. Để phá vỡ sự trì trệ này, tăng cường huy động vốn, ngân hàng buộc phải tăng lãi suất huy động và rốt cuộc là lãi suất cho vay.        

“Room” tín dụng có sớm được nới?

Khi đã rõ gốc rễ của xu hướng tăng lãi suất hiện nay thì có thể hiểu đúng điều gì có liên quan đang và sẽ xảy ra tiếp. Nhiều người cho rằng room (trần hạn mức tăng trưởng) tín dụng sẽ sớm được NHNN nâng lên cho nhiều ngân hàng thương mại vốn có tốc độ tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm đã tiệm cận mức trần này để đáp ứng nhu cầu tín dụng đang tăng mạnh, đặc biệt từ gói hỗ trợ lãi suất 2%.

Tuy nhiên, trong xu thế siết lại chính sách tiền tệ, giảm tốc độ cung tiền như nói ở trên trong một nỗ lực giảm áp lực lạm phát và mất giá tiền đồng, thật khó để thấy NHNN sẽ nới hạn mức tăng trưởng tín dụng chung cho hệ thống ngân hàng trong nửa cuối năm nay, bởi điều này đồng nghĩa với việc đảo ngược những gì mà NHNN đang làm!      

Với từng ngân hàng riêng lẻ, room tín dụng có thể được tinh chỉnh lên xuống ở một chừng mực nào đó nhưng tính trung bình vẫn phải đảm bảo ra được một con số cho toàn hệ thống ngân hàng không được vượt quá quỹ đạo của việc siết lại cung tiền đang diễn ra, tức là một tốc độ tăng trưởng M2 khiêm tốn hơn trong phần còn lại của năm nay.

Nhưng sẽ là khó chấp nhận với những ngân hàng vẫn còn room tín dụng (được cấp từ đầu năm) nhưng lại bị NHNN cắt đi để dành chỗ cho các ngân hàng khác đã dùng hết hoặc sắp hết room này. Thế nên tình huống “kẻ ăn không hết, người lần chẳng ra” này sẽ còn tiếp tục trong thời gian tới, chừng nào xu hướng giảm tốc M2 trong các tháng qua vẫn tiếp tục.

Trên thực tế, sẽ có nhiều trường hợp một số ngân hàng không dùng hết room tín dụng trong thời gian còn lại của năm, đồng thời sẽ có một số khác “vô tình” vi phạm, tức cho vay quá mức được phép, như vẫn từng xảy ra. Kết quả là room tín dụng chung của hệ thống không nhất thiết bị phá vỡ (ở mức độ lớn).

Điều may mắn cho tất cả các bên là NHNN không công khai các tính toán cụ thể về room tín dụng cho từng ngân hàng cũng như tình hình thực hiện room tín dụng của từng ngân hàng nên các sự vi phạm nếu có thì cũng chỉ người trong cuộc biết mà thôi.

------

(1) https://nld.com.vn/kinh-te/vi-sao-lai-suat-tien-gui-day-song-20220710145810348.htm

Saturday, 2 July 2022

Lãi suất điều hành chưa tăng nhưng chính sách tiền tệ đã bắt đầu thắt chặt! (Bài đăng trên KTSG, 30/6/2022)

https://thesaigontimes.vn/lai-suat-dieu-hanh-chua-tang-nhung-chinh-sach-tien-te-da-bat-dau-that-chat/

Trong làn sóng tăng lãi suất, thắt chặt chính sách tiền tệ của nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới, đường hướng chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong thời gian tới ra sao là một vấn đề còn đang gây thắc mắc. Hiện tại, NHNN vẫn khẳng định “tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành” (1).

Chính sách tiền tệ đã bắt đầu thắt chặt

Phát ngôn trên của NHNN có thể được thị trường “phiên dịch” ra thành chính sách tiền tệ sẽ không bị thắt chặt, bởi nếu hiểu theo lẽ thông thường thì thắt chặt tiền tệ phải đi đôi với, là kết quả của việc nâng lãi suất điều hành.

Tuy nhiên, thực tế thì NHNN đã bước đầu thắt chặt chính sách tiền tệ của mình (giảm cung tiền), được thể hiện rõ qua việc liên tục tung tín phiếu ra để hút tiền từ hệ thống ngân hàng về, với quy mô được ước tính khoảng 70.000 tỉ đồng. Nói cách khác, cung tiền thực sự đã giảm đi 70.000 tỉ đồng, nếu các điều kiện khác không thay đổi. Ví dụ, NHNN không đồng thời cho vay tái cấp vốn, cho vay chiết khấu giấy tờ có giá cho các ngân hàng thương mại từ khoản 70.000 tỉ đồng này (nhưng hiện tại chưa thấy có báo cáo nào đề cập đến các hoạt động này).

NHNN cũng được báo cáo đã bán ra trong tháng 5 khoảng 7 tỉ đô la Mỹ qua phương thức kỳ hạn 3 tháng không hủy ngang (tổng cộng qua các đợt lên đến hơn 10 t đô la)(2). Dựa vào hoạt động này, một số báo cáo cũng cho rằng NHNN đã hút tiền đồng về. Tuy nhiên, kết luận này là quá sớm bởi vẫn có khả năng khi đến thời điểm thanh toán, NHNN sẽ tung ngược trở lại một phần hoặc toàn bộ số tiền đồng thu từ bán đô la kỳ hạn 3 tháng này ra nền kinh tế, thông qua mua tín phiếu và/hoặc cho vay tái cấp vốn, tái chiết khấu.

Do vậy, điều chỉ có thể khẳng định tại thời điểm này là NHNN đã thắt chặt chính sách tiền tệ thông qua hút tiền đồng từ kênh tín phiếu như nói trên.    

Thắt chặt chính sách tiền tệ nhưng lại giữ nguyên các mức lãi suất điều hành, hiểu thế nào cho đúng?

Quay lại với phát biểu của NHNN nêu ở phần đầu. Ở đây có chút hơi hướng của sự “nói vậy mà không phải vậy”.

Các mức lãi suất điều hành được đề cập đến thường chỉ là lãi suất cho vay của NHNN. Để giảm cung tiền, tức hạn chế cho vay ra nền kinh tế mà không phải tăng các lãi suất điều hành thì NHNN chỉ còn cách... ngừng cho vay ngân hàng thương mại. Đơn giản bởi một khi tiếp tục cho vay ngân hàng thương mại thì NHNN phải tiếp tục áp dụng các mức lãi suất điều hành hiện thời, vốn ở mức thấp nhằm khuyến khích tăng trưởng tín dụng trong giai đoạn nới lỏng chính sách tiền tệ thời đại dịch trước đây.

Tuy nhiên, với tư cách là người cho vay cuối cùng, NHNN phải luôn sẵn sàng cho vay ngân hàng thương mại trong mọi thời điểm để tránh thiếu hụt, khủng hoảng thanh khoản. Như thế có nghĩa là NHNN không thể đóng băng việc cho vay ngân hàng thương mại trong bất cứ thời điểm nào.

Mặt khác, lãi suất điều hành, và tức là lãi suất cho vay của NHNN, trên danh nghĩa có thể chưa/không tăng nhưng thực tế NHNN đã tăng lãi suất đi vay của mình. Điều này được thể hiện qua việc NHNN phải nâng lãi suất đấu thầu tín phiếu kỳ hạn 7 ngày từ 0,3% lên 0,7% trong các phiên đấu thầu tuần trước (3).

Kết cục, NHNN đang phải đối mặt với tình huống vẫn phải sẵn sàng cho vay với lãi suất thấp trong khi lại đi “huy động” với lãi suất cao nhằm giảm cung tiền. Mâu thuẫn này chỉ có thể được giải quyết thông qua hoặc chính thức công bố nâng các mức lãi suất điều hành như việc phải làm của nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới, hoặc ngấm ngầm áp dụng các mức lãi suất cho vay cao hơn với từng ngân hàng thương mại để... không phải công bố các mức lãi suất điều hành mới.  

Đương nhiên, sự ngấm ngầm nói trên, nếu có, là điều không có lợi xét trên nhiều khía cạnh nên tốt nhất là không nên được áp dụng. Do đó, có thể nói, một khi NHNN đã bắt đầu siết lại chính sách tiền tệ (hút tiền đồng về) thì việc công bố nâng các mức lãi suất điều hành chỉ còn là vấn đề thời gian.

Trên thị trường, dường như chính vì phát biểu tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành của NHNN mà nhiều báo cáo phân tích đã đưa ra dự đoán NHNN chắc sẽ chỉ nâng lãi suất điều hành vào quí 4 năm nay.

Như đã phân tích, thật khó mà tưởng tượng NHNN sẽ đóng băng việc cho vay các ngân hàng thương mại tại các mức lãi suất điều hành hiện thời trong cả mấy tháng, thậm chí đến gần nửa năm nữa. Việc nếu có ngấm ngầm áp dụng lãi suất cao hơn đối với từng ngân hàng thương mại cũng chỉ mang tính câu giờ.

Do vậy, nếu NHNN tiếp tục xu hướng thắt chặt chính sách tiền tệ như được khởi động từ trung tuần tháng 6 này với các đợt phát hành tín phiếu thì NHNN sẽ phải sớm công bố nâng các mức lãi suất điều hành.   

Trường hợp không diễn ra như vậy thì... phải xem lại lập trường chính sách tiền tệ của NHNN. Rất có thể nó đã bị đảo chiều khi đó!

------

(1) https://cafef.vn/tai-chinh-da-chieu-sap-tang-lai-suat-2022062508485259.chn

(2)https://cafef.vn/ngan-hang-nha-nuoc-da-ban-ra-hon-10-ty-usd-tu-du-tru-ngoai-hoi-20220625103217051.chn

(3)https://cafef.vn/vua-khoi-dong-lai-kenh-hut-tien-nhnn-da-rut-gan-50000-ty-ra-khoi-he-thong-20220624101259464.chn

Monday, 20 June 2022

Hỗ trợ lãi suất có phải là nới lỏng tiền tệ? (Bài đăng trên KTSG, 17/6/2022)

https://thesaigontimes.vn/ho-tro-lai-suat-co-phai-la-noi-long-tien-te/

Một số báo cáo, nhận định gần đây cho rằng chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang  “lệch pha”, đi ngược hướng với thế giới. Trong khi nhiều nước trên thế giới đang theo chiều hướng nâng lãi suất, thắt chặt chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát thì NHNN đang (chịu sức ép phải) nới lỏng chính sách tiền tệ bởi đang triển khai gói hỗ trợ lãi suất 2%. Ngoài ra, việc đẩy mạnh đầu tư công cũng được cho là biểu hiện của, dẫn đến nới lỏng chính sách tiền tệ.

