Friday, 26 October 2012

2 ý kiến đóng góp vào Báo cáo KT - XH của Chính phủ (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân)

08:34 | 27/10/2012
 
Thủ tướng Chính phủ đã trình bày bản báo cáo trên trong ngày khai mạc Kỳ họp thứ Tư, Quốc hội Khóa XIII. Báo cáo sẽ được đưa ra thảo luận tại Quốc hội. Bài viết này muốn góp ý 2 điểm chính cần tập trung thảo luận.
Góy ý đầu tiên. Có thể thấy toát ra từ Báo cáo là tâm lý ưu tiên cho các hành động và thành quả mang tính ngắn hạn và theo tư duy định kỳ nhằm đạt các chỉ tiêu về KT - XH đã được Quốc hội thông qua.
Điều đáng nói là chính vì tâm lý chạy theo các mục tiêu ngắn hạn thế này nhiều khi sẽ nảy sinh những tác động tiêu cực trong trung và dài hạn. Một ví dụ cụ thể là việc kiềm chế lạm phát. Chính phủ “trong những tháng cuối năm nay sẽ thực hiện các biện pháp để giữ mức lạm phát cả năm khoảng 8%”, theo bản báo cáo. Dòng chữ này tuy ngắn nhưng chứa đựng ít nhất một thông điệp lớn rằng Chính phủ sẽ thực hiện các biện pháp cả cũ và mới, nếu cần thiết, để kìm giữ lạm phát dưới 8%.
Thực ra lạm phát nếu đã ở mức 8% thì cũng không khác biệt bao nhiêu so với mức lạm phát 2 con số ví dụ 10% hay 15%. Điều khác biệt thực sự chỉ là ở cái ngưỡng tâm lý lạm phát 1 con số hay 2 con số mà thôi, chứ không phải ở tác động tiêu cực nhiều hơn hay ít hơn (đáng kể) lên phát triển KT - XH. Bởi vì ngay ở mức 8% thôi, lạm phát ở Việt Nam vẫn cần phải được coi là mức khá cao nếu so với khu vực và thế giới, và so với chính Việt Nam những năm trong thập kỷ trước.
Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi đến cuối năm, triển vọng lạm phát sẽ không dừng lại ở con số 8% như dự tính? Tất nhiên, lúc đó, ngoài những biện pháp rất chung chung và đã quá quen thuộc mà năm nào, báo cáo nào cũng nhắc đi nhắc lại, một số biện pháp mới, mà chắc chắn đa phần mang tính hành chính, sẽ lại được những người có trách nhiệm đưa ra. Dù cũ hay mới, với cường độ như cũ hoặc mạnh hơn, tất cả những biện pháp này đều nhằm khóa mức lạm phát theo báo cáo ở mức 8% cho đến hết năm nay, bất chấp hậu quả để lại cho (các) năm tới.
Ví dụ dễ thấy cho tình trạng này là giải pháp không cho phép một số ngành, doanh nghiệp tăng giá một số hàng hóa dịch vụ nào đó, ví dụ, xăng dầu, điện, nước, học phí, phí y tế v.v… trong một thời gian nào đó. Tuy những giải pháp này có thể ở một mức độ nào đó có tác dụng kìm giữ lạm phát không tăng lên ngay lập tức, nhưng đó chỉ là một hành động tương tự như việc chườm đá lên một cái nhọt đang sưng, và rốt cuộc cái nhọt sẽ vỡ ra, sớm hay muộn.
Lạm phát trong tháng 9 vừa rồi tăng mạnh đến 2,2% được quy kết cho nguyên nhân là quản lý giá cả không khéo léo làm cho một loạt ngành như xăng dầu, điện, giáo dục, y tế chọn cùng thời điểm để tăng giá. Nhưng nếu lật ngược lại vấn đề, vì việc kìm tăng giá những hàng hóa và dịch vụ nói trên không thể kéo dài mãi nên đến một lúc nào đó thì giá cả các hàng hóa đó phải được thả ra, vậy thì việc kìm hãm như trên chỉ có tác dụng làm đẹp số liệu trong một hạn định nào đó (cụ thể là cho đến trước tháng 9 vừa rồi), chứ không có, nếu không muốn nói là ngược lại, tác động tích cực gì đến ổn định kinh tế vĩ mô sau hạn định đó cả. Nếu không thả viện phí, học phí, giá điện, xăng v.v…, lạm phát tháng 9 có thể không tăng tới mức 2,2% nhưng chắc muộn nhất thì đến năm sau lạm phát của một tháng nào đó sẽ phải tăng vọt để bù lại cả một thời gian bị kìm hãm trước đó. Với cung cách điều hành nền kinh tế như vậy thì vô hình trung khuyến khích có các giải pháp ngắn hạn (chủ yếu là hành chính) mang tính bất ổn nhiều hơn là bền vững trong trung và dài hạn.
Với phân tích như trên, nên chăng Quốc hội không nâng lên đặt xuống từng điểm thập phân của mỗi 1 điểm % trong các chỉ tiêu như lạm phát, tăng trưởng GDP, tăng trưởng xuất khẩu, nhập khẩu, tiền tệ và tín dụng v.v… và coi đó như chỉ tiêu pháp lệnh để đánh giá chất lượng điều hành của Chính phủ và/hoặc một thành viên nào đó? Suy cho cùng, việc này, nếu tiếp tục tồn tại, cũng sẽ không còn mấy ý nghĩa khi mỗi lần thấy khả năng không đạt được mục tiêu, Chính phủ lại xin điều chỉnh, và Quốc hội thì thường là thông qua.
Điểm thứ hai muốn góp ý là sự cần thiết phải yêu cầu Chính phủ có những hành động cụ thể chứ không chỉ là những lời nói chung chung luôn luôn được lặp đi lặp lại với tần suất lớn. Chẳng hạn, trong phần Đẩy mạnh thực hiện 3 đột phá chiến lược gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, Báo cáo nêu ra một loạt các biện pháp mà không cần nói thì cũng biết phần lớn chúng đã được đề cập đến từ lâu rồi. Điều người đọc quan tâm không phải là (người đứng đầu) Chính phủ đã có những chỉ đạo gì, quy định gì, triển khai gì v.v… mà là Chính phủ đã đạt được những gì, tiến được bao xa với những biện pháp/chỉ đạo/quy định đó, triển khai cụ thể những biện pháp đó vào thực tiễn như thế nào v.v… Nói cách khác, cái cần được biết là kết quả thực tiễn của các biện pháp chứ không phải là bản thân các biện pháp đó.
Vì những biện pháp này hay biện pháp khác đã được Chính phủ nêu ra trước đây, nên điều Quốc hội cần làm không phải là nghe Chính phủ trình bày và yêu cầu Chính phủ phải có (thêm) các giải pháp khắc phục các yếu kém về KT - XH hiện thời. Thay vào đó, phải chăng Quốc hội nên có thêm một động thái là thảo luận và bỏ phiếu cho chất lượng điều hành của Chính phủ trên phương diện thực hiện các chủ trương, đường lối phát triển chung của Đảng, Nhà nước (ví dụ việc thực hiện 3 đột phá chiến lược)?

Friday, 19 October 2012

Xử lý nợ xấu - Bắt đầu từ đâu và như thế nào? (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=261526

08:58 | 20/10/2012
Nợ xấu, một trong những vấn đề nổi cộm hiện nay, đã được nhắc đến nhiều trong phiên họp của UBTVQH tuần này và chắc chắn sẽ còn được thảo luận nhiều trong Kỳ họp thứ Tư Quốc hội Khóa XIII khai mạc ngày 22.10 tới. Dẫu vậy, chuyện xử lý nợ xấu thế nào là điều còn đang rất mơ hồ, và vẫn chưa được định hình trong giới hoạch định chính sách. Bài viết này gợi ý một số bước đi trong xử lý nợ xấu.
Vì nợ xấu phát sinh từ các ngân hàng thương mại nên chủ thể đầu tiên cần phải tích cực và tự giác xử lý nợ xấu chính là các ngân hàng thương mại. Điều đáng ngạc nhiên là hiện nay hầu như trách nhiệm xử lý nợ xấu lại dường như được dồn lên các cơ quan hữu trách nhà nước. Người ta vẫn còn đang băn khoăn có nên thành lập các công ty mua bán nợ xấu (AMC) trực thuộc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hay không, có nên mở rộng mô hình Công ty quản lý tài sản (DATC) thuộc Bộ Tài chính hay không, có nên dùng ngân sách để giải quyết nợ xấu không v.v..., mà không mấy nhắc đến vai trò chính của các ngân hàng thương mại, buộc họ phải tích cực dọn dẹp đống nợ mình đã để lại trong quá trình kinh doanh nhiều bất cẩn chạy theo lợi nhuận như vừa qua.
Còn phía ngân hàng thương mại thì cũng rất ngạc nhiên khi ta thấy họ hầu như chẳng có mấy động thái gì để chứng tỏ họ đang dốc sức, quyết tâm xử lý nợ xấu để làm lành mạnh hoạt động của mình. Ngay đến việc báo cáo tỷ lệ nợ xấu của mình chính xác là bao nhiêu thì hầu như cũng chẳng có ngân hàng nào thực hiện (được), và vì thế việc xử lý nợ xấu trong tình huống này cứ như thể bảo bác sĩ chữa bệnh mà người bệnh chỉ thò mỗi ngón tay ra cho xem. Dường như đang có một thái độ ỷ lại vào sự cứu trợ và can thiệp của Chính phủ trong việc xử lý những hậu quả do chính các ngân hàng làm nảy sinh với suy nghĩ rằng Chính phủ không thể để các doanh nghiệp phá sản hàng loạt vì không tiếp cận được vốn vay ngân hàng, vì thế sẽ phải làm cái gì đó để cứu trợ cho cả hệ thống ngân hàng.
Vậy, bước đầu tiên cần làm là buộc các ngân hàng thương mại tích cực và tự giác xử lý nợ xấu. Để làm được điều này thì trước tiên NHNN phải tổ chức thanh tra chọn mẫu một số ngân hàng thương mại để biết được mức độ nợ xấu thực sự, mức dự phòng rủi ro, thị giá và loại hình tài sản thế chấp v.v... của từng ngân hàng trong hệ thống. Đồng thời với đó là mạnh tay với việc xử phạt nếu phát hiện các ngân hàng thương mại khác không làm nghiêm túc việc kiểm toán, thanh tra nội bộ (theo các quy trình và tiêu chuẩn đã quy định) để xác định những vấn đề tương tự. Việc này là để khuyến khích các ngân hàng tự giác với mức nợ xấu thực tế của mình mà NHNN không cần phải bỏ công đi thanh tra từng ngân hàng một.
Tiếp đến, sau khi đã biết được mức độ nợ xấu nói chung của hệ thống và của từng ngân hàng nói riêng, cũng như mức dự phòng rủi ro và thị giá của các tài sản thế chấp của họ, NHNN sẽ cần thiết phải buộc những ngân hàng nào có tỷ lệ nợ xấu quá mức quy định/hoặc mức được cho là nguy hiểm (có thể ảnh hưởng đến cả hệ thống) gấp rút xử lý trong một thời gian hạn định (ví dụ, 6 - 9 tháng) nhằm đưa nợ xấu về ngưỡng an toàn (bằng những cách ví dụ như bán nợ, thanh lý tài sản thế chấp, sử dụng trích lập dự phòng và lợi nhuận v.v...). Quá trình xử lý gấp rút, trong một hạn định như thế này có thể sẽ rất thiệt thòi cho ngân hàng thương mại đó nhưng đây là một việc cần thiết và phải thực hiện hết sức nghiêm túc để lập lại kỷ cương trong hệ thống. Bất kể ngân hàng nào không thực hiện nghiêm túc việc xử lý này cần phải có chế tài mạnh từ NHNN.
Đồng thời với quá trình xử lý nợ xấu ở các ngân hàng, Nhà nước cũng cần phải hoàn thành các khuôn khổ luật pháp chưa hoàn chỉnh (nếu có) để quá trình xử lý nợ xấu diễn ra trôi chảy hơn (ví dụ những rắc rối pháp lý liên quan đến việc phát mại tài sản thế chấp, nếu có).
Sau khi đã thực hiện xử lý nợ xấu ở bước thứ nhất (cấp độ từng ngân hàng thương mại), Chính phủ và NHNN sẽ nắm được một bức tranh đầy đủ hơn về những vấn đề tồn đọng, chẳng hạn quy mô và bản chất/cấu thành của khối nợ xấu còn lại mà không thể giải quyết được ở bước thứ nhất bởi từng ngân hàng thương mại. Tùy theo quy mô nợ xấu tồn đọng, NHNN và Chính phủ ở bước thứ hai có thể phải cân nhắc đến những giải pháp mang tính hệ thống hơn như dùng ngân sách để xóa nợ cho một nhóm con nợ nào đó (ví dụ các đối tượng được NHNN chỉ định cho vay), cho một nhóm con nợ nào đó được vay vốn từ ngân sách để trả nợ ngân hàng thương mại, thành lập AMC với nguồn vốn từ ngân sách để mua nợ xấu tồn đọng với giá chiết khấu tối đa (mang tính bắt buộc đối với ngân hàng thương mại phải bán nợ xấu cho AMC này nếu không còn bán được ở nơi khác).
Ở bước thứ ba, NHNN sẽ phải cân nhắc việc quốc hữu hóa (toàn bộ hoặc từng phần) hoặc cho phá sản một số ngân hàng nào đó mà tất cả các biện pháp trên vẫn không giải quyết được hết nợ xấu, đến mức mà phần nợ xấu còn lại ăn lạm cả vào một phần hoặc toàn bộ vốn chủ sở hữu. Cũng tương tự như trên đã đề cập, các khuôn khổ pháp lý cho những biện pháp này (ví dụ việc buộc các cổ đông sở hữu phải giảm tỷ lệ nắm giữ cổ phần tương ứng, việc NHNN cử cán bộ của mình vào các vị trí quản trị ngân hàng v.v...) cũng cần phải được hoàn thiện song hành.
Trong quá trình xử lý theo các bước nói trên, một nguyên tắc cần được quán triệt là phải tối thiểu hóa nguồn lực công nếu cần phải sử dụng đến, và tối đa hóa các nguồn tài chính từ chính các ngân hàng thương mại có nợ xấu. Nguồn lực công có thể là từ ngân sách (hoặc thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ) hay từ NHNN và điều này không quan trọng vì đằng nào thì gánh nặng tài trợ cũng sẽ dồn lên NHNN và kết thúc ở việc NHNN bơm tiền cho hệ thống.
Song song với các bước giải quyết nợ xấu, điều không kém phần thiết yếu là NHNN phải tiếp tục củng cố và xiết lại các tiêu chuẩn hoạt động an toàn của hệ thống ngân hàng để không làm phát sinh thêm nợ xấu. Chính phủ nói chung cũng phải có những động thái tích cực, ví dụ như ngừng các chỉ đạo cho vay (ưu đãi) một số nhóm đối tượng nào đó, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước v.v... để sao cho cho vay thương mại sẽ chỉ còn đơn thuần được tiến hành trên những cân nhắc mang tính thị trường giữa các bên liên quan.

