Tuesday, 17 April 2012

“Đọc báo giùm bạn”

Hôm nay tớ muốn xoay 2 đồng chí nhân đọc các bài báo liên quan đến 2 đồng chí này.

Đồng chí thứ nhất là đồng chí TS Trần Đình Thiên (sorry anh Thiên là nếu tình cờ anh có đọc được bài này thì anh bỏ quá cho em nhé, vì thực ra em chỉ phê cái quan điểm của anh thôi, để lần sau em vẫn còn cơ hội được diện kiến anh). Trong bài Hạ lãi suất nhưng cung tiền vẫn bị “bóp nghẹt””. Điều đập vào mắt tớ đầu tiên là chuyện so sánh lãi suất ở Việt Nam với lãi suất của các nước khác và kết luận rằng doanh nghiệp Việt Nam chịu lãi suất quá cao so với các đối thủ ở những nước này. Hôm trước tớ vừa mới phê một đồng chí tác giả trên VEF về chuyện này xong, không ngờ nay đồng chí Thiên cũng nói hệt như đồng chí trên VEF, thế mới gay go!

Đồng chí Thiên nói là lãi suất Việt Nam cao hơn, ví dụ của Trung Quốc (20-22% so với 6,6%). Thế sao đồng chí không so sánh lãi suất của Trung Quốc với lãi suất rất thấp của Mỹ, Nhật, Tây Âu và kết luận là doanh nghiệp Trung Quốc bị thua thiệt so với/không cạnh tranh được với doanh nghiệp của những nước này? Nếu không kết luận được như vậy, thì vấn đề không nằm ở cái lãi suất danh nghĩa. Điều khác biệt ở Việt Nam so với các nước khác nằm ở mức lạm phát, là điều mà chẳng đồng chí nào, không hiểu vì lý do gì, buồn động đến, thế mới lạ. Và cũng như tớ đã nói trước đây, khi doanh nghiệp còn khả năng tăng giá bán hàng hóa, dịch vụ thì cho dù lãi suất (danh nghĩa) có cao hơn nhiều các đối thủ trong khu vực, sự tăng giá bán là đủ và thừa để hóa giải ảnh hưởng của lãi suất cao tương đối này.

Đồng chí thứ hai lại là đồng chí Vũ Viết Ngoạn (và cả đồng chí Trương Đình Tuyển), trong bài Cứudoanh nghiệp bất động sản, phải kích cầu đầu ra”. Hình như hai đồng chí này vừa có cuộc làm việc với các doanh nghiệp bất động sản Sài Gòn để “nhận diện thực tế những khó khăn, sức chịu đựng của doanh nghiệp”, với  “kết quả đánh giá bước đầu... (là) đã bắt được “căn bệnh” mà các doanh nghiệp đang gặp phải. Vấn đề còn lại là phải đưa ra được những liều thuốc khả thi để cứu doanh nghiệp trong thời gian sắp tới”.

Chuyện lẽ ra chẳng có gì đáng nói ở những cuộc công tác kiểu này, toàn là “cưỡi ngựa xem hoa”, để rồi các nhận định và giải pháp đa phần chỉ là chung chung, muốn hiểu kiểu nào thì hiểu, và hiểu kiểu gì cũng chẳng chết ai. Có điều, trong chuyến đi lần này của đồng chí Ngoạn và đồng chí Tuyển, tớ thấy nổi lên hai vấn đề mà không nhất thiết là “chẳng chết ai”.

Vấn đề thứ nhất, đã là chuyến đi nhận diện những thực tế khó khăn thì một cuộc tiếp xúc với những đối tượng liên quan để nghe người ta phàn nàn về những khó khăn của người ta không mang lại mấy thu hoạch khách quan và giá trị hữu ích. Nếu nghe và hứa qua loa rồi để đấy thì không sao. Nhưng nếu để biết được thực chất của vấn đề thì cần phải làm hơn thế nhiều, ví dụ phải thẩm tra sổ sách kế toán, phân tích tình hình tài chính, kinh doanh của doanh nghiệp liên quan, phải làm những điều tra độc lập có những số liệu minh họa đáng tin cậy v.v...

Vấn đề thứ hai, khi mới chỉ nghe một chiều, qua một cuộc gặp gỡ độ một vài giờ thì lẽ thường của những nhà làm chính sách dày dặn kinh nghiệm là tránh không kết luận bất cứ cái gì mang tính khẳng định (đơn giản vì thực tế kết quả có thể hoàn toàn khác so với những gì các doanh nghiệp kêu ca để có lợi cho họ), và đặc biệt là không nên/được đưa ra một lời hứa cụ thể về đường hướng chính sách có lợi rõ ràng cho nhóm lợi ích có liên quan. Nhưng 2 đồng chí này đã vi phạm nguyên tắc này. Đồng chí Tuyển thì kết luận ngay doanh nghiệp bất động sản gặp khó khăn là một thực tế, sản phẩm không bán được, vậy thì phải kích cầu. Nói đồng chí Tuyển vi phạm vì không phải doanh nghiệp bất động sản nào cũng khó khăn (như vậy); nếu có khó khăn thì có thể do lỗi của doanh nghiệp đó không biết kinh doanh nên chẳng có thể đổ lỗi cho ai được; sản phẩm không bán được có thể vì doanh nghiệp vẫn không muốn hạ giá (hơn nữa) hoặc đơn giản là uy tín của doanh nghiệp xuống thấp, chẳng người mua nào muốn bỏ tiền ra mua sản phẩm mà chẳng biết có được nhận không, sản phẩm có ra cái gì không v.v... mà như vậy thì tại sao nhà nước cần phải kích cầu bất động sản? Vân vân và vân vân.

Đồng chí Ngoạn cũng giống đồng chí Tuyển ở chỗ là cũng nhìn nhận thực tế là thị trường bất động sản và các lĩnh vực liên quan đang rất khó khăn. Không biết các đồng chí này rút ra được nhận xét này là trước hay sau khi gặp gỡ các doanh nghiệp bất động sản. Nếu trước thì có thể nói rằng cuộc gặp gỡ trên là vô ích. Nếu sau thì rõ ràng các đồng chí đã vi phạm nguyên tắc như tớ nói trên. Hơn thế nữa, đồng chí Ngoạn hứa “Sẽ kiến nghị Chính phủ có chính sách linh hoạt hơn, chẳng hạn như có chính sách hỗ trợ các DN BĐS có khả năng tiếp tục triển khai dự án, sản phẩm dự án có thể bán được bằng cách cho giãn nợ, cơ cấu lại nợ và cho vay mới”. Đến đây thì sự vi phạm của đồng chí Ngoạn càng trầm trọng hơn vì đồng chí định dùng bàn tay can thiệp của nhà nước để làm lợi cho nhóm lợi ích bất động sản với cái giá phải trả đặt lên vai khối ngân hàng hoặc rốt cuộc là người nộp thuế (giãn nợ, cơ cấu lại nợ và cho vay mới).

Thôi, tớ không kết luận lung tung gì nữa, để bạn đọc tự phán xét cho khách quan.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).