Hai nhận định trên là không đúng hoặc chưa đủ cơ sở để kết luận như vậy.

Về nhận định rằng NHNN triển khai gói hỗ trợ lãi suất 2% cũng tức là nới lỏng chính sách tiền tệ, điều này chỉ đúng khi NHNN tăng (thêm) cung tiền. Việc tăng cung tiền để một phần đáp ứng nhu cầu chi trả phần trả lãi tính trên phần dư nợ cho vay doanh nghiệp mà ngân hàng thương mại cho vay doanh nghiệp tại mức lãi suất 2%. Một phần khác của cung tiền tăng thêm có thể dùng để tái cấp vốn cho ngân hàng thương mại khi họ cho đã cho vay doanh nghiệp theo gói hỗ trợ lãi suất 2% này.

Tuy nhiên, trên thực tế, nguồn chi trả tiền lãi trả cho mức hỗ trợ 2% lãi suất là từ ngân sách nhà nước, với tổng hạn mức là 40 ngàn tỷ đồng (1). Nói cách khác, NHNN sẽ không (phải) chi ra/in thêm 40 ngàn tỷ đồng bù lãi này, và cơ quan chức năng phải làm việc này là Kho bạc Nhà nước.

Do chi tiêu ngân sách, dù là chi tiêu công, không phải là tiền được cung ứng từ NHNN (điều này sẽ được nói thêm ở phần sau), nên rốt cuộc cung tiền của NHNN không thay đổi khi gói hỗ trợ lãi suất 2% được triển khai. Bởi vậy, việc NHNN (phải) tham gia vào gói hỗ trợ lãi suất 2% hoàn toàn không đồng nghĩa với việc NHNN (phải) nới lỏng chính sách tiền tệ.

Chuyển sang vấn đề NHNN tái cấp vốn để ngân hàng thương mại cho vay theo gói hỗ trợ lãi suất, điều này chỉ là một lựa chọn của NHNN chứ NHNN không nhất thiết phải làm vậy. Chẳng hạn, nếu thấy cung tiền đã ở mức đủ lớn, quá lớn trong năm nay, có thể tăng mạnh thêm áp lực lạm phát, NHNN sẽ không tái cấp vốn (cấp thêm, cấp lại vốn) cho ngân hàng thương mại mà buộc ngân hàng thương mại phải cắt giảm cho vay các doanh nghiệp và lĩnh vực khác không thuộc diện ưu tiên, không là đối tượng của gói hỗ trợ lãi suất. Lúc này, hạn mức tăng trưởng tín dụng mà NHNN cấp cho ngân hàng thương mại không (cần) thay đổi, và cung tiền của NHNN cũng không (cần) thay đổi. Nói cách khác, việc tham gia của NHNN vào gói hỗ trợ lãi suất cũng vẫn không phải là, không liên quan gì đến nới lỏng chính sách tiền tệ.

Về vấn đề tăng đầu tư công đã và đang được hiểu là nới lỏng chính sách tiền tệ. Như đã nói qua ở trên, nguồn tiền cho đầu tư công là từ ngân sách, có được phần lớn là do thu thuế phí và các khoản trích nộp của doanh nghiệp (nhà nước)... Ngân sách nhà nước nếu có liên quan đến NHNN chỉ là ở góc độ, trong những hoàn cảnh đặc biệt, NHNN cho vay trực tiếp ngân sách. Nhưng những hoàn cảnh dẫn đến cho vay kiểu này là rất hi hữu (và bị cấm ở nhiều nước). Thông thường, NHNN có muốn/bị phải hỗ trợ Ngân sách nhà nước thì chỉ có thể làm một cách gián tiếp, thông qua tăng cung tiền để ngân hàng thương mại mua vào trái phiếu Kho bạc (mà không làm tăng lợi suất trái phiếu). Hoặc hi hữu hơn thì là ngân hàng trung ương sẽ trực tiếp mua trái phiếu chính phủ, một hành động gọi là nới lỏng định lượng xảy ra ở Mỹ.

Trong hoàn cảnh hiện tại của Việt Nam, nhất là trong gói hỗ trợ, kích thích kinh tế 300 ngàn tỷ hiện nay, việc NHNN có hưởng ứng bằng cách tăng cung tiền để hỗ trợ Ngân sách nhà nước hay không vẫn chỉ là một lựa chọn chính sách của NHNN. Nếu họ thấy việc tăng cung tiền này sẽ làm tăng áp lực lạm phát, và NHNN cũng chung đồng thuận với nhiều ngân hàng trung ương khác trên thế giới rằng chống lạm phát cần đến công cụ lãi suất (tăng lãi suất) thì NHNN sẽ không tăng cung tiền. Như vậy thì dù có tăng đầu tư công, chi tiêu công thì cũng không đồng nghĩa với nới lỏng chính sách tiền tệ.

Lưu ý thêm rằng sai lầm được chỉ ra ở trên (về quan hệ giữa tăng đầu tư/chi tiêu công và nới lỏng chính sách tiền tệ) đã xảy ra không chỉ đối với Việt Nam mà còn ngay cả đối với Mỹ. Chẳng hạn, đã có nhiều người ở Việt Nam chỉ trích sự “ngu ngốc” của Bộ trưởng Tài chính Mỹ khi bà này cho rằng gói chi tiêu 1,75 ngàn tỷ đô la của Tổng thống Biden giúp giảm lạm phát hồi tháng 10/2021. Lập luận của những người chỉ trích là lạm phát là do chính phủ tăng chi tiêu nên thực ra gói chi tiêu 1,75 ngàn tỷ đô la lại “đổ thêm dầu vào lửa” chứ không giúp giảm lạm phát.

Như đã nói ở trên, chi tiêu công là một chuyện, ngân hàng trung ương có tăng cung tiền hay không lại là chuyện khác, do đó tăng chi tiêu công có làm tăng lạm phát hay không lại là một chuyện khác nữa. Ngay ở Mỹ, dù chi tiêu công đã tăng mạnh như vậy nhưng mặt khác, Fed lại thắt chặt chính sách tiền tệ, nâng lãi suất, thu hẹp nới lỏng định lượng. Do đó, cho dù chi tiêu công đã tăng mạnh nhưng với chiều hướng thắt ngày càng chặt của chính sách tiền tệ của Fed thì lạm phát ở Mỹ không thể không quay trở lại mức bình thường được. Và Việt Nam cũng (sẽ) vậy!

 ---

(1) https://plo.vn/cap-toc-dua-goi-ho-tro-lai-suat-2-den-doanh-nghiep-post683080.html#:~:text=Ng%C3%A2n%20h%C3%A0ng%20Nh%C3%A0%20n%C6%B0%E1%BB%9Bc%20(NHNN,h%E1%BA%BFt%2031%2D12%2D2023.

Monday, 13 June 2022

Sao lại cấm công ty bảo hiểm kinh doanh bất động sản? (Bài đăng trên KTSG, 10/6/2022)

https://thesaigontimes.vn/sao-lai-cam-cong-ty-bao-hiem-kinh-doanh-bat-dong-san/

Tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá XV, Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi) được đưa ra thảo luận tại hội trường. Theo dự thảo, doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, tái bảo hiểm... không được kinh doanh bất động sản, với một số ngoại trừ như mua để làm trụ sở kinh doanh, địa điểm làm việc hoặc cho thuê trụ sở kinh doanh chưa sử dụng hết...

Trước đó, theo Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 thì các doanh nghiệp bảo hiểm được phép kinh doanh bất động sản. Lý do của việc nghiêm cấm theo dự thảo luật sửa đổi nói trên, theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, là bởi Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã. Do đó, để đảm bảo thống nhất giữa luật về bảo hiểm và kinh doanh bất động sản, dự thảo luật sửa đổi đã bỏ quy định về cho phép doanh nghiệp bảo hiểm được dùng vốn nhàn rỗi để kinh doanh bất động sản.

Lý do không cho phép doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh bất động sản như trên là rất khập khiễng.

Không nói đến chuyện Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 đòi hỏi tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản (tức gồm doanh nghiệp bảo hiểm) phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã để được phép làm việc này – kinh doanh bất động sản liệu có là hợp lý hay không, nhưng cần khẳng định, về mặt câu chữ, Luật Kinh doanh bất động sản không có điều khoản nào cấm doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh bất động sản. Bản thân doanh nghiệp bảo hiểm đã là một doanh nghiệp nên họ không phải là đối tượng bị cấm kinh doanh bất động sản theo quy định liên quan này của Luật Kinh doanh bất động sản.

Nếu vẫn cứ “băn khoăn” về chuyện doanh nghiệp bảo hiểm lại “nhảy” sang kinh doanh “trái ngành nghề” là bất động sản thì cần lưu ý rằng Luật Kinh doanh bảo hiểm hiện tại cho phép doanh nghiệp bảo hiểm mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp hoặc góp vốn vào các doanh nghiệp khác. Trong khi đó, dự thảo luật sửa đổi không đề cập gì đến cấm doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư vào các lĩnh vực này nên từ đó suy ra doanh nghiệp bảo hiểm vẫn sẽ tiếp tục được phép đầu tư (gián tiếp) vào các lĩnh vực này (gồm cả việc cho một cá nhân nào đó tiến hành lập một doanh nghiệp bất động sản rồi tiến hành mua lại hoặc nắm sở hữu chi phối doanh nghiệp này). Do đó, dù có bị cấm nhưng bằng cách này hay cách khác thì doanh nghiệp bảo hiểm vẫn có cácch kinh doanh bất động sản một cách hợp pháp.  

Điều quan trọng hơn là, ngoài lý do pháp lý khập khiễng nói trên, việc cấm doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh bất động sản là việc vô lý, thậm chí rất có hại cho nền kinh tế nói chung và doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng.    

Thông thường, chiến lược đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm có bốn nguyên tắc. Thứ nhất, các kỳ hạn phải tương ứng với nhau. Tài sản đầu tư phải có kỳ hạn tương ứng với tài sản nợ của doanh nghiệp bảo hiểm, tức có nghĩa là dài hạn, 10 năm hoặc hơn trong tương lai. Thứ hai, tài sản đầu tư phải có rủi ro tín dụng thấp. Doanh nghiệp bảo hiểm không thể mạo hiểm đầu tư vào các tài sản rủi ro cao để rồi lâm vào cảnh mất khả năng chi trả các nghĩa vụ bảo hiểm trong tương lai. Thứ ba, đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phải đa dạng, từ loại hình tài sản đến tính thanh khoản và lĩnh vực đầu tư để luôn đảm bảo dòng tiền ổn định trong mọi hoàn cảnh thị trường. Và thứ tư, doanh nghiệp bảo hiểm phải đáp ứng yêu cầu vốn an toàn tối thiểu đối với mỗi loại tài sản mà họ đầu tư. Rủi ro của tài sản đầu tư càng cao thì doanh nghiệp bảo hiểm càng phải có dự phòng vốn cao để bù đắp mất mát vốn trong tương lai (1).