Thursday, 18 October 2012

Kết quả thực tế cho kiến nghị chính sách kiểu của 2 đồng chí TS Phạm Đỗ Chí và Vũ Viết Ngoạn


Trong mấy bài viết đi và phản hồi lại của tớ với 2 đồng chí TS này trên TBKTSG và cả trên blog này, tớ đã vạch ra cái sai lầm về khuyến nghị chính sách của 2 đồng chí theo mô hình IS-LM là nới lỏng chính sách tiền tệ để hạ lãi suất nhờ đó kích thích đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng.

Cụ thể, tớ nói rằng mô hình IS-LM dựa trên giả thiết cơ bản rằng đầu tư chỉ phụ thuộc vào lãi suất. Nhưng thực tế thì đầu tư còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, trong đó có việc doanh nghiệp tiếp cận được với vốn tín dụng ngân hàng. NHNN nới lỏng chính sách tiền tệ để/sẽ dẫn đến hạ lãi suất nhưng điều này lại không nhất thiết sẽ dẫn đến làm tăng đầu tư vì ngân hàng lúc đó có cho doanh nghiệp vay hay không là chuyện khác, và rất có thể ngân hàng sẽ khắt khe hơn về tiêu chuẩn được vay vốn khi đầy nợ xấu và rủi ro phá sản. Rốt cuộc thì tăng trưởng tín dụng và đầu tư sẽ không được như kỳ vọng.

Nay thì ngay cả đồng chí Chí trong bài viết mới nhất của mình cũng phải thừa nhận rằng nới lỏng chính sách tiền tệ (tăng hơn 10% trong 9 tháng, mà theo đồng chí ấy thì là “vừa phải”) và lãi suất đã hạ nhưng tín dụng vẫn tăng “nhỏ giọt” (sic). Tức là kịch bản mà đồng chí Chí và Ngoạn dựng nên trong kiến nghị chính sách của họ đã không xảy ra.

Nói qua vậy thôi để mong đây là một bài học kinh nghiệm cho những học giả/học thật trước khi động chạm gì đến lý thuyết thì cần phải có sự hiểu biết một cách thực sự lý thuyết đó. Tuyệt đối cần tránh tình trạng dùng những lý thuyết/mô hình với những khái niệm và ký hiệu (toán học) lằng nhằng để làm le với thiên hạ, theo kiểu khoe chữ và làm hàng.

Cũng qua cái sự việc nêu trong entry này, sự ngớ ngẩn trong cái kiểu kiến nghị chính sách của đồng chí Bùi Kiến Thành (NHNN in tiền thật nhiều cho ngân hàng thương mại vay với lãi suất cực thấp để ngân hàng thương mại cho vay lại doanh nghiệp với lãi suất thấp...) cũng đã được vạch ra. Hy vọng đến một lúc nào đó những cái loa gây nhiễu kiểu này sẽ tự censored/tự kiểm duyệt và đục bỏ.

Sunday, 14 October 2012

Chuyện về Moody’s và Standard and Poor’s


Tuần trước nữa và tuần vừa rồi tớ đã thu xếp đến gặp 2 đồng chí Moody’s và Standard and Poor’s (S&P) ở Singapore để hỏi cho ra nhẽ tại sao 2 đồng chí ấy tuy cùng là hãng xếp hạng tín nhiệm lại có hành động mâu thuẫn nhau đến vậy (đồng chí Moody’s thì cuối tháng 9 đã hạ hạng tín nhiệm của Chính phủ Việt Nam và một số ngân hàng Việt Nam, còn đồng chí S&P thì lại sửa lại triển vọng hạng tín nhiệm của Chính phủ Việt Nam từ Tiêu cực thành Ổn định và cũng cuối tháng 9 vừa rồi lại nâng hạng của một số ngân hàng thương mại Việt Nam).

Nhìn chung, có thể nói 2 đồng chí này ở 2 thái cực khác hẳn nhau. Một đồng chí thì quá tiêu cực và lo xa, nhưng ẩu (Moody’s). Đồng chí còn lại (S&P) thì quá tích cực và hời hợt, nhưng cả tin.

Về Moody’s, các đồng chí ấy lo ngại rằng nợ xấu và thiếu hụt thanh khoản trong hệ thống ngân hàng sẽ là một gánh nặng rất nặng chất lên vai Chính phủ và Chính phủ không thể trốn tránh được khỏi nghĩa vụ phải nhảy vào cứu trợ hệ thống ngân hàng trong khi bản thân (Chính phủ) thì nợ đầm đìa, khó mà xoay xở ở đâu được. Tăng trưởng chậm lại cũng làm khuyếch đại những khó khăn của Chính phủ thêm nữa.

Sau một hồi tớ vặn vẹo thì các đồng chí Moody’s cũng phải thừa nhận rằng sự cứu trợ này của Chính phủ, nếu có, thì cũng có hạn (chứ không phải cần bao nhiêu thì đáp ứng bấy nhiêu) và cũng không thể xảy ra ngay nay mai được. Mà như vậy thì lại mâu thuẫn với lập luận ban đầu của các đồng chí ấy để làm cơ sở để hạ hạng tín nhiệm của các ngân hàng Việt Nam như nói ban đầu. Cuối cùng, các đồng chí ấy đành bào chữa rằng hành động vừa rồi của các đồng chí ấy là hành động mang tính phòng xa, đi trước sự việc (ring-fencing), có nghĩa là cảm thấy sẽ xảy ra thế thì hành động luôn, chứ không chờ cho đến khi sự việc xảy ra rồi thì mới hành động!

Trong quá trình thuyết minh, các đồng chí ấy đưa ra một vài bảng biểu với đồ thị ước tính mức độ nợ xấu của Việt Nam và theo đó là mức độ vốn cứu trợ (tái cấp vốn) cần thiết cho hệ thống ngân hàng mà mức cao nhất là (tương ứng với tỷ lệ nợ xấu là 30%) chỉ là tương đương với 11% của GDP. Nghe thì cũng hơi hơi... kinh (vì tớ không nghĩ nó lại ... thấp thế!) để minh họa cho tính nguy cấp, trầm trọng của vấn đề nợ xấu và nhu cầu can thiệp của Chính phủ. Nhưng vấn đề là các đồng chí ấy sử dụng số liệu có đến năm 2011 thôi! Thế thì tớ mới có cái cớ để hỏi xoáy rằng tại sao các đồng chí ấy không hạ hạng tín nhiệm ngay từ đầu năm (cùng lắm là cuối quý 1 hoặc sang quý 2), khi các loại số liệu mà các đồng chí ấy sử dụng trong các bảng biểu và đồ thị trên được công bố? Sao phải chờ đến tận cuối tháng 9?

Điều đáng nói là sau cái ngày bọn tớ viếng thăm đó 2 ngày (tức vào thứ 2 tuần qua), các đồng chí ấy lại gửi cho tớ một bản Special Comment chính thức (hình như có đăng trên website của Moody’s), trong đó cũng có những bảng biểu với đồ thị như trước, nhưng điều đáng nói hơn nữa là các số liệu gánh nặng tái cấp vốn của Chính phủ lại tăng vọt, từ 11% trong ước tính hôm gặp bọn tớ vọt lên đâu như 20-30% của GDP gì đó, và tất nhiên vẫn là tính trên số liệu cuối năm 2011. Lên bao nhiêu thì không quan trọng lắm bằng cái bản chất sự việc là các đồng chí ấy đã phải sửa sang số liệu trước và sau khi công bố chính thức. Điều này cũng chứng tỏ các đồng chí ấy hành động khi chưa có một cơ sở chắc chắn cho các nhận định làm nền tảng cho các hành động điều chỉnh hạng tín nhiệm.

Vì những vấn đề ấm ớ như trên nên tớ khi viết báo cáo nội bộ phải cố vắt óc nghĩ ra một lý do khả dĩ hơn để làm nhẹ “tội phán mò” của các đồng chí Moody’s. Cuối cùng thì tớ cũng tìm ra được một chi tiết, đó là chuyện Moody’s đề cập đến việc bắt đồng chí bầu Kiên, và bình luận thêm rằng việc bắt giữ này gây ra quan ngại cho Moody’s và họ cũng không nghĩ rằng sự việc tương tự chỉ dừng lại ở ACB (mặc dù các đồng chí ấy có vẻ cũng chẳng biết nhiều về những chuyện này, và cũng có vẻ cũng không sẵn sàng để nói về chúng lắm). Từ đó, tớ mới triển khai thêm rằng phải chăng đây mới chính là một (trong những) lý do thực sự để Moody’s đến thời điểm này mới hạ hạng tín dụng của các ngân hàng Việt Nam, khi lo ngại rằng nếu có các hành động bắt bớ hoặc trấn chỉnh mạnh tay của các cơ quan có thẩm quyền sẽ gây ra một cơn chấn động trong toàn hệ thống làm tăng đột ngột rủi ro đổ vỡ hệ thống và Chính phủ buộc phải nhảy ngay vào can thiệp và cứu trợ đúng như kịch bản mà các đồng chí ấy vạch ra? Nếu đúng Moody’s nghĩ vậy thì còn thông cảm được. Bằng không thì buồn lắm, các đồng chí Moody’s à! Chắc cũng đoán được những “băn khoăn” của tớ trong buổi gặp gỡ, mấy đồng chí Moody’s này 2, 3 lần gửi email nhắc tớ là nếu cần trao đổi thêm thì cứ cho biết. Nhưng tớ thì vốn lịch sự nên đành trả lời là để bọn tớ nắm lại vấn đề đã rồi có gì hỏi thêm sau, để cho các đồng chí ấy còn đường mà làm ăn, vì rõ ràng là các đồng chí ấy đã rất nao núng.

Về S&P, các đồng chí này thì theo kiểu thấy đâu nói đó, rất cả tin. Chẳng hạn, các đồng chí ấy thấy anh Bình nhà ta (thống đốc NHNN) tuyên bố cái này cái kia, quyết tâm làm cái này cái kia (tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, khống chế tăng tín dụng cho ngành phi sản xuất v.v...) thì tin sái cổ rằng anh Bình đang làm thật và kết quả có tốt hơn thật. Các đồng chí ấy còn khen anh Bình hết lời, nào là con người của đổi mới, nào là con người của minh bạch (là Thống đốc lần đầu tiên công bố tỷ lệ nợ xấu cao hơn con số báo cáo của các ngân hàng thương mại, là người mạnh tay áp đặt các chuẩn mực hoạt động nghiêm khắc hơn cho hệ thống ngân hàng v.v...). Cũng tương tự, các lời khen ngợi được dành cho các chính sách vĩ mô của Chính phủ, nào là đã thắt chặt chính sách tiền tệ để giảm lạm phát, giữ ổn định tỷ giá, chấp nhận giảm tăng trưởng tín dụng (giảm tăng trưởng GDP) để ổn định vĩ mô. Từ đó, hệ thống ngân hàng thương mại dần đi vào ổn định, và S&P thấy là cần phải tăng hạng của họ lên. Xong! Rất đơn giản và... dễ hiểu!

Tớ nghe các đồng chí này nói một hồi về những chuyện tốt đẹp trên mà ù hết cả tai, bèn chỉ dám khẽ khàng hỏi lại là thế các đồng chí có biết rằng chính sách tiền tệ thực tế là nới lỏng rất mạnh không (10,5%/9 tháng), có biết tại sao tín dụng chỉ tăng 2,5%/9 tháng không (mà không phải là do chính sách kiềm chế tăng trưởng tín dụng đâu), có biết anh Bình hứa nhiều nhưng chẳng làm được bao nhiêu không, Chính phủ thực tế đang thi hành những chính sách ngược lại với ý định ban đầu không v.v... Tức là những cái các đồng chí S&P ca ngợi và lấy đó làm cơ sở để nâng hạng tín dụng của các ngân hàng thực ra đã không còn tồn tại, nếu có. Và vì thế hành động nâng hạng của các đồng chí như vừa rồi rất là vội vã, dựa trên những hiểu biết hời hợt về Việt Nam – superficial – là từ mà tớ dùng trong báo cáo nội bộ của mình.