Dựa trên các nguyên tắc trên, doanh nghiệp bảo hiểm (nhân thọ), cụ thể là ở Mỹ trong bài này, đầu tư mạnh vào lĩnh vực bất động sản. Bất động sản đối với doanh nghiệp bảo hiểm (ở Mỹ) là kênh đầu tư chủ yếu bởi (họ coi) đầu tư bất động sản là đầu tư dài hạn và có rủi ro tín dụng thấp. Bất động sản cũng mang lại cơ hội cho doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư vào cả tài sản có thanh khoản cao và kém thanh khoản.

Doanh nghiệp bảo hiểm có ba cách thức đầu tư vào bất động sản: thông qua cho vay trả góp bất động sản thương mại, trực tiếp nắm giữ và kinh doanh bất động sản, và nắm giữ chứng khoán bảo đảm bằng các khoản vay trả góp bất động sản (MBS). Đây là những tài sản đầu tư mang lại cho doanh nghiệp bảo hiểm nguồn thu nhập có thể tiên lượng để đối ứng với các nghĩa vụ chi trả có thể tiên lượng được của họ. Ngược lại, doanh nghiệp bảo hiểm Mỹ đầu tư ít vào các tài sản có tính thanh khoản cao hơn như trái phiếu Kho bạc Mỹ, cổ phiếu công ty niêm yết và tiền mặt. Tổng các tài sản có thanh khoản cao này chỉ chiếm chưa đầy 10% tổng danh mục đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm.

Trong lĩnh vực cho vay trả góp bất động sản thương mại, doanh nghiệp bảo hiểm Mỹ chiếm khoảng 16% tổng dư nợ trong lĩnh vực này năm 2017 (1). Các khoản cho vay này mang lại nguồn thu nhập ổn định, đa dạng hóa và có chất lượng (rủi ro thấp) cho doanh nghiệp bảo hiểm.

Doanh nghiệp bảo hiểm Mỹ cũng trực tiếp đầu tư vào bất động sản thông qua mua lại, tân trang, và điều hành các tòa nhà thương mại hoặc chung cư. Ngoài nguồn thu nhập ổn định từ tiền cho thuê bất động sản thương mại, doanh nghiệp bảo hiểm còn được lợi từ sự lên giá của bất động sản trong dài hạn. Riêng trong lĩnh vực này, các nhà kinh tế ước tính cứ mỗi một đô la chi tiêu của doanh nghiệp bảo hiểm sẽ mang lại 2,64 đô la cho nền kinh tế thực ở Mỹ.

Với kênh đầu tư bất động sản thông qua nắm giữ MBS, đây cũng là một kênh đầu tư mang lại nguồn thu nhập ổn định trong thời gian dài, với rủi ro hạn chế. Thường thì các loại chứng khoán này không có lợi tức cao nhưng chúng giúp cho doanh nghiệp bảo hiểm đa dạng hóa danh mục đầu tư.

Trở lại với trường hợp của Việt Nam. Hiệp hội bất động sản (HoREA) cho rằng, việc không cho doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh bất động sản là đúng nhưng nên cho phép đầu tư bất động sản (2). Đây là một nhận định rất... đáng tiếc! Bởi, một mặt, họ đã nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của (việc khuyến khích) doanh nghiệp bất động sản sử dụng nguồn vốn (nhàn rỗi) của mình đầu tư trở lại nền kinh tế, trong đó có lĩnh vực bất động sản. Mặt khác, họ lại “cắc cớ” phân biệt “kinh doanh bất động sản” với “đầu tư bất động sản”, như thể họ e ngại dùng hoặc cho rằng “kinh doanh” có ý nghĩa không mấy tích cực, mang tính trục lợi hơn là “đầu tư”, có ý nghĩa đóng góp, làm lợi cho nền kinh tế.  

Thực ra, như với trường hợp của Mỹ nêu trên, các hành động đầu tư đó đều có thể coi là việc kinh doanh (bất động sản). Chẳng hạn, trong việc mua lại và tân trang tòa nhà, chung cư, doanh nghiệp bảo hiểm cũng phải xem xét nhiều yếu tố để tối đa hóa dòng tiền và lợi nhuận cho họ trong tương lai, kể cả việc lên giá của tòa nhà và hạn chế thấp nhất chi phí tân trang và điều hành (cho thuê) tòa nhà, cũng như tối đa hóa nguồn tiền cho thuê... Đây không phải là kinh doanh (bất động sản) thì gọi là gì?

Họ cũng hoàn toàn có thể bán lại tòa nhà này khi có lãi và khi cần. Theo cách hiểu của HoREA, phải chăng việc bán thu lợi nhuận (trong tương lai) này sẽ không được gọi là đầu tư?

Tóm lại, về mặt ngữ nghĩa, logic, không thể chỉ vì Luật Kinh doanh bất động sản có một quy định hầu như không có gì liên quan đến doanh nghiệp bảo hiểm (dù cố tình gò ép) mà lại đi cấm doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh bất động sản. Còn về mặt kinh tế thì càng không có lý do gì để cấm, bởi ngành bảo hiểm cũng có các nguyên tắc và quy định hoạt động an toàn riêng để hạn chế rủi ro, đảm bảo khả năng thanh toán, trong khi làm lợi lớn cho nền kinh tế.

Cái cần quản lý, nếu có, chỉ có thể là giám sát và kiểm tra việc tuân thủ các tiêu chuẩn hoạt động an toàn này mà thôi. Chứ không phải là cấm họ kinh doanh bất động sản.

----

(1) https://www.centerforcapitalmarkets.com/wp-content/uploads/2019/03/CCMC_InsurancePaper_v2.pdf

(2) https://vneconomy.vn/nghiem-cam-cong-ty-bao-hiem-dau-tu-bat-dong-san.htm

Wednesday, 8 June 2022

Để hoạt động kiểm toán, định giá, xếp hạng tín nhiệm chuyên nghiệp (Bài đăng trên KTSG, 9/6/2022)

https://thesaigontimes.vn/de-hoat-dong-kiem-toan-dinh-gia-xep-hang-tin-nhiem-chuyen-nghiep/

Câu chuyện về tính chuyên nghiệp, độc lập và đạo đức nghề nghiệp của các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực “nhạy cảm” gồm kiểm toán, định giá, và xếp hạng tín nhiệm một lần nữa lại trở nên bức bối sau nhiều vụ lùm xùm trên thị trường chứng khoán, trái phiếu gần đây.

Tình cờ là trong các công việc của mình đã trải qua tại các ngân hàng và tổ chức tài chính tại Singapore, người viết đã từng trực tiếp và gián tiếp làm hoặc có “va vấp” với các lĩnh vực nói trên. Bởi vậy, người viết có một số kinh nghiệm và nhận xét rút ra từ các công việc này.

Trước hết, việc xác định và đảm bảo một vị trí làm việc độc lập, không bị chi phối bởi lợi ích có liên quan đến đối tác mà mình đang làm việc là điều trọng yếu. Chẳng hạn, trong công việc kiểm toán nội bộ, dù các đối tác đều là “người nhà”, tức cùng trong một ngân hàng, tuy ở các chi nhánh khác nhau ở các nước khác nhau, nhưng cán bộ kiểm toán vẫn (phải) coi các đối tác này là các đối tác xa lạ, và mục tiêu của đợt kiểm toán là phải tìm cho ra những vấn đề tồn tại, sai sót của chi nhánh trong việc cấp tín dụng cho khách hàng. Việc đánh giá thành tích của đợt kiểm toán cũng hầu như chỉ dựa vào các phát hiện này (với sự “tâm khục khẩu phục” của chi nhánh bị kiểm toán).

Suy rộng ra, tất cả các doanh nghiệp trong các lĩnh vực trên cần tuân thủ và đảm bảo nguyên tắc độc lập về lợi ích với doanh nghiệp mà mình đang cung cấp dịch vụ. Nhưng đến đây, một vấn đề khác lại nảy sinh, là nếu cứ độc lập, làm đúng theo chức trách, nhiệm vụ và đạo đức nghề nghiệp mà không “chịu” bị doanh nghiệp khách hàng chi phối, điều khiển thì lại không được khách hàng... thuê!

Lời giải cho vấn đề này đến từ cả nhiều phía. Phía khách hàng sử dụng dịch vụ, nhất là các doanh nghiệp lớn, mà chỉ đi thuê các doanh nghiệp kiểm toán “làng nhàng”, chưa/không có uy tín thì đã tự đặt mình vào tầm ngắm của dư luận và nhà chức trách. Không phải ngẫu nhiên mà các ngân hàng lớn lại đòi hỏi khách hàng vay vốn phải có báo cáo tài chính kiểm toán bởi các doanh nghiệp kiểm toán tên tuổi, quốc tế.    

Vể phía doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, nếu coi việc “đi đêm” với doanh nghiệp khách hàng làm lẽ sống, để giành được hợp đồng, để chung chi với nhau thì hãy tự xác định tương lai của mình là rất may rủi và ngắn ngủi.

Về phía nhà chức trách, họ có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phá vỡ cái xu hướng, cái kiểu liên kết ma quỷ này, thông qua công tác thanh tra và xử phạt thích đáng các hành vi phạm pháp liên quan. Chỉ có (tăng cường) làm vậy thì các doanh nghiệp có nhu cầu dịch vụ và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mới có thể chùn tay liên kết với nhau làm bậy để hướng đến hoạt động chuyên nghiệp hơn, đạo đức hơn.

Thực tế của nhiều vụ lùm xùm râm ran từ lâu trong dư luận và chỉ được phát hiện khi đã quá muộn, khi có vấn đề “tình cờ” liên quan nảy sinh cho thấy nhà chức trách đã buông lỏng hoặc yếu kém, thậm chí có cả lợi ích nhóm, trong việc thanh tra, kiểm toán để các liên kết ma quỷ càng có động lực hình thành và hoành hành cho đến nay.

Về phía khách hàng của các doanh nghiệp thuê dịch vụ, chẳng hạn nhà đầu tư mua cổ phiếu hay ngân hàng cho vay, cũng cần nâng cao trình độ và tinh thần cảnh giác với các doanh nghiệp đối tác. Một ví dụ là người viết trong quá trình thẩm định hồ sơ vay vốn của một doanh nghiệp thép lớn ở Sài Gòn đã phát hiện việc nhào nặn số liệu trong báo cáo kiểm toán do doanh nghiệp cung cấp, và kết cục là doanh nghiệp này đã bị ngân hàng từ chối cho vay. Hậu quả có thể sẽ còn lớn hơn nếu doanh nghiệp này và doanh nghiệp kiểm toán cho họ bị tố cáo và Việt Nam có cơ chế tiếp nhận và xử lý các tố cáo kiểu này một cách hữu hiệu.