Không biết các đồng chí S&P có khách sáo không, vì khi tớ phản biện lại, các đồng chí ấy thỉnh thoảng lại nói “justified”, và tỏ ý sẽ trao đổi với tớ sau này. Tớ trộm nghĩ khéo mà mình có ảnh hưởng to lớn đến các quyết định xếp hạng của S&P chứ chẳng chơi! Nhưng có điều chắc chắn là S&P sẽ không tăng hạng của Việt Nam ít nhất là hết năm 2013. Khả năng đánh tụt hạng là nhiều hơn, nhất là sau khi các đồng chí ấy ngộ ra nhiều chuyện ở Việt Nam, nhờ cuộc nói chuyện với tớ! Thế thì cũng gay go cho tớ quá lắm!

Friday, 12 October 2012

Một số dự đoán cho xu hướng chính sách tiền tệ năm 2013 (Bài đặt của một báo nhưng không được đăng)


(Một phiên bản bài này cuối cùng cũng được đăng trên Vneconomy. Biên tập ẩu quá.

Chính sách tiền tệ (CSTT) đã bước vào quý 4 và để lại một số điểm đáng chú ý đằng sau nó như tổng phương tiện thanh toán (cung tiền của NHNN, M2) đã tăng tới 10,4% trong tháng 8 so với cuối năm 2011. Tương ứng, tổng số dư tiền gửi tại các tổ chức tín dụng cũng tăng 11,2% trong cùng kỳ. Trong khi đó, tổng dư nợ tín dụng (tính đến 20/9) chỉ tăng 2,4% so với cuối năm 2011. Lạm phát đã quay trở lại một cách rõ nét với mức tăng trong tháng 9 vọt lên 2,2% so với tháng 8 và 6,2% so với tháng 12/2011, chấm dứt thời kỳ của cái gọi là “suy thoái kép”, mà một số người lo lắng sai lầm đã gán ghép cho nó khi lạm phát theo tháng giảm liên tục trong một số tháng, thậm chí xuống mức âm như vừa qua và tăng trưởng GDP theo quý cũng chững lại.

Trong bối cảnh trên, CSTT sẽ theo hướng nào trong thời gian tới là một vấn đề đáng quan tâm. Liệu M2 sẽ nên tiếp tục tăng với tốc độ tương tự năm nay, tức tới trên 15% (10,4% trong 8 tháng đầu năm, cộng thêm tối thiểu 5% cho 4 tháng còn lại của năm khi nhu cầu phương tiện thanh toán thường tăng mạnh, cũng như nhu cầu tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hơn nữa từ mức tăng “lẹt đẹt” trong suốt cả 9 tháng qua? Câu trả lời là không nên. Bức tranh kinh tế vĩ mô của 9 tháng qua khác nhiều so với những tháng còn lại của năm nay và sang năm tới.

Khác biệt đầu tiên là áp lực lạm phát đã gia tăng trở lại rõ nét, thu hẹp đáng kể dư địa cho CSTT nới lỏng của NHNN. Nếu như từ đầu năm nay NHNN đã dốc sức bơm tiền để “cứu” thanh khoản, để “cứu” tăng trưởng tín dụng nhằm “cứu” doanh nghiệp, sự bơm tiền mạnh đó chưa làm tăng đáng kể áp lực lạm phát. CSTT cần một độ trễ nhất định (vài tháng, thậm chí là 2, 3 quý) để phát huy tác dụng. Nay cũng là thời điểm để sự bơm tiền này phát huy tác dụng, thông qua chỉ báo CPI đã quay đầu tăng vọt. Thêm nữa, việc bơm tiền của NHNN thời gian vừa qua “may mắn” diễn ra trong bối cảnh tổng cầu suy giảm mạnh nên áp lực lạm phát nếu có cũng vì thế mà dịu bớt.

Khác biệt thứ hai, môi trường kinh tế thế giới đã có một số diễn biến đáng chú ý khi đồng hành với các gói kích thích kinh tế và nỗ lực bơm tiền của NHTW các nước, giá cả thế giới đã tăng mạnh ở nhiều loại hàng hóa nhập xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Vì thế, yếu tố lạm phát đẩy sẽ phối hợp với yếu tố lạm phát từ cầu kéo do cung tiền trong nước tăng sẽ củng cố thêm xu hướng tăng của lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới.

Khác biệt thứ ba, bất chấp ai đó liên tục lôi chuyện doanh nghiệp phàn nàn khó khăn, phá sản, liên tục nói đến nguy cơ suy thoái, thực tế là kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng và mạnh dần lên, ở mức không thể gọi là không khả quan được, 4% quý 1, 4,7% quý 2 và 5.4% trong quý 3, đặc biệt trong bối cảnh toàn thế giới đang suy giảm tăng trưởng. Điều này chứng tỏ tổng cầu đã phục hồi và tăng trưởng khá mạnh ở Việt Nam, làm triệt tiêu hoặc ít ra là bớt đi nhu cầu cấp thiết phải nới lỏng CSTT để kích thích tăng trưởng như ở nhiều nước trên thế giới.

Với những yếu tố trên, sự tiếp tục nới lỏng CSTT ở mức độ lớn như năm nay trong năm tới chắc chắn sẽ đẩy Việt Nam vào lại vòng xoáy lạm phát mới.

Tuy vậy, có một số lý do mà NHNN có thể sẽ buộc phải duy trì CSTT nới lỏng ở mức độ lớn trong năm sau. Lý do thứ nhất, áp lực từ chiêu bài tăng cung tiền để “cứu” tăng trưởng tín dụng nhằm “cứu” doanh nghiệp không phải là dễ bỏ qua đối với NHNN. Cho dù rõ ràng tăng trưởng tín dụng “lẹt đẹt” như thời gian vừa qua không phải có nguyên nhân từ việc thắt chặt CSTT của NHNN, nhưng vẫn có nhiều tiếng nói kể cả của giới chuyên gia, quan chức, và Quốc hội đòi hỏi NHNN tiếp tục “hỗ trợ” ở phương diện này. Và cũng dễ thấy là NHNN không hiếm khi phải thay đổi lập trường của mình trước những áp lực như vậy.

Lý do thứ hai, với cục nợ xấu vốn đã lớn và lại có nguy cơ tiếp tục phình ra nhanh chóng song hành với sự đi xuống của thị trường bất động sản trong khi việc tái cơ cấu ngân hàng gần như án binh bất động và việc giải quyết nợ xấu vẫn còn đang ở giai đoạn... tranh cãi xem nên làm thế nào, thì  áp lực cứu thanh khoản cho hệ thống lên NHNN ngày càng lớn. Chắc chắn rằng trong số 10,4% tăng trưởng M2 nói trên có không nhỏ một tỷ lệ là dành cho cứu trợ thanh khoản trên toàn hệ thống. Hãng xếp hạng tín dụng Moody’s vừa rồi hạ hạng tín dụng của Việt Nam cũng chủ yếu vì lý do lo ngại rằng nhu cầu lớn về vốn cho việc tái cấp vốn cho hệ thống ngân hàng để dọn dẹp nợ xấu và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng sẽ đặt lên vai Chính phủ và việc bơm tiền từ NHNN là điều khó tránh khỏi. Trong tình huống khẩn cấp, với cam kết không để bất cứ ngân hàng nào đổ vỡ của NHNN, nhìn từ thực tế chuyện đã xảy ra ở ngân hàng ACB, không khó để hình dung một lượng tiền khổng lồ sẽ phải được bơm ra từ NHNN vào hệ thống ngân hàng để duy trì sự sống còn của cả hệ thống. Lúc đó, áp lực lạm phát và những bất cân đối vĩ mô đương nhiên là những vấn đề bị đẩy lùi lại trên bậc thang ưu tiên trong hoạch định chính sách.

Tóm lại, xu hướng CSTT sang năm tới rốt cuộc có nhiều khả năng sẽ phải theo hướng tiếp tục nới lỏng đáng kể (tức M2 sẽ tăng đáng kể) để hỗ trợ thanh khoản, tái cấp vốn cho hệ thống ngân hàng và kéo tăng trưởng tín dụng, bất chấp việc những người trong cuộc như NHNN có thể không mong muốn như vậy. Đồng nghĩa với điều này là lãi suất sẽ tiếp tục được duy trì thấp một cách khiên cưỡng còn áp lực lạm phát sẽ tăng mạnh.

Friday, 28 September 2012

Chương trình nới lỏng định lượng lần thứ 3 của Mỹ và những tác động lên Việt Nam

(Bài này đã được báo Đầu tư đã trả nhuận bút, có nghĩa là đã được đăng, nhưng chẳng biết đã đăng khi nào và ở đâu. Tớ đang “điều tra”, khổ thế đấy)

Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) mới đây đã tiến hành đợt nới lỏng định lượng (tức nới lỏng chính sách tiền tệ) lần thứ 3, được gọi tắt là QE3. Sự khác biệt chủ yếu giữa QE3 với các chương trình nới lỏng trước đó của Fed (QE1 và QE2) nằm ở chỗ QE3 – chương trình mua lại tài sản, với tổng giá trị lên tới 85 tỷ đôla/tháng, gồm 45 tỷ đôla dành để mua các khoản vay có thế chấp – là chương trình không có thời hạn kết thúc. Nói đúng hơn, nó sẽ được kết thúc chỉ khi nào Fed thấy được sự cải thiện mạnh mẽ trên thị trường việc làm của Mỹ. Như thế cũng có nghĩa là Fed đã gắn thời hạn của QE3 với một mục tiêu kinh tế vĩ mô cụ thể. Ngoài ra, Fed cũng nới rộng thời hạn duy trì lãi suất gần bằng 0 cho các khoản vay tái chiết khấu (Fed Funds) của mình ít nhất là đến giữa năm 2015, thay vì năm 2014 như trước đó đã tuyên bố.

Mục tiêu
Trên lý thuyết, việc ngân hàng trung ương mua tài sản là nhằm nới lỏng chính sách tiền tệ và, do đó, hạ lãi suất dài hạn, gồm cả lãi suất cho vay có thế chấp. Việc này được kỳ vọng sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế thông qua tăng đầu tư lợi dụng lãi suất thấp, đồng thời làm phục hồi thị trường bất động sản Mỹ. 

Tuy vậy, 2 chương trình nới lỏng trước đây chỉ cho một kết quả không rõ ràng, không hoàn toàn như kỳ vọng khi các thị trường nhà cửa và việc làm vẫn trì trệ. Có lẽ đây chính là lý do để Fed lần này tung ra QE3 vô thời hạn gắn với một mục tiêu vĩ mô cụ thể và với cam kết mạnh mẽ duy trì lãi suất thấp trong một thời gian dài hơn nhằm khôi phục mạnh mẽ lòng tin và kích thích đầu tư, tiêu dùng.

Tác động có thể lên nền kinh tế Việt Nam
Tuy QE3 chỉ là một hành động nghiệp vụ của Fed, cũng có thể được tiến hành bởi bất cứ ngân hàng trung ương nào trên thế giới khi muốn nới lỏng chính sách tiền tệ của mình, nhưng phạm vi tác động của chính sách này của Mỹ không chỉ dừng lại ở Mỹ mà lan ra toàn cầu vì vị thế cường quốc số 1 của Mỹ trong nền kinh tế toàn cầu.

Tác động đầu tiên của QE lên một nền kinh tế khác, chẳng hạn như Việt Nam, là làm tăng áp lực lạm phát. Với triển vọng lạm phát Mỹ sẽ tăng lên do QE3, giá cả hàng hóa toàn cầu (tính theo USD) sẽ chịu áp lực tăng lên, làm tăng áp lực lạm phát ở những nền kinh tế có mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu lớn như Việt Nam. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng điều này – QE sẽ làm tăng giá cả thế giới – chỉ đúng (ít nhất là trong trung hạn) khi phần còn lại của thế giới không chịu áp lực giảm phát. Các nền kinh tế lớn trên thế giới hiện nay như EU, Trung Quốc và Ấn Độ thì hoặc là đang suy thoái, hoặc là đang phải chứng kiến đà suy giảm tăng trưởng mạnh, từ đó đã và đang tác động tiêu cực đến tăng trưởng tổng cầu thế giới, và tức là hãm đà tăng của giá cả thế giới do QE gây ra, nếu có. Vì thế, có thể nói tác động của QE3 làm tăng lạm phát ở Việt Nam chỉ xảy ra khi tình hình tại các nền kinh tế lớn khác trên thế giới không tiếp tục xấu đi hơn hiện tại.

Với giả thiết trên, ta tiếp tục xem xét tác động của QE3 lên Việt Nam. Phản ứng của ngân hàng trung ương nước sở tại (ví dụ, Ngân hàng Nhà nước, NHNN) trước áp lực lạm phát gia tăng thường là tăng lãi suất bản địa (VND).  Nhưng nếu làm như vậy thì VND lại chịu áp lực lên giá so với USD, từ đó làm giảm sức cạnh tranh của xuất khẩu của Việt Nam, và, tức là, giảm tốc độ tăng trưởng. Đây chính là tác động có thể có thứ 2 của QE3 lên Việt Nam.
Nếu NHNN cân nhắc thấy rằng việc tăng lãi suất hơn nữa trong bối cảnh các doanh nghiệp đang đồng thanh than khó vì lãi suất vẫn còn cao như hiện nay là việc cần tránh (mặc dù lạm phát đã thực sự tăng tốc trở lại gần đây). Như thế, lãi suất rất có thể được duy trì ở mức hiện tại nhằm hỗ trợ tăng trưởng, thông qua việc giữ nguyên hoặc nới lỏng thêm chính sách tiền tệ (ít nhất là không thắt chặt) của NHNN. Lúc đó, áp lực lạm phát thay vì chỉ đến từ áp lực tăng giá hàng hóa quốc tế, còn đến từ chính sách tiền tệ ít-nhất-là-không-thắt-chặt của NHNN. Nói cách khác, lạm phát gia tăng là điều khó tránh khỏi ở Việt Nam, ít nhất trong giai đoạn trước mắt và sang năm tới.