Nhà đầu tư cũng cần thận trọng với các doanh nghiệp có báo cáo tài chính tuy có kiểm toán nhưng lại quá sơ sài, vắn tắt, xem đến thì chỉ cảm nhận được thái độ che giấu, lấp liếm sự thực của doanh nghiệp và cả kiểm toán viên.

Nhận xét thứ hai của người viết là việc tuân thủ quy trình làm việc và các chuẩn mực của nghề nghiệp cũng rất quan trọng. Ví dụ, khi thực hiện kiểm toán nội bộ, người viết phát hiện một số hành vi không tuân thủ đúng quy trình nội bộ (có thể là không cố ý) của một số chi nhánh ngân hàng tại nước ngoài, dẫn đến việc đánh giá không đúng độ tín nhiệm và rủi ro tín dụng của khách hàng. Gạt chuyện đạo đức nghề nghiệp sang bên thì đây chính là tính chuyên nghiệp, lành nghề của cán bộ phân tích, xếp hạng tín nhiệm, đánh giá rủi ro. Khuyến nghị sau kiểm toán cho chi nhánh trong trường hợp này là phải tăng cường đào tạo cho nhân viên về các quy trình, chuẩn mực và kỹ năng liên quan.

Từ chuyện trên suy rộng ra việc xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp, vốn đang được coi là lời giải hiệu nghiệm cho, ví dụ, việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp, cần phải được xem xét một cách cẩn trọng hơn. Bởi cùng một doanh nghiệp phát hành, cùng một bộ số liệu, nhưng vào tay các doanh nghiệp xếp hạn tín nhiệm, cán bộ xếp hạng tín nhiệm khác nhau lại cho ra các kết quả xếp hạng khác nhau, kể cả khi không có vấn đề về đạo đức nghề nghiệp hay xung đột lợi ích.

Do đó, trừ khi có một quy trình và chuẩn mực chung thống nhất cho tất cả doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và việc tuân thủ mọi quy trình và chuẩn mực đều như nhau, sự chuyên nghiệp và lành nghề của cán bộ xếp hạng tín nhiệm là như nhau (điều không thể có trên thực tế), kết quả xếp hạng tín nhiệm sẽ luôn khác nhau cho cùng một doanh nghiệp được xếp hạng, dẫn đến việc xếp hạng tín nhiệm chỉ mang tính tương đối, không nhất thiết là cơ sở để nhà đầu tư định giá trái phiếu một cách hợp lý dựa trên rủi ro tín dụng đi kèm của nó.

Điều cuối cùng mà người viết muốn nêu từ kinh nghiệm của mình là về định giá tài sản, doanh nghiệp. Định giá của các doanh nghiệp luôn phải dựa trên các giả định và dự phóng, bên cạnh việc áp dụng phương pháp định giá cụ thể nào trong số các phương pháp định giá có thể áp dụng. Bởi vậy, điều bình thường là các kết quả định giá sẽ khác nhau, thậm chí ở mức độ rất lớn.

Sẽ là bất thường nếu chỉ căn cứ vào kết quả định giá để kết luận doanh nghiệp định giá nào đó là “bất thường”. Sự bất thường này cần phải được phản ánh qua tính hợp lý, khách quan của các giả định và dự phóng, cũng như mức độ chính xác, trung thực của các dữ liệu sử dụng làm cơ sở cho các giả định và dự phóng đó. Nên hầu như chỉ có thể phân biệt và đánh giá doanh nghiệp định giá nào chuyên nghiệp, độc lập và ngay thẳng với những doanh nghiệp còn lại qua những yếu tố này.

Vì chi tiết quy trình định giá thường là không công khai nên đương nhiên là chỉ có cơ quan chức năng, qua các đợt thanh tra, mới có thể biết được doanh nghiệp định giá nào là chuyên nghiệp, độc lập và trung thực. Do đó, cũng chỉ có cơ quan chức năng với các biện pháp xử phạt thích đáng mới có thể buộc các doanh nghiệp định giá phải tự mình tăng cường tính chuyên nghiệp và cẩn thận hơn về đạo đức nghề nghiệp.

Cũng xin được nhắc lại về tầm quan trọng không thể bỏ qua của “tai mắt nhân dân” và cơ chế tiếp nhận và xử lý tố cáo tiêu cực trong tất cả các lĩnh vực nói trên để buộc các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ luôn phải trong tâm thế “băn khoăn”, dè chừng khi không muốn... độc lập!

Sunday, 29 May 2022

Sở hữu có thời hạn chung cư, nhìn từ Singapore (Bài đăng trên KTSG, 27/5/2022)

https://thesaigontimes.vn/so-huu-co-thoi-han-chung-cu-nhin-tu-singapore/

Trong đề cương Luật Nhà ở (sửa đổi) mới đây, Bộ Xây dựng đề xuất cấp sổ hồng cho căn hộ chung cư có thời hạn 50-70 năm. Bộ cho rằng ở nhiều nước đang áp dụng chính sách quyền sử dụng đất là lâu dài còn tài sản trên đất (là nhà ở, chung cư) thì có thời hạn sử dụng (1).

Không rõ “nhiều nước” mà Bộ Xây dựng đề cập bên trên là nước nào, nhưng ít nhất ở Singapore thì không lằng nhằng, phức tạp như thế.

Singapore có hai loại sở hữu bất động sản là sở hữu có thời hạn (leasehold) và sở hữu trong thời gian không xác định (freehold). Cần lưu ý rằng ở Singapore (chắc cũng giống hầu hết các nước trên thế giới), đất đai thuộc dạng freehold của ai đó là đất thực sự được sở hữu vĩnh viễn, không có thời hạn. Ở Singapore, không có khái niệm “quyền sử dụng đất” như ở Việt Nam. Chỉ riêng về mặt này cũng đã làm cho so sánh của Bộ Xây dựng với các nước nói chung và Singapore nói riêng trở nên khập khiễng.

Đối với đất đai, bất động sản thuộc dạng leasehold, về bản chất đây là đất thuê, người chủ sẽ mất quyền sở hữu khi bất động sản đó hết hạn cho thuê, phải trả lại người chủ ban đầu. Có hai loại thời hạn thuê chính là 99 năm và 999 năm. Tuy 999 năm là khoảng thời gian dài không tưởng nhưng về mặt kỹ thuật thì bất động sản loại này vẫn là bất động sản thuê.

Hơn 75% đất đai ở Singapore thuộc sở hữu của nhà nước. Do vậy, đa phần nhà/căn hộ chung cư do tư nhân xây dựng hoặc do nhà nước xây dựng (gọi là căn hộ HDB) là thuộc dạng leasehold. Thời hạn thuê thông thường là 99 năm, nhưng cũng có các thời hạn khác là 30, 60 thậm chí là 999 năm. Khi hết hạn thuê, quyền sở hữu mảnh đất đó được trả lại cho nhà nước, và các quyền lợi của người sở hữu bất động sản (công trình xây dựng, nhà cửa) trên mảnh đất đó cũng sẽ không còn nữa. Nhà nước không có nghĩa vụ bồi thường cho chủ sở hữu công trình, nhà cửa trên mảnh đất đó.

Đối với loại đất đai, bất động sản có thời hạn thuê đất 99 năm, người chủ bất động sản (chính xác hơn, người thuê) có hai lựa chọn liên quan đến thời hạn thuê. Thứ nhất, họ có thể nộp thêm tiền trực tiếp cho cơ quan chức năng của nhà nước (Cục Đất đai) để gia hạn hợp đồng thuê đất. Giả sử hợp đồng thuê đất chỉ còn 50 năm, các chủ sở hữu bất động sản trên mảnh đất đó có thể trả tiền để kéo dài thời hạn hợp đồng thêm 49 năm nữa thành hợp đồng thuê mới 99 năm như ban đầu.

Cục Đất đai sẽ xem xét nhiều yếu tố để cho ra được một mức tiền cụ thể mà các chủ sở hữu bất động sản phải trả để được kéo dài thời gian thuê. Nếu được phê duyệt, chủ sở hữu bất động sản tiếp tục chiếm hữu, sử dụng bất động sản của mình trong thời hạn được gia hạn mới là 99 năm. Tuy nhiên, thường thì mức tiền mà Cục Đất đai đưa ra là quá đắt đỏ với nhiều người bình thường nên thường cũng chỉ có các công ty mới chọn con đường này.

Cục Đất đai cũng có quyền từ chối cho tăng thời gian thuê nếu, ví dụ, họ thấy việc tăng thời gian cho thuê là không phù hợp với quy hoạch đất đai hoặc việc sử dụng hiện tại mảnh đất đó là không tối ưu.

Lựa chọn thứ hai là chủ sở hữu bất động sản trên mảnh đất thuê (cùng với những chủ sở hữu khác trong cùng chung cư, mảnh đất) bán chung cư của mình cho chủ đầu tư thứ ba. Với lựa chọn này, các chủ sở hữu hiện tại đẩy gánh nặng xin gia hạn hợp đồng thuê với nhà nước sang cho chủ đầu tư thứ ba, là những người có khả năng chi trả hơn. Tất nhiên khi thực hiện lựa chọn này thì chủ sở hữu căn hộ hiện tại sẽ không còn quyền được ở lại căn hộ của mình nữa mà nó thuộc về chủ đầu tư mới. Đổi lại, chủ sở hữu căn hộ hiện tại thu được một số tiền từ chủ đầu tư mới, về danh nghĩa là bồi thường cho căn hộ của mình trên mảnh đất đó, so với việc không làm gì và để cho hợp đồng thuê đất hết hạn, phải trả lại mảnh đất đó cho nhà nước và ra đi tay trắng.   

Cả hai lựa chọn trên phải được tất cả chủ sở hữu khác cùng thực hiện (bán tập thể), và không thể tiến hành trên cơ sở từng cá nhân chủ sở hữu.

Như vậy, có thể thấy ở Singapore, trước hết, cái gọi là thời hạn sử dụng căn hộ chung cư thực ra chỉ là thời hạn thuê đất (phần lớn từ nhà nước). Khi hết hạn thuê đất thì chủ sở hữu căn hộ chung cư phải ra đi mà không được đền bù gì. Tuy nhiên, cần lưu ý, không phải mảnh đất nào cũng là của nhà nước, cũng là đất thuê, nên các mảnh đất thuộc sở hữu tư nhân này sẽ không có thời hạn thuê, và, do đó, về mặt kỹ thuật, cũng không có thời hạn sử dụng căn hộ, công trình xây dựng trên đó.

Tiếp đó, ở Singapore cũng không có khái niệm thời hạn sử dụng căn hộ, từ 50 đến 70 năm như đang đề xuất ở Việt Nam. Nếu là đất đi thuê của nhà nước, và nếu chung cư xây dựng trên đó trở nên quá cũ kỹ, không hợp thời (chứ hiếm khi xảy ra tình trạng mất an toàn không thể ở được như ở Việt Nam, do chất lượng xây dựng và công tác bảo trì tốt) thì các chủ sở hữu chung cư đó có thể lựa chọn cùng bán tập thể căn hộ của mình cho một bên thứ ba, để họ làm thủ tục xin gia hạn hợp đồng thuê mảnh đất và tiến hành xây mới (hoặc sửa chữa).

Liên hệ với đề xuất của Bộ Xây dựng. Có lẽ mục đích của đề xuất này chủ yếu nhằm xử lý các chung cư cũ, mất an toàn. Nếu chỉ có vậy thì thay vì áp đặt thời hạn sử dụng chung cư 50-70 năm (ở Việt Nam thậm chí chỉ sau một hai chục năm thì nhiều chung cư đã xuống cấp lắm rồi), chỉ cần hoàn thiện, bổ sung thêm vào luật các quy định về hoàn trả đất đai có công trình xây dựng trên đó về cho nhà nước khi hết hạn hợp đồng giao/cho thuê đất (cũng từ 50 đến 70 năm) mà nhà nước không phải bồi thường cho chủ sở hữu các công trình xây dựng trên đất đó. Người mua chung cư xây trên các mảnh đất này cần (được) biết về tính chất thuê này để tính toán và quyết định có nên mua hay không, với giá bao nhiêu.

Đối với các mảnh đất giao/cho thuê không thời hạn, hoặc thuộc quyền sử dụng của tư nhân, quy định về thời hạn sử dụng chung cư trên càng bất cập, càng không nên được áp dụng. Giả sử các chung cư này của Việt Nam cũng giống như các tòa nhà xây dựng ở nước ngoài, tuy đã ra đời cả trăm năm trước nhưng vẫn có chất lượng tốt thì vẫn cứ phải bị (lạm dụng) xếp vào diện hết hạn sử dụng, và do đó phải bị thu hồi, phá dỡ (và người chủ không được đền bù gì) hay sao? 

Nếu lo lắng về sự an toàn của chung cư thì vấn đề này không nhất thiết liên quan đến quy định thời hạn sử dụng hay thời hạn thuê đất, mà phải dựa vào các quy định tiêu chuẩn an toàn trong ngành để có quyết định phù hợp, gồm thu hồi, giải tỏa, tháo dỡ chung cư. Kèm theo đó là các quy định cụ thể về đền bù thỏa đáng cho chủ sở hữu căn hộ chung cư nếu không có mắc mớ gì về thời hạn thuê đất (hoặc đền bù theo thời gian còn lại trong hợp đồng thuê đất nếu là đất thuê của nhà nước).

----

(1) https://thanhnien.vn/ap-nien-han-su-dung-can-ho-chung-cu-post1460823.html?io_utm_social=fanpage

Friday, 27 May 2022

Thời hạn sở hữu không phải là lời giải cho bài toán… chung cư cũ (Bài đăng trên KTSG, 27/5/2022)

https://thesaigontimes.vn/thoi-han-so-huu-khong-phai-la-loi-giai-cho-bai-toan-chung-cu-cu/

Bộ Xây dựng đang đề xuất trong đề cương Luật Nhà ở (sửa đổi) việc cấp sổ hồng cho căn hộ chung cư sẽ có thời hạn từ 50-70 năm.

Theo bộ này, đề xuất trên dựa trên một số căn cứ pháp lý. Thứ nhất, thời hạn sử dụng công trình được xác định theo hồ sơ thiết kế hoặc theo thời hạn sử dụng thực tế. Thứ hai, theo quy định của pháp luật về dân sự thì quyền sở hữu tài sản chấm dứt khi tài sản bị tiêu hủy. Thứ ba, thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức thực hiện dự án không quá 50-70 năm. Thứ tư, trường hợp xây dựng nhà chung cư để bán, cho thuê, thuê mua, thời hạn giao đất cho chủ đầu tư xác định theo thời hạn dự án, người mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất được sử dụng đất ổn định lâu dài. Như vậy, về quyền sử dụng đất thì sử dụng lâu dài, nhưng đối với tài sản trên đất là công trình xây dựng, nhà ở lại có thời hạn sử dụng.

Ngoài ra, tuy không phải là căn cứ pháp lý nhưng Bộ Xây dựng vạch ra thực tế rằng, trong quá trình thực hiện chính sách cải tạo chung cư cũ xây dựng từ trước năm 1994, công tác thu hồi, di dời, phá dỡ thời gian qua rất khó khăn. Thực tế này cho thấy cần có quy định phù hợp, tạo cơ sở pháp lý cho cơ quan nhà nước thực hiện thu hồi, phá dỡ, xây dựng lại chung cư cũ, hết thời hạn sử dụng (1).

Như vậy, có thể nói đề xuất trên chủ yếu nhằm giải quyết việc thu hồi, di dời, phá dỡ chung cư (cũ). Ở đây xin không bàn đến tính hợp pháp, hợp lý, thỏa đáng của việc thu hồi, di dời, phá dỡ chung cư (cũ), dù trong nhiều trường hợp sẽ có chuyện lùm xùm, lợi ích nhóm, tương tự kiểu nhà nước thu hồi đất của dân với giá rẻ để giao cho nhà đầu tư phát triển bất động sản rồi bán lại cũng cho dân với giá gấp hàng trăm lần.

Trở lại với các căn cứ pháp lý của đề xuất trên. Thứ nhất, thời hạn sử dụng công trình, dù buộc phải có, cũng không liên quan gì đến quyền sở hữu căn hộ, trừ khi trước khi xây dựng và bán căn hộ cho người ở/sở hữu, có quy định rõ ràng rằng quyền sở hữu căn hộ sẽ chấm dứt khi công trình (căn hộ) hết thời hạn sử dụng.

Lưu ý thêm, công trình có thể có thời hạn sử dụng, nhưng cũng có thể được (phép) gia hạn sử dụng (chẳng hạn qua tu sửa, nâng cấp), nên không thể dựa vào thời hạn sử dụng công trình để đưa ra thời hạn sở hữu căn hộ (tất nhiên cũng ngoại trừ trường hợp có quy định rõ trước khi mở bán căn hộ rằng công trình này sẽ không được/không có khả năng tu sửa, nâng cấp khi hết hạn sử dụng).

Và cũng (sẽ) có nhiều trường hợp chung cư hết hạn sử dụng nhưng được chủ đầu tư khác mua lại, phá dỡ, xây dựng mới và bán ra thị trường. Nên không thể vận dụng thời hạn sử dụng chung cư để tước đoạt quyền sở hữu của chủ sở hữu hiện tại mà không phải làm cái gì để đảm bảo quyền lợi cho họ (trừ khi có quy định trước trong hợp đồng mua bán về chuyện này).

Thứ hai, tuy theo luật thì quyền sở hữu tài sản chấm dứt khi tài sản bị tiêu hủy, nhưng vấn đề ở đây là tại sao tài sản lại “bị tiêu hủy”? Nếu bị tiêu hủy một cách bất hợp pháp thì người sở hữu được (quyền) đòi bồi thường từ kẻ tiêu hủy bất hợp pháp. Nếu cho rằng chung cư đã cũ nên “bị tiêu hủy” là hợp pháp, theo, ví dụ, quy định pháp lý về thời hạn sử dụng công trình nêu trên thì việc này vẫn không nhất thiết là... hợp pháp, bởi rất có thể việc tiêu hủy này đã không đếm xỉa gì đến các thỏa thuận khác giữa chủ sở hữu căn hộ và chủ đầu tư/phát triển công trình và/hoặc nhà nước (người tiến hành cưỡng chế tiêu hủy, thu hồi công trình), chẳng hạn chủ sở hữu sẽ được đền bù một diện tích tương đương, một số tiền nhất định để di chuyển chỗ ở...

Nói cách khác, trong căn cứ pháp lý thứ nhất và thứ hai nêu trên, thời hạn sử dụng chỉ là một vế, một điều kiện cần chứ không phải cũng là cả điều kiện đủ để mà “vô tư” thu hồi, “tiêu hủy” chung cư cũ (rồi chiếm đoạt, sang tên quyền sử dụng mảnh đất đó cho người khác).

Với căn cứ pháp lý thứ ba về thời hạn giao/cho thuê đất đối với tổ chức thực hiện dự án không quá 50-70 năm, căn cứ này, về lý, chỉ có thể được phép vận dụng đối với các chung cư mà mặt bằng được giao/cho thuê từ nhà nước, và chủ đầu tư phải nêu rõ trong hợp đồng mua bán chung cư với người sở hữu. Đương nhiên là căn cứ này không thể được vận dụng vào trong những trường hợp chung cư được xây dựng từ nguồn đất mà chủ đầu tư đã có quyền sử dụng đất không qua mua/thuê trực tiếp từ nhà nước (ví dụ, thông qua mua lại từ chủ sở hữu khác trên thị trường). 

Về căn cứ thứ tư, nó cũng chỉ đúng với trường hợp chủ đầu tư được giao/thuê đất (trực tiếp) từ nhà nước có thời hạn, kèm theo những điều khoản trong hợp đồng mua bán căn hộ nêu rõ khi chung cư hết hạn sử dụng thì nó sẽ “bị tiêu hủy” ra sao, chủ sở hữu sẽ có quyền lợi và nghĩa vụ gì khi đó...

Về thực tế khó khăn trong giải quyết chung cư cũ, đây là điều đang tồn tại nhưng thực ra lại không liên quan gì đến thời hạn sử dụng chung cư. Vấn đề là ở chính sách đền bù, di dời cho người dân đang sống trong các chung cư này chưa hợp lý, chưa đạt được đồng thuận tối đa trong cộng đồng dân cư sinh sống ở đó (tất nhiên là từ góc nhìn của người dân).

Cũng trên thực tế sẽ có nhiều chung cư vẫn còn... trẻ, nhưng Nhà nước buộc phải thu hồi, tháo dỡ vì một lý do hợp lý nào đó, chẳng hạn đáp ứng quy hoạch vùng/khu vực. Lúc này, rõ ràng là quy định về thời hạn sử dụng chung cư là vô tác dụng. Để thu hồi thì Nhà nước có thể vận dụng các căn cứ pháp luật khác nào đó nhưng mấu chốt vẫn phải là giải quyết quyền lợi của người sở hữu hợp pháp trong chung cư đó, cũng giống như công tác đền bù, giải phóng mặt bằng cho người dân khi mở đường.     