QE3 có thể còn gây ra tác động thứ 3, và trực tiếp, lên nền kinh tế Việt Nam thông qua kênh tỷ giá và xuất khẩu của Việt Nam. Với việc tăng cung USD, lạm phát ở Mỹ có khả năng sẽ tăng lên thêm một vài điểm phần trăm (khoảng 3%, theo kỳ vọng của Fed). Trong bối cảnh NHNN muốn duy trì ổn định tỷ giá danh nghĩa VND đi đôi với kiềm chế lạm phát bằng chính sách tiền tệ “linh hoạt, thận trọng”, tức là nới lỏng ít, nếu có, thì USD sẽ lên giá thực so với VND (vì chênh lệch lạm phát giữa 2 nước thu hẹp lại, trong khi tỷ giá danh nghĩa ít biến động). Điều này có tác dụng tương đương như việc NHNN chủ động phá giá VND một vài điểm phần trăm so với USD, nhờ đó làm tăng tính cạnh tranh của xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường Mỹ. Tuy nhiên, tác động tích cực này sẽ bớt đi về mức độ nếu lạm phát ở Việt Nam cũng lại chịu áp lực tăng lên từ việc nới lỏng cung USD của Fed và làm tăng áp lực lạm phát đẩy trên toàn cầu, trong đó có Việt Nam, làm cho chênh lệch lạm phát giữa 2 nước không thay đổi nhiều theo hướng có lợi cho Việt Nam.
Ngược lại, nếu NHNN thi hành chính sách phá giá chủ động bám sát lạm phát của Mỹ thì tính cạnh tranh của xuất khẩu của Việt Nam sẽ không bị ảnh hưởng cho dù lạm phát của Việt Nam cũng sẽ tăng lên ở mức độ nào đó thông qua “nhập khẩu lạm phát” khi giá hàng hóa nhập khẩu bằng USD tăng lên đồng thời tỷ giá VND/USD cũng tăng lên.

Cũng có thể hình dung thêm một tác động nữa của QE3 lên Việt Nam. Với lãi suất USD và lợi tức trái phiếu Chính phủ Mỹ thấp, các ngân hàng và/hoặc cá nhân, tổ chức Việt Nam sẽ bớt đi nhu cầu đầu tư vào các tài sản này. Thay vào đó, nhu cầu về vàng và bất động sản sẽ tăng lên, đặc biệt trong bối cảnh lạm phát toàn cầu có thể sẽ tăng lên. Như thế, thị trường bất động sản có khả năng ấm lại nhanh hơn còn giá vàng trong nước tiếp tục xu hướng tăng trong thời gian tới.
Tóm lại, ảnh hưởng của QE3 của Fed lên Việt Nam trước tiên sẽ phụ thuộc vào diễn biến ở phần còn lại của nền kinh tế thế giới. Với giả thiết rằng các nền kinh tế lớn trên thế giới sẽ thoát ra cuộc khủng hoảng hiện thời trong năm sau và/hoặc phục hồi tốc độ tăng trưởng, QE3 sẽ rất có thể làm lạm phát gia tăng ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung trong năm tới. Vì áp lực duy trì và phục hồi tăng trưởng, NHNN sẽ có thể phải chấp nhận “sống chung” với lạm phát để cố gắng hạ hoặc ít nhất là duy trì lãi suất như hiện tại (không tăng lên để chống lạm phát). VND vì thế cũng có khả năng bị phá giá ở mức độ nhẹ theo sát với mức lạm phát ở Mỹ để đảm bảo tính cạnh tranh của xuất khẩu. Bất động sản và vàng sẽ sôi động hơn và giá cả có xu hướng đi lên.

Friday, 21 September 2012

Có chặn được cơn sốt vàng hay không? (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân)

http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=258708

08:34 | 22/09/2012
Quyết định 1623/QĐ-NHNN và Thông tư 24/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành ngày 23.8 được cơ quan này coi là liều thuốc đặc trị sự bất kham của thị trường vàng trong thời gian qua.
Cụ thể, Quyết định 1623 đã chính thức công bố việc tổ chức và quản lý sản xuất vàng miếng SJC thuộc độc quyền NHNN và nó làm nền tảng pháp lý để nhà điều hành bổ sung nguồn cung vàng miếng, can thiệp thị trường khi cần thiết, nhất là những khi xảy ra sốt vàng. Còn Thông tư 24 thì cấm các tổ chức tín dụng vay và cho vay vốn bằng vàng đối với khách hàng và các tổ chức tín dụng khác; họ cũng không được gửi vàng tại tổ chức tín dụng khác; không được thực hiện các nghiệp vụ ủy thác, đầu tư và các hình thức cấp tín dụng khác bằng vàng.
Tuy vẫn còn chút bán tín bán nghi nhưng tại thời điểm ban hành các quyết định trên thì đa phần giới chuyên gia đều có nhận định khá tích cực về tính hiệu quả của các giải pháp quản lý thị trường vàng như thế này của NHNN.
 
Thế nhưng thực tế đã nhanh chóng chứng tỏ các giải pháp trên không có mấy tác dụng như kỳ vọng trong việc bình ổn giá vàng cũng như ngăn chặn sốt vàng. Giá vàng trong nước đã nhanh chóng tăng vọt kể từ thời điểm ban hành những quy định trên và vượt mức 47 triệu đồng/lượng vàng SJC gần đây. Tất nhiên, cũng cần phải nói rằng giá vàng thế giới trong thời gian qua cũng gia tăng nhanh chóng, vượt trên ngưỡng 1.700 USD/oz. Tuy vậy, không thể đổ lỗi gây ra cơn sốt vàng trong nước hoàn toàn là do giá vàng thế giới tăng, đơn giản vì giá vàng quốc tế nếu quy ra USD thì thường thấp hơn giá vàng trong nước đến cả 1 - 2 triệu VND/oz hoặc hơn. Cũng cần nhắc lại lời cam kết của NHNN không xa trước đây trong việc bình ổn giá vàng trong nước bám sát giá vàng thế giới ở khoảng cách 400.000 VND/lượng.
Vậy thì các giải pháp trên không ổn ở chỗ nào? Thực ra, các nguyên nhân đều khá đơn giản nếu suy từ các nguyên tắc kinh tế thị trường. Thứ nhất, các quy định trên đã biến một thị trường từ chỗ “trăm người bán, vạn người mua” thành một thị trường “vạn người mua, một số ít người bán”, cho dù lượng hàng hóa mang ra mua bán có thể là không phải là quá ít ỏi. Một thị trường như vậy thì quyền lực thuộc về kẻ bán và sẽ làm nảy sinh những rào cản để giá hàng hóa tiệm cận được với mức giá thực được xác định bởi cung thật và cầu thật, đặc biệt là khi những kẻ bán trên phối hợp với nhau để trục lợi, lũng đoạn thị trường (là việc trở nên dễ dàng hơn so với trước đây vì nay chỉ còn một số ít kẻ bán, dễ thông đồng và hợp sức với nhau hơn).
Thứ hai, các quy định trên đã biến một thị trường từ chỗ có nhiều hàng hóa cùng chủng loại để lựa chọn thành một thị trường chỉ có duy nhất một chủng loại và từ duy nhất một nhà cung cấp. Việc quy định NHNN độc quyền nhãn hiệu vàng SJC là một trường hợp điển hình như thế này. Vì chỉ còn một loại hàng hóa để giao dịch thay vì nhiều loại khác nhau như trước đây, đương nhiên loại hàng hóa độc quyền này không thể thỏa mãn được nhu cầu hiện tại trên thị trường và sẽ gây ra sốt giá.
Thứ ba, NHNN đã tiến thêm một bước nữa trong việc chất thêm củi vào cơn sốt vàng bằng việc cách ly thị trường vàng trong nước với thị trường vàng thế giới (ví dụ, không cấp hạn ngạch nhập khẩu vàng, không cho lập sàn giao dịch vàng qua thanh khoản). Thông thường, sự ngăn sông cấm chợ như vậy sẽ dẫn đến hậu quả tất yếu là hàng hóa trong khu vực cách ly đó sẽ trở nên khan hiếm hơn và vì thế giá cả sẽ tăng lên. Nếu biết được quy luật cơ bản của thị trường như vậy thì lẽ ra NHNN không nên mạnh bạo tuyên bố/kỳ vọng rằng sẽ ổn định được giá vàng trong nước ở khoảng cách 400.000 VND/lượng so với giá vàng thế giới.
Tất nhiên ta cũng nên hiểu rằng, NHNN có cái khó của mình là vừa muốn neo giá vàng (theo giá quốc tế) lại vừa không muốn để một lượng lớn ngoại tệ bốc hơi khỏi quỹ dự trữ ngoại hối của mình nên mới không cho nhập khẩu hoặc mở thanh khoản giao dịch vàng. Có lẽ họ hy vọng hoặc cho rằng lượng vàng hiện có trong nước đủ lớn để thỏa mãn tất cả nhu cầu trong các cơn sốt vàng, và vấn đề còn lại chỉ là làm thế nào để huy động được số vàng trong nước sẵn sàng cho mục đích can thiệp mỗi khi có biến động đột xuất về cầu.
Thế nhưng quan niệm kiểu này, nếu có, thì vẫn là sai lầm vì, cũng theo nguyên tắc thị trường, trong bối cảnh bình thường thì nhu cầu huy động sẵn vàng (ví dụ, thông qua hệ thống ngân hàng) rồi để đấy đợi sốt mới tung ra bán (gọi chính xác thì đây chính là nhu cầu đầu cơ) sẽ không thể ở mức lớn để có thể thỏa mãn được mọi nhu cầu tăng đột ngột do sốt vàng (nhất là khi nhu cầu đầu cơ này lại cho mục đích nhân đạo là ổn định thị trường theo yêu cầu hành chính của NHNN được). Và như thế thì khi xảy ra sốt vàng, nguồn lực vàng trong nước cho dù có lớn đến đâu cũng không thể dập tắt nhanh chóng được cơn sốt mà phải đợi thị trường tự điều chỉnh, hoặc có sự chủ động can thiệp của NHNN bằng cách tung vàng dự trữ (nếu có nhiều) hoặc cho nhập khẩu vàng. Nếu quỹ dự trữ ngoại hối (cả vàng và ngoại tệ) là không đủ lớn thì NHNN phải chấp nhận để cho cơn sốt vàng xảy ra và kéo dài cho đến khi thị trường tự điều chỉnh. Nói cách khác, tuyên bố về ổn định giá vàng theo giá thế giới của NHNN như vừa qua là hết sức phản thị trường.
Có thể hình dung ra một khả năng là NHNN sẽ phải thay đổi, rút lại các quy định quản lý vàng hiện tại của mình khi nhận thức rõ tính phi thị trường và vô hiệu của chúng. Nếu không, thị trường vàng thậm chí còn tiếp tục bất ổn và ở mức độ lớn hơn trước.

Friday, 7 September 2012

Tăng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng và nỗi lo lạm phát quay trở lại (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=256721

08:38 | 30/08/2012
Một số ngân hàng thương mại vừa được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho phép nâng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng quanh mức từ 15 - 17%/năm lên mức trên 25%, thậm chí tới 30%/năm.
Trước thực tế này, một số chuyên gia đã lên tiếng lo lắng về khả năng lạm phát sẽ quay trở lại như là kết quả của việc tăng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng. Tuy không giải thích rõ ràng mối liên hệ giữa việc nới chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng với khả năng lạm phát quay trở lại, những chuyên gia này có đề cập đến khả năng hấp thụ vốn thấp và lấy đó làm bối cảnh cho mối lo ngại về lạm phát của mình.
 
Theo họ, trong bối cảnh nền kinh tế vẫn đang khó hấp thụ vốn, thể hiện ở chỉ số tồn kho vẫn đứng ở mức cao và sức mua của thị trường sụt giảm làm cho doanh nghiệp không mặn mà với việc tiếp tục vay vốn để tiếp tục kinh doanh và đầu tư mới, nếu các ngân hàng thương mại gượng ép tăng trưởng tín dụng theo hạn mức tăng trưởng mới thì các doanh nghiệp có khả năng sẽ “làm liều”, “nhắm mắt” nhưng không phải cho mục đích kinh doanh, đầu tư mà cho mục đích xử lý rủi ro cho việc đầu tư chứng khoán, bất động sản trong quá khứ.
Đến đây, ta có thể phần nào hình dung cơ sở của mối lo ngại về lạm phát từ hạn mức tăng trưởng tín dụng của các chuyên gia này là nằm ở chuyện nếu vốn sử dụng không “khéo”, không đúng mục đích, không hiệu quả thì sẽ gây ra lạm phát, một vấn đề tương tự mà cả nền kinh tế đã và đang đối mặt nếu nhìn từ hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thấp của nền kinh tế nói chung trong các năm qua.
 