Tóm lại, với lý do an toàn thì Nhà nước có thể/nên xem xét, áp đặt thời hạn sử dụng chung cư nói chung. Khi chung cư hết hạn sử dụng (và không thể cải tạo được) thì Nhà nước có đủ cơ sở pháp lý để buộc “tiêu hủy” chúng. Tuy nhiên, thời hạn sử dụng chung cư không nhất thiết đồng nghĩa với thời hạn quyền sở hữu chung cư, cũng như (lý do của) việc tiêu hủy chung cư cũ không nhất thiết là (lý do của) việc tước đoạt quyền sở hữu chung cư.

----

(1) https://thanhnien.vn/ap-nien-han-su-dung-can-ho-chung-cu-post1460823.html?io_utm_social=fanpage

Tuesday, 24 May 2022

Ổn định thị trường: ổn định cái gì và như thế nào? (Bài đăng trên KTSG, 24/5/2022, bản gốc)

https://thesaigontimes.vn/on-dinh-thi-truong-on-dinh-cai-gi-va-nhu-the-nao/

Lãnh đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) mới đây đã gửi thông điệp qua giới truyền thông về các giải pháp nhằm ổn định thị trường chứng khoán trong nước (1).

UBCK có kỳ vọng lớn rằng thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ hồi phục và tăng trưởng trở lại trong năm 2022. Nhưng trong bối cảnh thị trường có thể còn có sự biến động mạnh, cơ quan quản lý đang đặc biệt ưu tiên các giải pháp ngắn hạn để hỗ trợ thị trường ổn định trở lại, trấn an tâm lý nhà đầu tư.

Cũng theo ủy ban này, “Chúng tôi đang dõi sát diễn biến tình hình kinh tế - chính trị, động thái chính sách của các nước trên thế giới, đánh giá tác động, ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Việt Nam để kịp thời có các giải pháp phù hợp nhằm ổn định thị trường chứng khoán trong nước. Đồng thời, tích cực thông tin tuyên truyền nhằm ổn định tâm lý của nhà đầu tư, tăng cường lòng tin của các chủ thể tham gia thị trường, công chúng đầu tư trong và ngoài nước vào quyết tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Bộ Tài chính trong việc ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển thị trường chứng khoán minh bạch, công khai, an toàn, hiệu quả".

Hai đoạn trích thông điệp nói trên đều có hai chữ “ổn định” và chúng đều gắn liền với hai chữ khác là “thị trường” nên đương nhiên việc ổn định ở đây có thể hiểu là ổn định thị trường chứng khoán. 

Nhưng vậy thì ổn định thị trường chứng khoán cụ thể là ổn định cái gi? Phải chăng UBCK muốn ổn định chỉ số chứng khoán? Hay họ muốn ổn định tâm lý nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán để nhà đầu tư bớt sợ hãi mà bán tháo cổ phiếu và/hoặc rời bỏ thị trường? Hay họ muốn cả hai điều này?

Nếu câu trả lời là UBCK muốn ổn định chỉ số chứng khoán thì câu hỏi tiếp theo là họ muốn chỉ số chứng khoán ngừng xu hướng lao dốc, chững lại ở điểm hiện tại (và, do đó, đạt được sự “ổn định”), hay họ muốn chỉ số này không chỉ ngừng lao dốc mà còn đảo chiều tăng lên (mức đỉnh cũ đạt được gần đây)?

Nếu UBCK trả lời rằng họ muốn chỉ số chứng khoán ngừng giảm và chững lại thì họ phải có cách nào đó, làm cái gì đó để ít nhất là một số cổ phiếu, nhóm cổ phiếu ngừng giảm giá. Đây là tham vọng quá tầm của UBCK, dù họ có thực hiện các giải pháp nêu ở trên hoặc bất cứ giải pháp nào có thể nghĩ ra, kể cả giải pháp mang ngân sách nhà nước ra để đỡ giá chứng khoán (xin được nói thêm về điều này ở đoạn cuối của bài).

Chẳng hạn, dù ủy ban có thành công trong việc ổn định tâm lý và lòng tin của nhà đầu tư, nhưng nếu triển vọng lạm phát gia tăng, lãi suất tăng, tỷ giá giảm, khẩu vị của nhà đầu tư (nội, ngoại) thay đổi vì một số nhóm cổ phiếu đã/sẽ trở nên không còn hấp dẫn nữa (tương tự điều xảy ra với nhóm cổ phiếu công nghệ ở Mỹ)... thì sẽ không thể tránh được có nhiều cổ phiếu bị áp lực tiếp tục bán tháo.

Nói cách khác, thành công của việc ổn định giá chứng khoán phụ thuộc vào không chỉ ý chí quyết tâm của nhà quản lý. Nỗ lực này của họ chắc chắn sẽ chỉ thành công khi kiểm soát được lạm phát, lãi suất, tỷ giá không biến động đáng kể và thị trường chứng khoán trong nước hoàn toàn không liên thông với thị trường chứng khoán nước ngoài. Dễ thấy là tất cả các điều kiện cần này đều đang bị vi phạm và/hoặc ở mức độ rủi ro lớn. Ví dụ, lạm phát của Việt Nam không chỉ phụ thuộc các điều kiện trong nước mà còn các điều kiện không kiểm soát được ở nước ngoài.   

Nếu UBCK lại còn muốn chỉ số chứng khoán đảo chiều tăng lên thì đồng nghĩa với việc các điều kiện cần nêu trên càng phải ít rủi ro hơn nữa và, do đó, sự “ổn định” càng chỉ là ý chí chủ quan của nhà quản lý.

Nếu UBCK muốn ổn định thị trường ở góc độ ổn định tâm lý nhà đầu tư, cụ thể bằng biện pháp thông tin tuyên truyền, đây không phải là biện pháp tồi. Điều đáng nói là ủy ban tuyên truyền thế nào để nhà đầu tư đỡ sợ hãi hơn?

Sự tuyên truyền này không thể trái ngược với thực tế, chỉ toàn màu hồng mà không hề có gam màu tối. Xin hãy rút bài học kinh nghiệm để tránh lặp lại hành động tuyên truyền theo kiểu trước đây của một vị chức sắc, khi thị trường chứng khoán Việt Nam cũng lao dốc mạnh, rằng “nếu có tiền thì tôi cũng mua vào chứng khoán”.

Những căn cứ màu hồng cho công tác tuyên truyền, ví dụ như quyết tâm của các cơ quan hữu trách trong việc ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển thị trường chứng khoán lành mạnh... chưa thể là căn cứ bởi quyết tâm này lúc nào cũng vẫn ở đó, vẫn được tuyên bố dày đặc như thường lệ, và, quan trọng là, kết quả của nó (sự quyết tâm) vẫn (sẽ) chỉ là ở thời tương lai.

Minh họa cho khả năng can thiệp hạn hẹp của nhà quản lý vào xu hướng lao dốc của thị trường là việc UBCK trong thông điệp về quyết tâm ổn định thị trường nêu trên cũng chỉ có thể nêu rất mơ hồ rằng: “Chúng tôi đang dõi sát diễn biến tình hình kinh tế - chính trị, động thái chính sách của các nước trên thế giới, đánh giá tác động, ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Việt Nam để kịp thời có các giải pháp phù hợp nhằm ổn định thị trường chứng khoán trong nước”.

Vấn đề đặt ra là thị trường đã trên đà lao dốc từ đầu tháng 4 rồi đó mà sao họ không “kịp thời” có các giải pháp phù hợp nào đi, sao vẫn còn mãi “dõi sát”...? Liệu họ có kịp thời cho ra đời cái giải pháp nào đáng gọi là giải pháp trước khi thị trường tự điều chỉnh, ổn định trở lại (ở mức thấp) không?  

Để bổ trợ cho lập luận về khả năng can thiệp hạn hẹp của nhà quản lý, mà tốt nhất là không can thiệp gì, xin được nêu về thái độ khá là khách quan và thậm chí là... “dửng dưng” của Bộ trưởng Ngân khố Mỹ Janet Yellen về các biến động mạnh hiện nay trên thị trường chứng khoán. Theo đó, “bà và các quan chức tài chính hàng đầu không ngạc nhiên khi chứng kiến thị trường biến động mạnh đến hết mùa hè do đại dịch và xung đột Nga – Ukraine có thể gia tăng sức ép lên kinh tế toàn cầu” (2). Ở ý này cũng có mấy yếu tố khách quan được nhắc đến là đại dịch và xung đột Nga – Ukraine như ngầm minh họa cho sự “bất lực” của chính quyền Mỹ đối với chính thị trường của họ.

Không muốn nói là đến nhà chức trách Mỹ còn không muốn, không thể can thiệp để thị trường của họ thôi biến động mạnh thì, trừ khi có phép lạ, xin đừng tuyên bố duy ý chí về thị trường chứng khoán Việt Nam. Tất nhiên, lại trừ khi, đó là việc phải làm (cho có).         

--------

(1) https://cafef.vn/thong-diep-nong-cua-lanh-dao-uy-ban-chung-khoan-nha-nuoc-giua-luc-thi-truong-chung-khoan-giong-bao-20220513082543109.chn

(2) https://cafef.vn/vi-sao-co-phieu-cong-nghe-rot-tham-20220513135423648.chn

Monday, 23 May 2022

Có tiền, phải tiêu, nhưng tránh tiêu bằng mọi giá (Bài đăng trên KTSG, 23/5/2022, bản gốc)

https://thesaigontimes.vn/co-tien-phai-tieu-nhung-tranh-tieu-bang-moi-gia/

Việc phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công đang diễn ra rất chậm. Đến nay vẫn còn đến 11 bộ, ngành và 3 địa phương chưa phân bổ vốn đầu tư công. Tỷ lệ giải ngân 4 tháng đầu năm đạt 18,48% tương đương cùng kỳ năm 2021, trong đó 17 bộ, cơ quan trung ương chưa giải ngân.

Ngoài phân bổ, giải ngân chậm vốn đầu tư công, căn bệnh, nói theo cách nói của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, “có tiền mà không tiêu được” (1) còn được thể hiện ở sự chậm chễ tương tự trong việc thực hiện Chương trình phục hồi phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết 43 của Quốc hội, trong đó có gói chính sách tiền tệ, tài khóa 347 ngàn tỷ đồng, cũng như ba Chương trình mục tiêu quốc gia...

Trước khi chuyển sang phần chính của bài, cần lưu ý mệnh đề “có tiền mà không tiêu được” thực ra không hoàn toàn đúng, bởi tiền ở đây có là có một phần không nhỏ từ tiền đi vay (tức của người khác). Nên cái sự “tiêu không được” nhiều khi lại là điều tốt, nhất là so với khi tiêu vào những “lỗ đen”.