Có thể thấy nỗi lo ngại nói trên không có cơ sở vững chắc. Trước tiên, cần thấy rằng việc theo đuổi tăng trưởng tín dụng (trong chỉ tiêu) là quyền lợi chứ không phải là nghĩa vụ của các ngân hàng thương mại, ở cái nghĩa là ngân hàng không phải tăng trưởng tín dụng bằng mọi giá. Vì vậy, nếu chỉ dựa trên chuyện tăng chỉ tiêu như thế này mà lo ngại rằng ngân hàng sẽ phải “ép” để đạt được tăng trưởng tín dụng theo hạn mức bằng cách nhắm mắt làm ngơ cho các doanh nghiệp “làm liều” thì mối lo ngại này là không logic, đơn giản vì ngân hàng chẳng cần phải “ép” nếu họ thấy rủi ro, không có lợi khi nhắm mắt theo đuổi tăng trưởng tín dụng.
 
Tiếp theo, điều kiện cần để lạm phát quay trở lại là cung tiền của NHNN tăng lên đáng kể, tạo điều kiện dẫn đến tăng tổng cầu, từ đó tăng (áp lực) lạm phát. Một trong những điều kiện đủ cho lạm phát quay trở lại là cung tiền tăng lên từ NHNN được dẫn dụ thông qua kênh ngân hàng thương mại đi vào nền kinh tế dưới dạng tăng tín dụng (và thường phải tăng hơn mức tăng tổng cung). Nói cách khác, tăng tín dụng từ (một số) ngân hàng thương mại không nhất thiết làm tăng lạm phát.
 
Nhìn lại tình hình Việt Nam hiện tại. Thực tế là cung tiền của NHNN đã tăng mạnh với các mục đích và/hoặc như là kết quả của việc hỗ trợ thanh khoản ngân hàng, kích thích tăng trưởng kinh tế, và mua ngoại tệ. Lạm phát đã thực sự quay trở lại, trước cả khi các ngân hàng được phép tăng hạn mức tăng trưởng tín dụng, biểu hiện bằng chỉ số CPI tháng 8 ở các thành phố lớn đã chuyển sang dương và tăng đáng kể (tại thời điểm viết).
 
Như vậy, có thể khẳng định ngay rằng lạm phát “tái hồi” như hiện tại bắt nguồn một phần từ nới lỏng cung tiền của NHNN trong suốt nửa năm vừa qua hoặc trước đó nữa. Nếu trong thời gian tới, với lo ngại sự tái hồi của lạm phát ở mức độ nghiêm trọng hơn, NHNN có thể thắt chặt lại chính sách tiền tệ, giảm cung tiền. Khi đó, vì lượng tiền cung ra nền kinh tế trở thành hữu hạn nên tăng trưởng tín dụng của (nhóm) ngân hàng A nào đó sẽ được bù trừ bởi suy giảm tăng trưởng tín dụng của (nhóm) ngân hàng B nào đó, và tổng lượng tín dụng cung cấp cho nền kinh tế thông qua kênh ngân hàng thương mại là một con số không đổi, tức là không tạo thêm áp lực tăng lạm phát. Ngược lại, chỉ khi nào NHNN trong thời gian tới tiếp tục tăng cung tiền để tạo điều kiện tăng trưởng tín dụng trong cả hệ thống ngân hàng thì mới có thể có cơ sở để lo ngại lạm phát tăng từ việc tăng hạn mức tăng trưởng tín dụng.
Cần nhấn mạnh rằng, việc NHNN tiếp tục tăng cung tiền trong thời gian tới mới chỉ là cơ sở để lo ngại lạm phát tăng, chứ chưa phải là khả năng chắc chắn lạm phát sẽ tăng, khi xét thêm điều kiện đủ nói trên.
 
Tín dụng cho cả nền kinh tế tuy mới tăng trưởng ở mức thấp (dưới 2% so với cuối năm 2011), nhưng đã là tăng trưởng dương. Điều này chứng tỏ rằng điều kiện đủ nêu trên, tăng cung tiền từ NHNN được dẫn dụ thông qua kênh ngân hàng thương mại làm tổng tín dụng cho nền kinh tế tăng lên (và tăng hơn mức tăng tổng cầu), đã xảy ra (tuy không hoàn hảo vì mức tăng trưởng tín dụng vẫn thấp xa so với mức tăng cung tiền từ NHNN trong nửa đầu năm nay), và góp phần làm lạm phát quay trở lại mức dương trong tháng 8 này. Có điều, vì tổng tín dụng chỉ mới tăng ở mức thấp như vậy nên có thể thấy một điều rằng cầu tín dụng vẫn ở mức thấp, có thể bắt nguồn từ chuyện tồn kho tăng cao v.v… đúng như nhìn nhận của các chuyên gia nói trên.
 
Trong bối cảnh cầu tín dụng tiếp tục ở mức yếu như vậy, việc một số ngân hàng được tăng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng và nếu giả thiết rằng họ có thể hiện thực hóa được chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của mình thì điều này sẽ chỉ dẫn đến một kết cục là tăng trưởng tín dụng ở các ngân hàng khác phải giảm đi tương đối. Nói cách khác, tổng tín dụng từ hệ thống ngân hàng rốt cuộc có thể chỉ tăng ở mức độ khiêm tốn cho dù một số trong các ngân hàng đã được nới rộng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng và hiện thực hóa được chỉ tiêu đó. Nếu kết hợp thêm với khả năng NHNN sẽ siết lại cung tiền trong thời gian tới như phân tích ở trên thì ảnh hưởng của việc nới chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng lên lạm phát càng trở nên mờ nhạt.

Thursday, 23 August 2012

Tái cơ cấu các ngân hàng thương mại và vụ Văn Giang nhìn từ những thông tin lề trái, phải


Như tớ nói trong bài trả lời phỏng vấn Tiền Phong (và bị bóp méo, sửa đổi đến mức độ tớ bắt phải gỡ xuống), “bản thân tôi chưa bao giờ cắt nghĩa được tại sao phải tái cơ cấu hệ thống ngân hàng bằng cách sáp nhập các ngân hàng với nhau”, tớ vẫn nghi hoặc động cơ tiến hành sáp nhập các (9?) ngân hàng “yếu kém” với nhau của NHNN. Nay thì qua các thông tin tung tóe trên cả báo chí lề phải lẫn lề trái, động cơ thực sự của NHNN (chính xác là của Thống đốc Bình) đã lộ ra. Không biết rồi đây NHNN còn có đủ bản lĩnh để đi đến cùng chương trình hành động của mình không nhỉ? Chỉ tiếc rằng Tiền Phong là tờ báo “ăn hại”, không dám đăng nguyên văn bài của tớ.

Cũng liên quan đến thông tin lề phải, lề trái, hôm nay tớ đọc được một mẩu thông tin rất thú vị liên quan đến đồng chí “bầu Kiên” lại có liên quan đến ... tớ! Chẳng là theo báo chí phỏng vấn hàng xóm của đồng chí này thì khu đất đồng chí ấy đang ở (hồ Tây) trước đây là khu đất nông nghiệp trồng quất, sau được mang ra bán đấu giá và đền bù cho dân với giá 350.000 VND/m2 (không phải 3,5 triệu đâu nhé!) vào năm 2003. Tớ khoái chi tiết này quá vì nó minh họa cho ý kiến tớ “phang” đồng chí TS Vũ Quang Việt về bài của đồng chí ấy viết về vụ Văn Giang. So sánh giá đất đền bù ở hồ Tây và đất đền bù ở Văn Giang (không kể các quyền lợi khác đi kèm) thì rõ ràng giá đất đền bù ở Văn Giang đâu có phải là giá đi ăn cướp của dân đâu? Nếu dân hồ Tây, những người đồng ý nhận đền bù với cái giá này nghĩ gì vào thời ấy nhỉ? Sao họ không làm như Văn Giang?

Wednesday, 15 August 2012

Suy thoái kép - Cụm từ không thể sử dụng tùy tiện (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=255426
(Bài này được đăng nhanh hơn tớ tưởng)

08:47 | 16/08/2012
Gần đây, cụm từ “suy thoái kép” hay được nhắc đến bởi một số chuyên gia và quan chức như một lời cảnh báo cho một thảm họa kinh tế có khả năng xảy đến với nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới. Tuy nhiên, điều đáng nói là hầu như không có cơ sở nào cho cách gán ghép cụm từ này vào tình hình hiện tại và trong thời gian tới ở Việt Nam. Bản thân các chuyên gia và quan chức cũng có những cách hiểu và diễn giải khác nhau và khác xa với cách hiểu theo thông lệ quốc tế, làm cho “suy thoái kép” trở thành sản phẩm made in Vietnam.
 
Dù chưa có một ai giải thích tường tận nguồn gốc của sự xuất hiện cụm từ trên ở Việt Nam trong thời gian qua, nhưng qua bối cảnh của các phát biểu và nhận định, có thể suy đoán rằng nó được ra đời trong hoàn cảnh chỉ số giá tiêu dùng (CPI) giảm xuống mức âm liên tục trong 2 tháng vừa qua, còn GDP thì cũng tăng trưởng chậm lại trong 2 quý liền (quý I và II).

Nếu đúng như vậy thì cách dùng cụm từ trên rất tùy tiện, cũng giống như việc dùng lẫn lộn cụm từ “thiểu phát” và “giảm phát” vốn đang cực kỳ phổ biến hiện nay. Dường như với họ, nếu tăng trưởng GDP suy giảm thì cần được gọi đó là suy thoái, bất chấp thực tế rằng tuy tốc độ tăng trưởng GDP có giảm nhưng vẫn là dương, và còn ở mức không hề “tệ” nếu so với tình hình chung của cả nền kinh tế thế giới (ít nhất là trên mức trung bình của thế giới).

Tương tự, có lẽ chúng ta đã quá quen với thực tế rằng CPI ở Việt Nam thường chỉ có tăng lên chứ ít khi giảm đi, nhỏ hơn so với cùng kỳ năm trước. Nên nay với CPI giảm đi, người ta cũng vội vã coi đó là một dấu hiệu thứ hai của suy thoái, bên cạnh “suy thoái tăng trưởng”, đủ điều kiện để được gọi là “suy thoái kép”.

Nếu ta đi từ thông lệ quốc tế, có lẽ cụm từ suy thoái kép được dịch ra từ cụm từ “double-dip recession” và được định nghĩa như sau: “Suy thoái kép xảy ra nền kinh tế rơi vào suy thoái, theo sau là một giai đoạn phục hồi ngắn (1 hoặc 2 quý), rồi lại quay trở lại suy thoái”.

Và nếu tiếp tục theo thông lệ quốc tế thì một nền kinh tế được gọi là suy thoái khi tăng trưởng GDP tụt xuống mức âm trong ít nhất 2 quý liền nhau. Đem ghép 2 khái niệm này (“suy thoái” và “suy thoái kép”) ta có thể thấy một nền kinh tế được gọi là suy thoái kép khi nền kinh tế đó đã trải qua ít nhất là 2 quý tăng trưởng âm, theo sau là 1 hoặc 2 quý tăng trưởng dương, và lại theo sau bằng ít nhất là 2 quý tăng trưởng âm.

Như vậy, tổng cộng một chu trình suy thoái kép phải kéo dài ít nhất 5 quý, trong đó có 4 quý tăng trưởng âm. Đem điều này áp dụng ở Việt Nam, ta sẽ thấy xác suất xảy ra suy thoái kép là hầu như bằng 0 vì xác suất để xảy ra cho dù một quý tăng trưởng âm cũng đã là rất nhỏ ở Việt Nam trong năm nay và năm tới, chứ chưa nói đến hai quý liền nhau và cần tất cả 4 quý tăng trưởng âm.

Có vị học giả tuy cũng đã phủ định việc Việt Nam đã rơi vào tình trạng suy thoái kép nhưng lại lo ngại rằng suy thoái kép sẽ có thể xảy ra vào năm 2013. Lo ngại này cũng không có cơ sở nếu ta vận dụng tập hợp điều kiện của suy thoái kép nêu ở đoạn trên vào Việt Nam. Vì năm 2013 (hay năm nào cũng vậy) chỉ có 4 quý, trong khi điều kiện của suy thoái kép là phải có chu kỳ kéo dài tối thiểu 5 quý liền nhau nên trong năm 2013 chúng ta không thể nào chứng kiến nạn suy thoái kép.

Có thể có ai đó lập luận rằng biết đâu trong năm nay sẽ có một quý (chẳng hạn là quý IV) sẽ có tăng trưởng GDP âm; sang năm 2013, sẽ xảy ra tiếp 1 quý có tăng trưởng âm (quý I) theo sau bởi 1 quý tăng trưởng dương (quý II) rồi lại đến 2 quý tăng trưởng âm liên tục (quý III và IV), đủ đáp ứng điều kiện của suy thoái kép. Nhưng, như đã nói, vì xác suất để xảy ra tình trạng suy thoái kép như thế này là nhỏ hơn xác suất để cho tăng trưởng âm xảy ra trong một quý nào đó ở Việt Nam, vốn hầu như bằng 0, ít nhất trong 2 quý còn lại của năm nay và cho cả các quý năm sau, nên suy ra là chuyện suy thoái kép nếu có xảy ra ở Việt Nam thì chắc chắn không phải trong năm nay và một hai năm tới!

Có chuyên gia nêu ra ý kiến phản biện rằng khác với thế giới, nếu tăng trưởng GDP của Việt Nam cần được duy trì cao hơn một mức tăng trưởng “tự nhiên” nào đó, chẳng hạn 3% là mức tối thiểu cần có để đảm bảo việc làm và an sinh xã hội tối thiểu để không xảy ra rối loạn, chứ không phải là 0% như theo định nghĩa quốc tế nêu trên. Nếu thấp hơn mức tăng trưởng tự nhiên này thì lúc đó cần phải gọi nền kinh tế Việt Nam đã rơi vào suy thoái.

Tuy có lý nhưng ý kiến trên cũng không thể biện hộ được cho sự tùy tiện trong cách nhìn nhận của các chuyên gia và quan chức liên đới như nói ở trên. Nếu đi theo hướng gắn với tốc độ tăng trưởng tự nhiên thì những người này trước tiên phải nêu ra khái niệm suy thoái kép theo “tiêu chuẩn Việt Nam” được chấp nhận rộng rãi với cơ sở vững chắc dựa trên các nghiên cứu và đánh giá khoa học, để rồi từ đó họ mới có cơ sở để phán định rằng nền kinh tế Việt Nam đã rơi vào suy thoái kép hay không. Mà xem ra chuyện này chưa bao giờ được nhắc đến ở Việt Nam (một cách nghiêm túc)! Và cho dù nếu có xảy ra thì rốt cuộc chuyện suy thoái kép chỉ là câu chuyện mang màu sắc Việt Nam, chứ không hề có tính tương thích với quốc tế.

Đọc báo giùm bạn: Bình luận về chuyện “suy thoái kép” của đồng chí TS Lê Thẩm Dương


Entry này xuất phát từ yêu cầu của một bạn đọc blog này dành cho entry ““Suy thoái kép”?”. Thấy hơi dài nên tớ đưa luôn thành một entry độc lập để bạn đọc dễ theo dõi.
--------------------------------------
Tình cờ là hôm qua tớ có viết lại entry trên cho lịch sự, đầy đủ hơn và gửi sang báo Đại biểu Nhân dân. Họ đã nhận đăng (chắc trong tuần này). Trong đó tớ có bàn cụ thể hơn về khái niệm suy thoái kép, tất nhiên là khác xa so với cách hiểu của đồng chí Dương trong bài báo tớ trích dẫn (suy ra là đồng chí Dương sai không thể đỡ nổi J).

Cái đáng chú ý đầu tiên trong bài lần này (trên Tiền Phong) của đồng chí Dương là đồng chí ấy đã nêu ra rõ ràng (hơn so với bài phát biểu trên VTV bên trên) về cái khái niệm về suy thoái kép, lạm phát kèm suy thoái (Ngọc: suy giảm tăng trưởng?) thành suy thoái kép.

Tớ chịu, chẳng thể bình luận được gì ở đây, vì khái niệm này là made-in-Ho Chi Minh City-by TS Le Tham Duong. Đồng chí ấy bảo thế thì biết thế chứ cãi sao được. Nhưng tớ hơi lăn tăn một chút ở đây, nếu bắt trước tinh thần của nhiều đồng chí khác gọi hiện tượng lạm phát và đình đốn thành “đình lạm”, tại sao đồng chí Dương không gọi lạm phát và suy thoái thành “suy lạm” cho văn vẻ, đồng thời lại an toàn hơn, mà lại cứ nhất định gọi đó là “suy thoái kép” nhỉ?

Thứ hai, qua cách dùng từ của đồng chí ấy, tớ đoán chắc có vấn đề với chữ “kép” này. Câu trước, đồng chí nói: “Suy thoái kép như hình chữ W”, câu sau thì lại nói: “Nới hạn mức tín dụng gây tác dụng phụ là lạm phát và suy thoái nên người ta gọi là hiện tượng suy thoái kép”. Có nghĩa là đồng chí Dương có hẳn 2 định nghĩa vừa không đầy đủ, vừa chẳng ăn nhập gì cho cái gọi là suy thoái kép cả. Trong định nghĩa đầu, đồng chí muốn dùng hình tượng chữ W để minh họa sự thụt xuống 2 cái đáy, để gọi đó là “kép”. Nhưng cái gì tụt xuống 2 cái đáy đó mới được chứ? Trong cái định nghĩa thứ hai, lạm phát (tăng) là một đại lượng khác với suy thoái thì sao gọi hiện tượng vừa lạm phát vừa suy thoái là “kép” được? Nói tóm lại là tớ cho rằng những cách hiểu này là rất ngớ ngẩn, ấm ớ nhưng cũng chỉ bình luận được đến đây vì ...rối quá, lạc mất hút vào ma trận chữ nghĩa của đồng chí Dương.

Thứ ba, thêm một cái sai/thiếu sót cũng xuất phát từ câu: “Nới hạn mức tín dụng gây tác dụng phụ là lạm phát và suy thoái nên người ta gọi là hiện tượng suy thoái kép”. Nới hạn mức tín dụng cũng có nghĩa là tìm cách/cho phép tăng trưởng tín dụng mạnh hơn. Kết quả thường là sẽ dẫn đến tăng tổng cầu và tăng trưởng trong ngắn hạn, chứ đâu có phải là dẫn đến suy thoái (giảm tăng trưởng)? Nếu đúng như đồng chí Dương phát biểu (tăng tín dụng gây ra suy thoái) thì NHNN tội gì phải nới lỏng chính sách tiền tệ, còn các doanh nghiệp tội gì đòi phải được tiếp cận với vốn ngân hàng? Và đồng chí Dương cũng tự phủ định mình khi nói: “Tín dụng phải tăng 6-8% mới hy vọng khôi phục được DN, mới đạt được mục tiêu GDP đề ra”. Nói thế này cũng có nghĩa là đồng chí Dương công nhận phải tăng tín dụng mới tăng được GDP mà!

Thứ tư, cũng liên quan đến câu nói trên: “Tín dụng phải tăng 6-8% mới hy vọng khôi phục được DN, mới đạt được mục tiêu GDP đề ra”. Cơ sở nào để đồng chí nói tín dụng phải tăng 6-8% mới đạt được mục tiêu GDP đề ra (6-6,5%)? Tớ cược 1000 ăn 1 rằng đây là câu nói mò của đồng chí. Đồng chí nói sao khi nhớ lại từ cuối năm ngoái NHNN đã đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm nay phải từ 15-17% mới đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP. Sau này dần dần mục tiêu tăng trưởng tín dụng cứ được sửa dần xuống thấp, còn 10-12%, thậm chí là 5-6%, theo đà tăng thực tế của tăng trưởng tín dụng (thậm chí tín dụng tăng trưởng âm mà tăng trưởng GDP vẫn đạt trên 4% 2 quý vừa qua). Nêu ra chuyện này để đồng chí thấy rằng chẳng có một mối liên hệ nhất quán nào giữa tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng GDP cả, nên cần tránh nói võ đoán cho nó lành.

Thứ năm, và liên quan đến mục thứ tư trên, khi trả lời cho câu hỏi: “Liệu trong thời gian tới NHNN có tiếp tục nới hạn mức tín dụng lên nữa, thưa ông?”, đồng chí Dương trả lời: “Tôi nghĩ NHNN đã tính toán hết, tại sao không phải là 28 hoặc 26%, nên tôi nghĩ nâng lên nữa là không có”. Vì chẳng có cái mối liên hệ nhất quan nào giữa tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng GDP để mà NHNN có thể tính ra cần phải tăng hạn mức tín dụng bao % để GDP tăng 6% cả (các đồng chí bạn đọc khác đừng có nghĩ tớ nói linh tinh đấy nhé! Không tin thì các đồng chí cứ thử tính cho tớ đi, dùng kinh tế lượng hay bất cứ cái gì khác mà cho ra được con số), nên NHNN đưa ra con số xyz nào đó (27%?) về bản chất cũng là nói mò, chẳng khác gì việc đồng chí Dương đưa ra con số tăng trưởng tín dụng phải đạt 6-8% cả!

Tóm lại là qua bài báo ngắn này (và bài trước) tớ nghĩ đồng chí Dương cần phải hạn chế phát biểu, trả lời phỏng vấn càng nhiều càng tốt, vì quyền lợi của bản thân đồng chí ấy. Tuy nhiên, rút kinh nghiệm bản thân của tớ với Tiền Phong (đọc entry “Bài nàykhông phải của tớ”), tớ vẫn dành cho đồng chí Dương một chút ưu ái khi lái bạn đọc sang khả năng đồng chí ấy bị Tiền Phong “nhét chữ vào mồm”, hoặc phóng viên ghi chép linh tinh, nên mới có bài trả lời phỏng vấn ngớ ngẩn thế này.

Tuesday, 7 August 2012

“Suy thoái kép”?

Đọc báo ngày nay ở Việt Nam tớ rất hay gặp nhiều cách dùng từ rất tùy tiện, quái dị, đáng chú ý hơn là được dùng bởi không chỉ dân thường mà ngay cả giới học giả, quan chức các cấp. Nhiều quá đến mức mà tớ đã hầu như không còn dị ứng nữa.

Nhân hôm nay đọc cái tin có tiêu đề: “BTV Lê Bình “quê độ” trước Bộ trưởng Đam” tớ mới thấy cần phải nói cái gì đó về chuyện này. Đầu tiên là không hiểu cụm từ “sang trọng” này là do ai đưa ra đầu tiên. Có lẽ bối cảnh đưa ra là dựa vào việc CPI giảm xuống mức âm liên tục trong 2 tháng còn GDP tăng trưởng chậm lại cũng trong 2 quý. Khỏi nói, việc sử dụng cụm từ này cũng tùy tiện như việc dùng cụm từ “thiểu phát” và “giảm phát” vốn đang cực kỳ phổ biến hiện nay, và chứng tỏ người nói, mặc dù là chuyên gia và quan chức hữu trách, chẳng hiểu một tí gì sất về kinh tế học cả.

Đã thế lại được đồng chí TS giảng viên Lê Thẩm Dương bồi cho thêm một cú cũng ấm ớ chẳng kém rằng: “hiểu tăng trưởng âm hai tháng liền là suy thoái kép là không đúng.... Khi suy thoái, người ta cứu thì nó lên nhưng sau đó lại xuống, thì gọi là suy thoái kép. Nếu nói một cách hình ảnh thì nó giống hình chữ W. Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện chưa suy thoái kép, một số người chỉ lo ngại với tình hình tăng trưởng kinh tế như hiện nay, năm 2013 có thể xảy ra tình trạng suy thoái kép”. (Lưu ý những chỗ bôi đậm của tớ)

Viết/hiểu như đồng chí Dương cũng không đúng nốt!

Tuy rất lủng củng, khó hiểu nhưng chịu khó động não một chút (xác định chủ ngữ, vị ngữ) thì có thể hiểu đồng chí Dương đề cập đến cả 2 vấn đề, CPI theo tháng âm và tăng trưởng GDP suy giảm, trong lời nhận định của mình. Cái sai của đồng chí Dương là:

  1. Coi suy thoái kép liên quan đến tăng trưởng theo tháng. Ý của đồng chí Dương nói ở đây chỉ có thể là nói đến tăng trưởng GDP chứ không thể là tăng trưởng của CPI hay lạm phát được, vì không ai nói như vậy cả. Do không có cái gọi là tăng trưởng GDP theo tháng (mà chỉ có tăng trưởng theo quý hoặc năm) nên cách đặt vấn đề như thế này của đồng chí Dương cũng là không đúng nốt.
  2. Để thỏa mãn điều kiện được gọi là suy thoái kép thì theo cách hiểu thông thường phải có một giai đoạn suy thoái, kế tiếp là giai đoạn phục hồi ngắn, rồi lại được kế tiếp bằng một giai đoạn suy thoái khác theo hình chữ W như đồng chí Dương vạch ra. Có điều, để một nền kinh tế được gọi là suy thoái trong một giai đoạn nào đó thì, cũng theo cách hiểu thông thường, tăng trưởng GDP phải là âm liên tục ít nhất trong 2 quý liền. Như vậy, ta sẽ phải có tối thiểu là một chu kỳ 5 quý liền để có thể chứng kiến một giai đoạn suy thoái kép hoàn chỉnh, gồm có 2 quý tăng trưởng GDP âm, 1 quý tăng trưởng GDP dương, rồi lại 2 quý tăng trưởng GDP âm. Nhưng vì năm 2013 (hay năm nào cũng vậy) chỉ có 4 quý nên nhận định của đồng chí Dương rằng “…năm 2013 có thể xảy ra tình trạng suy thoái kép” là sai nốt!
  3. Cũng có thể có đồng chí cắc cớ vặn lại rằng biết đâu trong năm nay sẽ có một quý (chẳng hạn là quý 4) sẽ có tăng trưởng GDP âm; sang năm 2013, sẽ xảy ra tiếp 1 quý có tăng trưởng âm (quý 1) theo sau bởi 1 quý tăng trưởng dương (quý 2) rồi lại đến 2 quý tăng trưởng âm liên tục (quý 3 và 4), đủ đáp ứng lo ngại của đồng chí Dương.
Nhưng vì xác suất để xảy ra tình trạng suy thoái kép như thế này là nhỏ hơn xác suất để cho tăng trưởng âm xảy ra trong một quý nào đó ở Việt Nam, vốn hầu như bằng 0, ít nhất trong giai đoạn năm nay và năm sau, nên suy ra là chuyện suy thoái kép ở Việt Nam hầu như chỉ là chuyện vớ vẩn!