Theo ông Huệ thì mấu chốt (của việc “tiêu tiền” chậm chễ này) là “do khâu chuẩn bị đầu tư còn yếu, không kỹ lưỡng, chưa đáp ứng yêu cầu”.

V nguyên nhân này, có mấy điều cần nói. Nếu các bộ, ngành, địa phương đã chuẩn bị (kế hoạch) đầu tư và đã trình các cấp mà không được duyệt thông qua thì nguyên nhân đương nhiên là nằm ở sự yếu kém về năng lực của các cơ quan chức năng cấp dưới ở các bộ, ngành, địa phương.

Trong tình huống này, một mặt cần xác định được cụ thể nơi yếu kém, phê bình, có biện pháp xử lý người đứng đầu các cơ quan chức năng về năng lực bản thân họ và khả năng tổ chức xây dựng bộ máy lập kế hoạch đầu tư có đủ khả năng của họ.

Nói là phải xử lý người đứng đầu vậy thôi chứ hầu như chẳng có khi nào có “người đứng đầu” nào bị “điểm danh” và chịu chế tài xử lý, kỷ luật gì cả. Ngay trong các văn bản pháp luật liên quan, trong phần quy định về trách nhiệm của các chủ thể liên quan, chỉ thấy có quy định trách nhiệm dưới dạng cơ quan này phải làm việc này, việc kia, mà không bao giờ thấy có quy định chế tài cụ thể nếu các quy định về trách nhiệm bị vi phạm.   

Mặt khác, cần hoan nghênh động thái dứt khoát không phê duyệt các kế hoạch “dưới chuẩn” của các cấp, người đứng đầu có thẩm quyền phê duyệt. Sự chậm chễ phân bổ, giải ngân đầu tư công trong những trường hợp này thậm chí còn là điểm tích cực nếu so với việc cố gắng thúc đẩy phân bổ, giải ngân bằng mọi giá để rồi dẫn đến lãng phí, thất thoát lớn. Cũng không thể loại trừ khả năng có chủ ý kéo dài việc chuẩn bị (kế hoạch) đầu tư nhằm mục đích làm các dự án, kế hoạch đầu tư chất lượng xấu, có động cơ trục lợi lồng ghép trong đó được thông qua vào phút chót trong sự vội vàng hoàn thành kế hoạch mà bất chấp, bỏ qua các bước tuân thủ trong lập và triển khai kế hoach đầu tư công.

Sự việc sẽ khác đi nếu các bộ, ngành, địa phương vì một lý do nào đó mà vô trách nhiệm, cố tình không lập kế hoạch đầu tư, không thúc ép lập kế hoạch và triển khai đầu tư, hoặc họ chỉ làm cho có, để đối phó. Thực ra, cũng về nguyên tắc, sự thờ ơ với đầu tư công kiểu này là hơi... lạ, bởi, nói không phải quá lời, đầu tư công trong nhiều trường hợp được coi là “chùm khế ngọt” và, bởi vậy, các chủ thể liên đới thông thường sẽ phải tích cực giành giật và thúc đẩy đầu tư công để... có tiền.

Có thể nghĩ đến một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Chẳng hạn như tâm lý nhiệm kỳ làm cho người có chức trách không có động cơ triển khai và thúc đẩy đầu tư công. Hoặc họ phải đối mặt với những trở ngại chủ quan và khách quan trong việc này, dẫn đến tâm lý thà tránh còn hơn là “đâm đầu vào” để rồi lãnh trọn trách nhiệm khi mọi việc diễn ra không theo đúng ý muốn, kế hoạch.

Trong những trường hợp này thì vấn đề năng lực có thể tạm gác qua một bên và biện pháp xử lý cũng không thể đơn giản chỉ là thay thế người đứng đầu bằng những người có năng lực, trách nhiệm hơn. Chẳng hạn, Chính phủ cần xem lại như chính sách bổ nhiệm, hoặc sửa đổi, hoàn thiện các văn bản pháp luật về đầu tư công (trong một lĩnh vực cụ thể) để có thể khai thông đầu tư công.

Thực tế thì các giải pháp này không phải là mới, và Chính phủ năm nào cũng bày tỏ quyết tâm, quyết liệt tháo gỡ các khó khăn để thúc đẩy giải ngân, đối phó tình trạng giải ngân năm sau... chậm như năm trước (ví dụ như trong quý 1 năm nay). Nhưng rồi sự việc vẫn không mấy tiến triển.  

Từ góc độ của Chính phủ, Phó thủ tướng Lê Minh Khái cho biết, lý do việc triển khai chậm là vì “quá nhiều việc” (2). Tuy nhiên, ông cũng khẳng định trong gói 347.000 tỉ đồng thì tới nay cơ bản đã triển khai hết, như gói 38.400 tỉ đồng tín dụng xã hội hay 40.000 tỉ đồng hỗ trợ lãi suất với doanh nghiệp, hợp tác xã…chỉ còn lại danh mục dự án đầu tư. Ông Khái thêm rằng: “Trong thời gian hơn 3 tháng làm được những chính sách này có thể nói là các bộ, ngành đã rất cố gắng mới được. Còn chậm ở đây là chậm ở các dự án cơ sở hạ tầng, trong đó có cơ sở giao thông”. Ông cũng hứa “sẽ chỉ đạo các bộ, ngành làm sớm việc này.

Ở đây có sự nhầm lẫn. Chẳng hạn, về gói 40 ngàn tỷ đồng hỗ trợ lãi suất, hiện tại thì Ngân hàng  Nhà nước vẫn “đang gấp rút xây dựng các văn bản hướng dẫn để cụ thể hóa các chủ trương chung” (3). Không rõ có phải vì “quá nhiều việc” hay không mà một bộ phận nhiệm vụ đầu tư công đã bị... bỏ quên, nhầm lẫn nên đầu tư công vì thế mà mãi cứ ậm ạch?

Nếu cứ từ nguyên nhân suy ra giải pháp thì e rằng giải pháp trong trường hợp này khó thực hiện. Chẳng hạn, không lẽ lại kiến nghị Quốc hội trước khi muốn ra nghị quyết gì, trao nhiệm vụ gì cho Chính phủ thì phải hỏi xem ý Chính phủ thế nào, có “kham” nổi hay không? Dẫu sao, Quốc hội cũng cần rút kinh nghiệm để không kỳ vọng quá nhiều vào Chính phủ, ít nhất trong lĩnh vực đầu tư công, trong bối cảnh năm nào cũng thấy lặp lại (nhiều lần) điệp khúc giải ngân chậm, bất chấp các lời hứa và quyết tâm của Chính phủ.

ờng như Quốc hội cũng đã và đang ít nhiều tư duy theo hướng trên. Với gói 347 ngàn tỷ đồng, ông Huệ nhấn mạnh: “Theo tinh thần nghị quyết của Quốc hội, đến 2023 nếu không giải ngân được thì trình Quốc hội chấm dứt chứ không có chuyện đưa vào gói sau đó chuyển nguồn để làm lại. Nó không đúng tính chất gói kích thích kinh tế” (2).

Giải pháp chấm dứt này là hợp lý, không chỉ từ góc độ tránh thúc ép giải ngân bằng mọi giá như đề cập ở trên. Xét trên khía cạnh cấp thiết và nguồn lực thực thi gói này, thì gói tung ra vào thời điểm năm 2023 và quy mô 347 ngàn tỷ đồng trong bối cảnh ngân sách ngày càng căng thẳng sẽ là lỗi nhịp và quá rủi ro cho nền kinh tế lúc đó.

Tóm lại, căn bệnh kinh niên giải ngân chậm cho thấy năng lực hữu hạn của các nhiệm kỳ chính phủ là điều rất khó có thể thay đổi, vì nhiều nguyên nhân. Xét thêm thực tế về nguồn lực và tính hiệu quả hữu hạn của đầu tư công thì đầu tư công chỉ nên được triển khai ở quy mô mà năng lực ngân sách và khả năng đảm đương của Chính phủ cho phép. Thúc giục tăng mạnh quy mô và tốc độ giải ngân đầu tư công vượt quá những năng lực này thường sẽ chỉ mang đến sự thất vọng/bại và lãng phí ngân sách.         

------

(1)    https://thanhnien.vn/chu-tich-quoc-hoi-chung-ta-co-tien-ma-khong-tieu-duoc-thi-lang-phi-rat-lon-post1458599.html?io_utm_social=fanpage

(2)    https://thanhnien.vn/sot-ruot-vi-goi-ho-tro-kinh-te-347-000-ti-dong-giai-ngan-cham-post1457594.html

https://thoibaotaichinhvietnam.vn/goi-ho-tro-2-lai-suat-chinh-sach-dung-dan-tham-thau-vao-nen-kinh-te-104416.html

Wednesday, 18 May 2022

Bài toán khó tỷ giá (Bài đăng trên KTSG, 18/5/2022)

https://thesaigontimes.vn/bai-toan-kho-ty-gia/

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã tăng lãi suất cơ bản thêm 0,5 điểm % đã làm tăng thêm sức hấp dẫn của đô la Mỹ. Điều này cùng với áp lực lạm phát tăng cao trên toàn cầu từ các đợt cắt giảm lãi suất của các ngân hàng trung ương trên thế giới trước đó và sự hiện diện của các cú sốc cung và tắc nghẽn logistics đã buộc nhiều ngân hàng trung ương phải siết lại chính sách tiền tệ của mình, vừa là để giảm áp lực lạm phát, đồng thời cũng gián tiếp củng cố tỷ giá bản tệ.

Tuy nhiên, có một số nước lại “lội ngược dòng” trào lưu này, tiếp tục duy trì, thậm chí là hạ lãi suất cơ bản, chủ yếu bởi quan ngại về sự phục hồi kinh tế trong nước có thể bị ảnh hưởng tiêu cực khi tỷ giá bản tệ so với đô la Mỹ mạnh lên. Điều này làm cho tỷ giá bản tệ của một số nước trong khu vực như Nhật, Malaysia, Trung Quốc, suy yếu đáng kể so với cuối năm trước (lần lượt là 13,49%, 4,72% và 4,61%; xem bảng), trong khi bản tệ của một số nước khác trong khu vực chỉ mất giá ở mức độ khiêm tốn hơn nhiều, mà điển hình là tiền đồng (VND chỉ giảm 1,02% như trong bảng).

Mức độ mất giá của một số bản tệ ở châu Á

 

31/12/2021

5/8/2022

+/-

CNY

6,37257

6,66653

4,61%

SGD

1,35207

1,38543

2,47%

IDR

14.272,5

14.482,5

1,47%

MYR

4,17352

4,37055

4,72%

JPY

115,068

130,59

13,49%

VND

22.766,4

22.999

1,02%

Nguồn: xe.com

Vì Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất vào Việt Nam nên sự mất giá mạnh của bản tệ của họ (CNY, 4,61%) so với tiền đồng (1,02%) rõ ràng đã và đang tạo ra lợi thế không nhỏ cho hàng hóa và dịch vụ của họ không chỉ trên thị trường trong nước của Việt Nam mà còn tại các thị trường quốc tế mà Việt Nam đang xuất khẩu sang, tất nhiên bao gồm cả thị trường Trung Quốc.    