Saturday, 4 August 2012

Xử lý nợ xấu – các ảnh hưởng lên kinh tế vĩ mô


Bạn đọc lại tiếp tục hỏi tôi về chuyện xử lý nợ xấu ảnh hưởng thế nào đến tỷ giá, lạm phát và nhập siêu. Xin trả lời như sau.

Thực ra các vấn đề này đều có liên quan và tác động tương hỗ đến nhau, tùy thuộc vào sự can thiệp của NHNN và Chính phủ. Nguồn gốc có lẽ xuất phát từ chuyện tăng cung tiền quá mức (ví dụ, như là kết quả của việc NHNN bơm tiền ra để xử lý nợ xấu) dẫn đến tăng tổng cầu, từ đó dẫn đến áp lực tăng lạm phát. Nếu NHNN phủ tìm mọi cách ổn định tỷ giá bằng cách tung dự trữ ngoại hối ra thì VND sẽ lên giá thực so với ngoại tệ, chẳng hạn USD, dẫn đến tăng nhập khẩu và dẫn đến nhập siêu. Trong bối cảnh này sẽ có chuỗi quan hệ: bơm tiền – lạm phát tăng  – tỷ giá ổn định – nhập khẩu khẩu tăng (tăng nhập siêu).

Nếu NHNN không can thiệp (mạnh) trên thị trường ngoại hối thì VND sẽ bị mất giá tương ứng với mức độ bơm tiền của NHNN, nhưng xuất khẩu lại được khuyến khích nhờ VND yếu đi. Như vậy, trong bối cảnh này thì sẽ có chuỗi quan hệ: bơm tiền – lạm phát tăng – tỷ giá tăng – xuất khẩu tăng (giảm nhập siêu).

Wednesday, 1 August 2012

Điều không gây mấy chú ý

Sáng nay ngồi điểm báo tớ thấy cái tin đồng chí Bộ trưởng Đam công bố cái gì gì đó về thành tích của Chính phủ. Điều tớ chú ý nhất và cũng là quan tâm nhất là tin (từ đầu năm) đến nay đã có 40.000 doanh nghiệp thành lập mới (tuy giảm đi so với cùng kỳ năm ngoái). Điều tớ không chú ý và ít quan tâm nhất là tin (từ đầu năm nay) có 30.000 doanh nghiệp phá sản, ngừng hoạt động. Tớ cá rằng sự quan tâm và chú ý của tớ ngược lại 181 độ so với rất rất nhiều người.

Tớ nêu ra 2 con số trên để muốn bạn đọc hiểu rằng tớ, vốn có quan điểm bị coi là rất ngược đời, khó chấp nhận khi cổ vũ cho các chính sách thắt chặt trước đây, đã có “máu lạnh” một cách không phải vô cớ, khi bất chấp những khó khăn mà cứ nghe báo chí nói thì sắp chết hết đến nơi, nền kinh tế vẫn tăng trưởng, các doanh nghiệp vẫn tiếp tục phình ra (tương đối và tuyệt đối) chứ không phải là thi nhau đóng cửa, phá sản hết như mọi người ca thán. Lạ một điều là kể cả Chính phủ, chưa nói gì đến giới doanh nghiệp và người dân, xem ra chẳng ai muốn nhắc đến con số doanh nghiệp mới tạo ra, mặc dù luôn có thống kê cập nhật thường xuyên.

Còn nhớ hồi đầu năm 2009 khi tớ viết bài “Cơ hội nào cho Việt Nam trong khủng hoảng” trên VNN, tớ cũng có nêu chuyện người ta không biết vô tình hay hữu ý mà ai ai cũng chỉ nhăm nhăm nhắc đến mỗi chuyện thất nghiệp trên báo chí mà không thèm bận tâm xem những thống kê đã có bao nhiêu việc làm được tạo ra, mà nếu làm phép cộng trừ đơn giản thì thế nào cũng ra kết quả là số việc làm ròng tạo ra là dương.

Xử lý nợ xấu ở Nhật

Mấy hôm vừa rồi có mấy đồng chí bạn đọc yêu mến cái blog này nhắn nhủ với tớ về chuyện tiếp tục viết lách, làm tớ cảm động quá, muốn lười cũng không lười được thêm nữa. Định trả lời ngay bằng một cái gì đó nhưng rồi lại ngồi thần ra vì không biết viết về cái gì cả, nên đành thôi.  

Hôm nay thì có đồng chí bạn đọc trực tiếp yêu cầu tớ viết về vấn đề xử lý nợ xấu của Nhật (chắc là để rút ra bài học cho Việt Nam) và kèm thêm câu hỏi nếu Việt Nam vay tiền nước ngoài để xử lý nợ xấu liệu có gây ra lạm phát không. May quá, thế là có đề tài! Cảm ơn đồng chí bạn đọc này nhé!

Về cái vấn đề xử lý nợ xấu Nhật, vì đây không phải là mối quan tâm của tớ từ hồi ở Nhật cho đến bây giờ nên tớ phải thú nhận rằng tớ cũng không tường tận lắm, chỉ có thể nói sơ qua ở đây những gì tớ đọc mót, nghe mót đây đó (nhân dịp này xin mạn phép đồng chí bạn đọc này cho tớ mượn cái đề tài của đồng chí để viết một bài nghiêm chỉnh gửi cho báo nào đó. Còn chuyện được đăng hay không nhiều khi cũng phập phù lắm, nhất là với người ấm ớ như tớ trong con mắt báo chí Việt Nam).

Nhận thức đầu tiên của tớ về chuyện nợ xấu ở Nhật là Chính phủ Nhật nhận ra và bắt tay vào xử lý vấn đề nợ xấu khá chậm chạp và không đủ liều lượng, khi nợ xấu đã trở thành rất nghiêm trọng. Cũng giống như ở Việt Nam hiện thời, chuyện xử lý nợ xấu thế nào, bằng phương pháp nào vẫn còn là điều lúng túng trong Chính phủ (vào những năm cuối thập kỷ 80, đầu 90). Hệ thống thuế của Nhật đương thời cũng không cho phép khấu trừ thuế cho những khoản write-off, còn các ngân hàng Nhật thì cũng không đủ vốn để xử lý nợ xấu.

Sau khi có nhiều vận động hành lang, cuối cùng luật thuế cũng được sửa đổi theo hướng này (1995). Còn NHTƯ Nhật thì tăng bơm tiền, hạ lãi suất để tăng margin cho các ngân hàng thương mại, nhằm tạo điều kiện để chúng có thêm lợi nhuận đưa vào xử lý nợ xấu.

Nhưng tình hình sau đó cũng chẳng cải thiện là mấy, chất lượng tài sản của các ngân hàng tiếp tục xấu đi. Đồng yen mất giá càng làm trầm trọng vấn đề khi tài sản nước ngoài tăng giá, buộc các ngân hàng phải tăng vốn để đảm bảo tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn phụ thuộc hoàn toàn vào vốn vay ngân hàng, trở thành nạn nhân vì các ngân hàng không cho vay nữa mà tập trung xử lý nợ xấu và bảo toàn vốn. Doanh nghiệp phá sản hàng loạt, rồi ngân hàng cũng phá sản (Hokkaido Takushoku Bank, 1997). Sau đó, Chính phủ Nhật ban hành đạo luật cho phép sử dụng công quỹ để mua cổ phiếu ưu đãi của các ngân hàng, tạo vốn cho chúng xử lý nợ xấu. Công ty mua bán nợ xấu tương tự như DATC Việt Nam cũng được mở rộng quy mô để mua bán nợ xấu.

Tóm lại, cách thức và công cụ xử lý nợ xấu rốt cuộc cũng chỉ có từng ấy thứ, với một số trở ngại và rào cản có thể khác nhau ở từng nước, ví dụ các luật lệ hiện hành về thuế, chi tiêu công. Có một điểm tương đồng là, khi quy mô nợ xấu đã ở mức nguy hiểm (ước tính đến nghìn tỷ USD ở Nhật), việc xử lý nợ xấu sẽ phải diễn ra trong cả một thời gian dài, thậm chí rất dài. Hôm nay đồng chí Chủ tịch ngân hàng tớ mới thông báo rằng ngân hàng đã giải quyết xong nợ xấu có khi có từ cái thuở tớ còn đang đi học (cấp 3 hoặc đại học)!

Về câu hỏi của đồng chí bạn đọc trên rằng khi vay nợ nước ngoài để xử lý nợ xấu có làm tăng lạm phát không, đây là câu hỏi khó trả lời và khó có câu trả lời rõ ràng. Thứ nhất, có tăng lạm phát hay không phụ thuộc vào việc NHNN xử lý khoản ngoại tệ đi vay về này thế nào. Nếu NHNN tung tiền đồng ra đối ứng để thu khoản ngoại tệ này, cung tiền đương nhiên sẽ tăng. Nếu NHNN sau đó tung tín phiếu, trái phiếu ra để hút VND, cung tiền sẽ được điều chỉnh ở mức độ tương ứng. Nhưng hành động trung hòa cung tiền này nếu có diễn ra thì chắc quy mô không lớn vì NHNN phải ưu tiên tăng cung tiền, bơm vốn cho các NHTM xử lý nợ xấu, tăng thanh khoản. Kết cục là áp lực lạm phát có thể tăng lên.

Nhưng đây mới chỉ là một vế. Ở vế kia, nếu niềm tin trong dân chúng và doanh nghiệp thấp, cộng với triển vọng phục hồi kinh tế mù mịt, rủi ro đổ vỡ phá sản vẫn lớn thì cung tiền có tăng thêm nhưng rốt cuộc lại nằm chết trong hệ thống ngân hàng hoặc trở ngược lại NHNN thông qua kênh gửi vượt dự trữ bắt buộc hoặc đổi lấy tín phiếu NHNN và trái phiếu Chính phủ (tớ có viết về “bẫy thanh khoản” này), tác động xấu lên tổng cầu, và rốt cuộc cung tiền có tăng nhưng cũng không làm tăng áp lực lạm phát.

Tớ cho rằng nếu đi vay nước ngoài để xử lý nợ xấu thì tốt nhất là NHNN in tiền ra mà làm cái việc này, còn hiệu quả hơn và quan trọng nhất là không gây tổn thất cho ngân sách nhà nước.

T/b: Tớ đề nghị đồng chí bạn đọc nào có đề tài, vấn đề gì quan tâm thì cứ mang ra đây để tớ bình luận nhé, không thì tớ bó tay vì chẳng biết viết cái gì nữa rồi.

Thursday, 26 July 2012

Lại phải nhắc lại rằng UBKTQH nên giải tán đi

Trong cái entry trước tớ đã khuyến nghị Ủy ban Kinh tế Quốc hội (UBKTQH) nên tự giải tán vì đã có những kiến nghị... phạm húy liên quan đến doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Nay với cái việc đồng chí Thủ tướng kính yêu của chúng ta đã quyết định phê duyệt đề án “Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 - 2015”, trong đó DNNN vẫn được xác định là “làm nòng cốt để kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô”, là một cú tát trực diện vào cái kiến nghị phạm húy của UBKTQH thì cái sự "vô dụng" của UBKTQH càng trở nên rõ nét hơn bao giờ hết.

Điều khó hiểu là tại sao với một vấn đề đơn giản đến vậy (DNNN phải giữ vai trò chủ đạo), bản thân những người ấm ớ như tớ còn tiên đoán được là sẽ phải như vậy ở Việt Nam, mà UBKTQH còn cứ "cố đấm ăn xôi", khuyến nghị "lôi thôi" như vậy nhỉ?

Wednesday, 25 July 2012

Từ câu hỏi của Thống đốc


Tại hội nghị kết 6 tháng đầu năm ngành ngân hàng địa bàn Hà Nội, một lãnh đạo doanh nghiệp cho biết: Tháng 12/2011, thị trường xuất hiện tin đồn tỷ giá USD/VND sẽ tăng mạnh, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu găm USD lại, thậm chí còn vay VND thay vì chuyển đổi cho sản xuất kinh doanh. Nhưng rồi, tỷ giá không tăng, thậm chí cuối năm 2011 đầu 2012 còn chứng kiến đà sụt giảm mạnh, có những ngày giá ngân hàng mua vào thấp hơn giá bán ra tới 300 VND… Những doanh nghiệp găm USD trước đó thiệt hại lớn.

Trước thông tin trên, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình hỏi lại rằng: “Tại sao không nghe Thống đốc? Tôi lấy sinh mạng chính trị của mình để nói, thế sao không tin? Hãy tin và nghe Thống đốc, làm theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước. Bao giờ cũng nói trước khi làm, làm đúng như nói…”.

Ông Bình có thể có lý do để “tức khí” mà “độp” lại những doanh nghiệp kiểu trên vì “dám” không tin vào lời nói của ông, vì ông có thể đúng là kiểu người nói là muốn làm, và sẽ làm thật.

Nhưng cũng phải đứng từ góc độ doanh nghiệp và người dân để hiểu tại sao lại có sự bất tin, bất tin như vậy vào các chính sách của Ngân hàng Nước ngoài (NHNN) nói riêng và Chính phủ nói chung.

Trong thực tế, không ít sự kiện “nói một đằng, làm một nẻo” đã xảy ra ở NHNN, không nhất thiết là chỉ xảy ra ở thời ông Bình. Còn nhớ, đã có thời điểm người đứng đầu NHNN tuyên bố không điều chỉnh tỷ giá thì một vài ngày sau, tỷ giá đã được điều chỉnh tăng mạnh (phá giá tiền đồng) lên đến cả nghìn đồng một đôla, châm ngòi cho cơn xáo trộn trong xã hội.