Trước thực tế này, và như thường lệ, một số chuyên gia khuyến nghị các doanh nghiệp Việt Nam cần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và nhập khẩu sang/từ các nước ngoài Trung Quốc để tránh bất lợi trong sức cạnh tranh đến từ tỷ giá.

Dĩ nhiên là nói dễ hơn làm. Việc đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu đã được xúc tiến liên tục từ nhiều năm nay, như được thể hiện một phần qua việc ký kết các hiệp định thương mại song phương và đa phương của Việt Nam với các nước và khu vực kinh tế trên thế giới, nhưng kết quả thì vẫn là sự... khẳng định vị trí và sức cạnh tranh thương mại khó có thể lung lay của Trung Quốc đối với Việt Nam.

Ngoài ra, cần lưu ý rằng Trung Quốc cũng chính là một thành viên của RCEP, một hiệp định thương mại đa phương mới được ký kết gần đây mà Việt Nam cũng là một thành viên. Bởi vậy, công cụ đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam nhằm hóa giải sức cạnh tranh tăng lên từ Trung Quốc trong bối cảnh tỷ giá CNY suy yếu mạnh hơn so với tỷ giá VND thực sự đã trở nên không còn mấy ý nghĩa.

Trong bối cảnh này, một giải pháp hiển nhiên khác cần và có thể nghĩ đến là Ngân hàng Nhà nước (NHNN) để VND suy yếu mạnh tương đương hoặc hơn so với mức suy yếu của CNY, qua đó duy trì được cán cân sức cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam so với Trung Quốc.

Cái khó của giải pháp này là nó sẽ làm tăng áp lực lạm phát tại Việt Nam, vốn đang trên đà gia tăng mấy tháng gần đây.

Từ góc độ của NHNN, với sứ mệnh ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát vẫn có thể là một ưu tiên tại thời điểm hiện tại, bởi tăng trưởng kinh tế từ đầu năm đến nay vẫn đang tiếp tục rõ nét, và bởi nền kinh tế thực không có mấy dấu hiệu thiếu tiền nếu căn cứ vào sự sốt nóng của thị trường bất động sản (và thị trường chứng khoán, cho đến khi có các vụ bắt bớ) – là biểu hiện của sự dư thừa cung tiền và khả năng hấp thụ tín dụng có hạn của nền kinh tế thực.

Nhưng từ góc độ của một số nhà làm chính sách, tăng trưởng kinh tế từ đầu năm tuy đã khởi sắc nhưng chưa đủ để đảm bảo đạt được mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng đặt ra cho năm nay (6-7%), đặc biệt là khi NHNN phải tăng lãi suất tiền đồng để chặn lạm phát. Nên đối với những nhà làm chính sách này thì duy trì các biện pháp kích thích tăng trưởng, trong đó có chính sách tiền tệ tiếp tục nới lỏng, vẫn phải là ưu tiên chính sách. Nói cách khác, họ không chấp nhận, không muốn đánh đổi mục tiêu tăng trưởng lấy mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, ít nhất cho đến khi đà tăng của GDP trong quý 2 và 3 đã được củng cố trong khi lạm phát bằng cách nào đó, chủ yếu là biện pháp hành chính, chưa xuất hiện trên các báo cáo chính thức ở mức độ “nguy hiểm”, có khả năng vượt xa mức mục tiêu 4% đặt ra.

Bởi các nhà làm chính sách theo hướng ưu tiên tăng trưởng kinh tế là số đông, và quan trọng hơn, có quyền chi phối định hướng chính sách của nền kinh tế nên rất có khả năng NHNN buộc phải duy trì một chính sách tiền tệ trung dung. Bản thân NHNN chắc cũng không muốn chứng kiến sự suy sụp của thị trường tài chính, bất động sản nếu chính sách tiền tệ được thắt chặt mạnh và nhanh kể cả khi lạm phát đã ngấp nghé ở mức cao.

Với khả năng trên, nếu đô la Mỹ tiếp tục mạnh lên và các đồng bản tệ khác tiếp tục suy yếu thì tiền đồng cũng sẽ chỉ được phá giá thêm ở mức độ rất khiêm tốn trong phần còn lại của năm nay so với đô la Mỹ.

Sunday, 15 May 2022

Làm thế nào để ngăn chặn vi phạm công bố thông tin? (Bài đăng trên KTSG, 15/5/2022)

https://thesaigontimes.vn/lam-the-nao-de-ngan-chan-vi-pham-cong-bo-thong-tin/

Ngày 6/5, Tập đoàn FLC đã gửi lên Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) và Sở Giao dịch Chứng khoán TPHCM tài liệu chứa các thông tin cần cải chính và công bố bổ sung theo quyết định xử phạt ngày 24/3.

Báo cáo của FLC bổ sung 51 nghị quyết Hội đồng quản trị (HĐQT) về giao dịch giữa FLC với các bên liên quan trong giai đoạn từ 24/3/2020 đến 13/5/2021. Đáng chú ý, đây là các thông tin phải công bố trong vòng 24 giờ theo Thông tư 96/2020 nhưng chỉ được FLC công bố ngày 6/5 khi bị yêu cầu theo quyết định xử phạt nói trên.

Vụ việc trên cho thấy FLC đã cố tình che giấu thông tin và họ đã có thể “thoát”, tức là không ai biết, kể cả cơ quan chức năng, nếu không bị vướng vào vụ việc lùm xùm vừa qua về thao túng chứng khoán dẫn đến bắt tạm giam ông Trịnh Văn Quyết, Chủ tịch FLC và cùng với đó là cuộc điều tra FLC.

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để ngăn ngừa và kịp thời phát hiện các vụ việc tương tự về che giấu, gian trá thông tin của doanh nghiệp, vốn sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển lành mạnh của thị trường và quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư lương thiện.

Giải pháp trước tiên đương nhiên phải là nâng cao năng lực và trách nhiệm giám sát, kiểm tra và phát hiện sai phạm của cơ quan chức năng là UBCK. Nhưng trên thị trường chứng khoán có đến hàng ngàn doanh nghiệp phát hành, nên UBCK có thể nại lý do này để nói rằng họ sẽ không thể giám sát, thanh tra từng doanh nghiệp trong số hàng ngàn doanh nghiệp này để phát hiện ra sai phạm, và, do đó, vụ việc không công bố thông tin của FLC tuy “đáng tiếc” nhưng... bình thường.

Tuy lý do trên có phần hợp lý nhưng từ góc độ nhà quản lý, nó không thể là lý do, chí ít bởi thanh tra của UBCK đã có thể hoạt động tích cực và hiệu quả hơn để thanh tra và phát hiện sớm nhiều vụ việc tại nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có các biểu hiện bất thường. Sự tích cực và hiệu quả của hoạt động thanh tra, giám sát của UBCK cũng sẽ là một yếu tố hữu hiệu góp phần giảm thiểu tâm lý làm liều, cố tình sai phạm của lãnh đạo doanh nghiệp.

Ngoài ra, giám sát, kiểm tra chỉ là một trong những công cụ chức năng mà UBCK có. Họ đã có thể làm cho các doanh nghiệp phải tự giác mà công bố thông tin nếu không muốn đánh đổi lấy những hậu quả pháp lý nghiêm trọng khi vi phạm quy định và bị phát giác.

Đáng tiếc là quy định pháp luật hiện tại có thể là quá nhẹ tay với những hành vi vi phạm kiểu này, và việc xử lý vi phạm cũng chỉ rộ lên trong thời gian gần đây chứ trước đó thì khá... yên tĩnh. Chẳng hạn, cũng FLC, cũng vi phạm cùng loại, họ chỉ bị phạt 100 triệu đồng hồi tháng 3. Rõ ràng là so với hàng loạt giao dịch giấu diếm với các bên liên đới ở quy mô lên đến hàng ngàn tỷ đồng mỗi giao dịch thì mức phạt/hậu quả pháp lý này là quá nhỏ nhoi so với cái lợi tiềm năng mà doanh nghiệp thu được từ sự gian dối này, nên không đủ sức răn đe doanh nghiệp làm bậy. Nói cách khác, các hành vi che giấu, gian dối thông tin cần phải được xử lý mạnh tay như hành vi thao túng thị trường và trần mức xử phạt cần được tăng mạnh hơn nữa, kể cả xử lý hình sự thì mới mong hạn chế và ngăn chặn phần nào các sai phạm kiểu này.

UBCK cũng đã có thể gián tiếp ngăn chặn các hành vi vi phạm công bố thông tin thông qua siết chặt trách nhiệm của các công ty kiểm toán. Về nguyên tắc, doanh nghiệp khó mà giấu/”chế biến” được các thông tin cần công bố nếu công ty kiểm toán làm việc chuyên nghiệp và có trách nhiệm cao. Tuy nhiên, ngay trong vụ việc vi phạm của FLC hồi tháng 3, FLC bị phạt 200 triệu đồng cho hành vi không trình bày khoản chênh lệch 70,13 tỉ đồng đánh giá tăng tài sản vào thu nhập khác, dẫn đến sai lệch số liệu trong báo cáo tài chính bán niên năm 2021 soát xét do FLC công bố nhưng công ty kiểm toán liên quan không thấy bị xử lý gì (1). Bởi vậy, UBCK nói riêng và Bộ Tài chính nói chung cần xây dựng và quy định các hình thức xử lý cụ thể với các công ty kiểm toán không thực hiện đúng và đầy đủ trách nhiệm kiểm toán doanh nghiệp của mình.

Sau cùng, UBCK đã có thể khắc phục hạn chế về năng lực giám sát và kiểm tra của mình đối với các doanh nghiệp niêm yết trên nhiều phương diện, gồm cả việc công bố thông tin, bằng việc khuyến khích, tăng cường “tai mắt nhân dân”, phát hiện và tố cáo các vi phạm của (lãnh đạo) doanh nghiệp, với các hình thức thưởng vật chất (thậm chí tỷ lệ với lợi ích mà doanh nghiệp sẽ thu được một cách phi pháp) và bảo vệ người tố giác thích hợp. Cơ chế khuyến khích tố giác này cần được đưa vào thành các quy định luật cụ thể.

-----

https://laodong.vn/kinh-te/hang-loat-doanh-nghiep-bi-xu-phat-nang-vi-vi-pham-cong-bo-thong-tin-1027891.ldo 

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).