Ngoài chuyện “nói một đằng, làm một nẻo” kiểu này thì còn có chuyện “nói là một chuyện, có làm được hay không là chuyện khác”. Nhiều khi bản thân Thống đốc thực sự muốn làm một cái gì đó đúng như ông tuyên bố nhưng thực tế đơn giản là không chiều lòng ông. Ví dụ chuyện bình ổn giá vàng. Giá vàng trong nước lên xuống như ngựa phi và thường chênh lệch lớn so với giá vàng thế giới, gây ra những cơn sốt giá trong nước, làm béo dân đầu cơ. Đứng trước tình hình này, dễ hiểu tại sao Thống đốc đi đến tuyên bố sẽ “neo” giá vàng trong nước chênh lệch so với thế giới ở khoảng cách không quá 400.000 đồng. Nhưng rồi thực tế chứng minh rằng sau hàng loạt những giải pháp với chính sách, thị trường vàng vẫn hỗn loạn và tuyên bố của Thống đốc rằng giá vàng trong nước không chênh lệch quá 400.000 đồng so với giá vàng thế giới hóa ra chỉ là “nói để mà nói” thế thôi.

Thêm một kiểu nói nữa của NHNN cũng gây ra sự bất tín, bất tin trong dư luận mà ta có thể kể ra đây. Đó là kiểu nói mà không nhất thiết dẫn đến kết quả như nói. Ví dụ điển hình cho kiểu nói này là những tuyên bố chắc nịch của NHNN về tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém từ cuối năm ngoái. Đại loại, người ta được biết rằng NHNN sẽ sáp nhập gần chục các ngân hàng yếu kém ngay trong quý I và quý II năm nay. Nhưng rồi đã hết quý II mà mới chỉ có dăm ba ngân hàng được sáp nhập, và chương trình tái cơ cấu ngân hàng xem ra vẫn còn là một ẩn số lớn. Có thể có khó khăn, trở ngại lớn nào đó đằng sau hậu trường của việc sáp nhập, nhưng điều này chứng tỏ rằng giữa ý chí và năng lực hành động, cũng như kết quả thực tiễn luôn có một khoảng cách lớn, làm cho lòng tin trở thành một thứ mong manh trong bối cảnh này.

Sau cùng là chuyện minh bạch. Lẽ đương nhiên là có minh bạch thì mới gây được lòng tin, sự tín nhiệm, mới làm cho người ta tin tưởng. Nhưng xem ra điều này không được như ý ở NHNN. Ví dụ nổi bật là chuyện nợ xấu. Bản thân Thống đốc NHNN và các quan chức công bố các con số tỷ lệ nợ xấu khác xa nhau, mà nên lưu ý rằng chỉ mỗi phần trăm khác nhau về tỷ lệ nợ xấu cũng dẫn đến hàng chục nghìn tỷ đồng khác nhau về mức nợ xấu tuyệt đối, tương ứng là sự khác nhau về tính cấp bách và giải pháp xử lý nợ xấu.

Cứ cho là bản chất của sự việc là quá phức tạp, không thể nói chính xác, trước sau như một. Nhưng cho dù có như vậy thì điều này lại chứng tỏ rằng đôi khi NHNN tuyên bố một vấn đề gì đó mà thực ra là họ không hiểu hết, nắm hết, nắm chính xác được vấn đề. Suy tiếp ra rằng tuyên bố của họ có đúng sự thật hay không, có khả năng thành sự thật hay không lại là chuyện khác, có trời mới biết được.

Tóm lại, qua một số lý do như trên ta có thể lý giải tại sao lòng tin của công chúng, của doanh nghiệp vào các chính sách của NHNN nói riêng và Chính phủ nói chung lại giảm sút đến mức mà Thống đốc phải bật ra câu hỏi nghe khá là lạ lùng như vậy. Câu hỏi này thực ra Thống đốc có thể tự trả lời mình. Các lý do trên cũng là hướng NHNN cần giải quyết để chuyện bất tín, bất tin này giảm bớt (chứ khó mà hy vọng không tồn tại).

Friday, 13 July 2012

Đừng tạo thêm những tín hiệu xấu! (Bai dang tren Dai bieu Nhan dan)

 
09:18 | 14/07/2012
Tại Hội nghị tổng kết ngành ngân hàng 6 tháng đầu năm vừa qua, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình kêu gọi và chỉ đạo các ngân hàng nhanh chóng giảm lãi suất các món nợ cũ xuống. Theo đó, lãi suất đối với các khoản vay cũ (trước khi thực hiện cơ chế áp trần lãi suất cho vay) cần được giảm xuống chí ít là còn 15%/năm (bắt đầu từ 15.7), phấn đấu có được các mức thấp như mặt bằng các khoản vay mới hiện nay.
Lý giải cho hành động này, ông Bình giải thích: “Nếu doanh nghiệp đã khó khăn, không có khả năng trả nợ gốc thì việc ghi lãi suất cao không có ý nghĩa gì, nhưng gây phản cảm với xã hội. Còn với doanh nghiệp có thể vượt qua khó khăn mà vẫn duy trì lãi suất cao thì không phải là chia sẻ với doanh nghiệp”. Ông Bình chỉ đạo rằng ngành ngân hàng cần phải thẳng thắn nhìn lại đã hết lòng vì doanh nghiệp chưa, sát cánh cùng ngồi với doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn chưa? Ông cũng nhấn mạnh đây là trọng tâm trong thời gian sắp tới, để thị trường và dư luận thấy rằng ngành Ngân hàng đã có giải pháp kiên quyết hết sức thiết thực hỗ trợ khó khăn cho doanh nghiệp và nền kinh tế.
Sau một loạt những tuyên bố, nhận định và giải pháp (đa phần là hành chính), từ nhẹ đến nặng, từ phạm vi hẹp đến phạm vi rộng, xem ra tình hình cho vay và đi vay trong nền kinh tế vẫn chưa có mấy chuyển biến tích cực, đến nỗi NHNN phải áp dụng biện pháp áp trần cho cả lãi suất ở các khoản cho vay cũ, có hợp đồng tín dụng đàng hoàng, mang nặng tính pháp lý ràng buộc cho các bên liên quan mà nếu trong hoàn cảnh bình thường thì bất cứ vi phạm nào cũng có thể dẫn đến việc lôi nhau ra tòa được. Không hiểu rồi đây với kiểu quản lý theo mệnh lệnh, bất chấp các quy tắc và chế tài pháp lý như thế này, xã hội sẽ như thế nào.
Bởi vậy, nhìn nhận một cách khách quan, chưa cần phân tích lợi hại, thì hành động trên của NHNN là một giọt nước thêm vào bát nước đầy nỗi nghi ngờ rằng NHNN đã “hết thuốc” và tình hình trong ngành ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung cũng đã “hết thuốc”. Với những lý lẽ như trên của ông Bình, dường như người ta sẽ nghĩ rằng NHNN chỉ cốt lấy được tiếng tốt trong dư luận rằng đã có những chỉ đạo sát sao nhằm tích cực tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và nền kinh tế mà không mấy cân nhắc liệu có thực hiện được hay không, lợi hay hại đến mức nào cho lợi ích chung của cả nền kinh tế.
Mục đích theo thiết kế của hành động yêu cầu hạ lãi suất nói trên là để giảm khó khăn cho các doanh nghiệp và người đi vay trên diện rộng (tất cả mọi đối tượng), theo phương châm “doanh nghiệp có sống được thì ngân hàng mới sống được”. Về bản chất, hành động này cũng tương tự hành động yêu cầu xóa nợ (một phần) cho doanh nghiệp và người đi vay, bất kể lý do, bất kể đối tượng, bất kể hoàn cảnh v.v... Vậy, đối tượng đầu tiên bị ảnh hưởng đương nhiên là các ngân hàng thương mại khi phải cắt giảm lợi nhuận, thậm chí chịu lỗ cho các khoản vay cũ khi lãi suất huy động của họ cao hơn mức trần 15%.
Chắc người ta quên rằng ngân hàng thương mại cũng là một doanh nghiệp, phải huy động (và có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ gốc và lãi) thì mới cho vay được, chứ không phải là một tổ chức từ thiện hoặc có nguồn vốn từ trên trời rót xuống. Và câu hỏi ngược tiếp theo là, tại sao lại (chỉ) yêu cầu ngân hàng “chia sẻ” khó khăn chung mà không phải là một ai, một tổ chức nào khác, bao gồm cả doanh nghiệp và người đi vay? Phải chăng tâm lý vốn coi ngân hàng là kẻ “có tiền” và tâm lý “nắm thằng có tóc” được áp dụng triệt để ở đây?
Có người lý luận rằng vốn các khoản cho vay trước đây dù ngân hàng thương mại có phải huy động với lãi suất cao nhưng đa phần là vốn ngắn hạn, trong khi hiện nay đi huy động trung và dài hạn ngân hàng chỉ phải trả lãi suất 9-10% nên ngân hàng vẫn có lãi lớn cho các khoản cho vay cũ. Lý luận kiểu này sai lầm ở chỗ vì là vốn ngắn hạn nên ngân hàng phải liên tục huy động gối đầu các khoản vốn ngắn hạn mới với lãi suất tại thời điểm huy động trước đây (ví dụ 6 tháng, 1 năm trước) vẫn cao hơn nhiều lãi suất huy động hiện thời. Nói cách khác, ở thời điểm trước đây ngân hàng vẫn phải huy động vốn với lãi suất cao, bất kể là dài hạn hay ngắn hạn, và cho vay dài hạn (kéo dài cho đến thời điểm này) nên nếu bị yêu cầu đồng loạt hạ lãi suất các khoản vay cũ thì đương nhiên ngân hàng thậm chí sẽ phải đối mặt với rủi ro mất vốn, chứ không chỉ là giảm lợi nhuận (vốn cũng chỉ ở mức khá khiêm tốn, như thống kê mới công bố gần đây của NHNN, chứ hoàn toàn không “khủng” như những gì dư luận vẫn nhìn nhận). Mà hậu quả này thì cũng tương đương với hậu quả của việc nợ xấu tăng lên do một số doanh nghiệp nào đó không trả được nợ. Nếu có thể cân đong đo đếm được thì thậm chí có khả năng tổng giá trị nợ bị xóa đi theo kiểu này ở một số ngân hàng, nếu làm ráo riết, nghiêm chỉnh theo chỉ đạo, còn lớn hơn cả tổng số nợ xấu của họ.
Đối với doanh nghiệp và người đi vay, thoạt nhìn, đương nhiên họ là người được hưởng lợi vì được xóa một phần nợ như nói trên, theo nguyên tắc cào bằng, bất kể họ là ai, làm ăn thế nào, vay để làm gì v.v... Và thay vì phải dùng đến ngân sách nhà nước để xóa nợ (vốn chẳng lấy đâu ra) hoặc phát hành tiền (vốn sẽ gây lạm phát), NHNN đã đá quả bóng trách nhiệm này cho khối ngân hàng thương mại, để họ tự xoay sở với việc “cứu tế” này, còn NHNN vẫn được tiếng thơm là đã thấu hiểu và chia sẻ khó khăn chung của nền kinh tế.
Nhưng xét cho cùng, doanh nghiệp và người đi vay nói trên cũng sẽ là người gánh chịu hậu quả gián tiếp vì, như đã phân tích, các ngân hàng bị cụt vốn, suy giảm lợi nhuận (tương tự như khi phải gánh một gánh nặng nợ xấu) sẽ buộc phải co cụm lại và/hoặc tìm cách tăng lãi suất cho vay các khoản mới, và/hoặc nâng/duy trì điều kiện cho vay ngặt nghèo, càng làm hạn chế khả năng tiếp cận vốn tín dụng mới và với lãi suất thỏa đáng của giới doanh nghiệp và người đi vay, kể cả những đối tượng được giảm lãi suất cho các khoản vay cũ. Trần lãi suất cho vay trong trường hợp này cũng chẳng có tác dụng gì và có thể lách qua được không mấy khó khăn, nếu ngân hàng thực sự không muốn cho vay tại lãi suất bằng hoặc thấp hơn trần lãi suất cho vay.
Thêm nữa, chẳng có gì đảm bảo rằng doanh nghiệp và người đi vay trước đây nếu được “giải cứu” sẽ tiếp tục vay thêm (vay để làm gì khi đụng vào đâu cũng thấy khó khăn), và đủ điều kiện để vay thêm (ví dụ, có tài sản thế chấp). Vì thế, nếu chỉ trông chờ vào biện pháp này thì tín dụng cũng khó có cơ mà tăng trưởng như mong muốn được. Mà như thế cũng có nghĩa là cả nền kinh tế sẽ chịu lây hậu quả.
Trên hết, chắc NHNN cũng hiểu rõ và cũng chứng kiến hiệu quả nhỏ nhoi của các biện pháp hành chính của mình, từ trần lãi suất huy động đến trần lãi suất cho vay v.v... trong khi cái giá phải trả là sự rối ren, bất an, bất tín trong dư luận, và sự phình to của bộ máy quản lý hành chính chỉ để rình rập, theo dõi, giám sát và đôn đốc thực hiện các biện pháp hành chính mà rốt cục đâu vẫn hoàn đấy.
Như vậy, trong hoàn cảnh khó khăn như hiện nay, một trong những điều cần và nên làm là giảm thiểu những hành động can thiệp mà biết chắc chắn là sẽ không mang lại mấy hiệu quả tích cực ngoài những hậu quả tiêu cực hiển nhiên.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).