Friday, 6 April 2012

Giảm thiểu ngay những can thiệp hành chính (Bai dang tren Dai bieu Nhan dan)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=242977

07:59 | 07/04/2012
Chỉ riêng trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, ngày càng xuất hiện nhiều kiến nghị của các tổ chức, chính quyền gửi đến Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các cơ quan có thẩm quyền khác nhằm “giải cứu” cái nọ, “khôi phục” cái kia, nhất là khi nền kinh tế rơi vào tình trạng khó khăn như hiện nay. Mới đây nhất: ngày 4.4, UBND TP Cần Thơ đã đề nghị UB Kinh tế yêu cầu NHNN “tạo điều kiện” cho doanh nghiệp thủy sản ở địa phương tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi để duy trì sản xuất.
 
Giải thích cho đề nghị này, UBND TP Cần Thơ cho rằng, hầu hết doanh nghiệp thủy sản đều dựa vào nguồn vốn vay của ngân hàng, với lãi suất 19-25%/năm, thậm chí có doanh nghiệp vay với lãi suất 28%/năm, nhưng vẫn không dễ dàng tiếp cận nguồn vốn. Điều này dẫn đến việc doanh nghiệp nâng giá mua nguyên liệu cao hơn 10 - 20% nhưng kéo dài thời gian thanh toán nhằm chiếm dụng vốn. Mặt khác, một số doanh nghiệp có vốn mạnh đã lợi dụng tình hình này ép giá nguyên liệu, gây khó khăn khiến nông dân nuôi cá lâm vào cảnh điêu đứng vì nợ nần.

Một tuần trước đó, Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Cần Thơ cho biết, hiện nay tình hình của người dân nuôi cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long đang gặp khó khăn, mà trước hết là khó ở khâu tiếp cận nguồn vốn ngân hàng. Do đó, họ kiến nghị phía ngân hàng nên giãn nợ cho các nông dân nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh các doanh nghiệp chế biến thủy sản hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, chưa thanh toán được các hợp đồng theo mùa vụ. Ngân hàng cần tiếp tục hỗ trợ vốn vay đầu tư cho các doanh nghiệp chế biến, và thời gian tới lãi suất nên tiếp tục hạ thêm nữa để các doanh nghiệp tiết giảm được chi phí đầu vào. Thị trường tiêu thụ gặp khó khăn, lãi suất ngân hàng cao, khiến doanh nghiệp không có khả năng trả nợ, làm nhiều doanh nghiệp không trụ được, buộc phải tuyên phá sản hoặc sáp nhập, bán cho người khác v.v... là những lập luận được Sở này đưa ra để hậu thuẫn cho đề nghị của mình.

Vẫn hiểu rằng, động cơ của lời đề nghị trên của UBND TP Cần Thơ và Sở Kế hoạch và Đầu tư có thể là hoàn toàn thiện ý, trong sáng, không nằm ngoài mục đích cuối cùng là bảo vệ quyền lợi cho những người nông dân nuôi cá (và người làm công ăn lương có liên quan), vốn được coi là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất bởi những biến động của thị trường. Nhưng cách làm này vừa không giải quyết đúng căn nguyên gây ra vấn đề (nông dân lâm vào cảnh điêu đứng vì nợ nần, doanh nghiệp lao đao, phá sản...), vừa là tiền đề dẫn đến hàng loạt bất ổn và rủi ro khác cho ngành tài chính, ngân hàng, cả nền kinh tế.

Cụ thể hơn, đọc phần giải thích bên trên cho việc làm của UBND TP Cần Thơ và Sở Kế hoạch và Đầu tư, có thể thấy ngay rằng vấn đề hoàn toàn là bình thường nhìn từ góc độ thương mại, khi mà lãi suất cho vay cao như thế không chỉ đối với doanh nghiệp trong ngành thủy sản mà còn cho cả doanh nghiệp trong phần còn lại của cả nền kinh tế. Nói cách khác, khó khăn này là chung cho cả toàn bộ nền kinh tế. Quan trọng hơn, cần phải hiểu rằng khó khăn này là hậu quả tất yếu, và có thể nhìn thấy trước, của một chủ trương lớn hơn, có ý nghĩa hơn cho toàn bộ nền kinh tế: thắt chặt chính sách tiền tệ để chống lạm phát. NHNN không thể và không nên vì quyền lợi của một nhóm doanh nghiệp và kể cả nông dân nuôi trồng thủy sản để bất cẩn hạ lãi suất làm phương hại đến cả nền kinh tế.

Vấn đề càng trở nên dễ hiểu hơn nếu giả sử tất cả các ngành, các doanh nghiệp, tổ chức đều lấy đó làm gương, theo nhau thỉnh cầu kiểu này, tất nhiên là đòi quyền lợi cho nhóm lợi ích riêng của họ. Lúc đó, nếu có được đáp ứng thì không những các chính sách vĩ mô bị bóp méo nghiêm trọng, không còn tác dụng như thiết kế ban đầu, mà hậu quả của những nhân nhượng chính sách này để lại sẽ càng nhân lên bội phần. Thử hình dung nếu NHNN đồng ý và yêu cầu các ngân hàng thương mại cho giãn nợ cho nông dân, cho doanh nghiệp thì quả bom nợ xấu của hệ thống ngân hàng sẽ còn phình to đến đâu và ai sẽ là người cuối cùng phải giải quyết chúng nếu không phải là NHNN mà rốt cuộc là cả nền kinh tế phải gánh chịu?

Hơn nữa, cần nhìn sâu hơn vào bản chất của vấn đề. Theo giải thích của UBND TP Cần Thơ thì doanh nghiệp thủy sản cố tình chiếm dụng vốn của nông dân nuôi trồng, hoặc ép giá, khiến nông dân phải lâm vào cảnh nợ nần. Nếu đúng vậy thì đối tượng phải xử lý, và phải xử lý theo pháp luật dân sự, là các doanh nghiệp này, vì đã phá vỡ hợp đồng mua bán dân sự với người nông dân và chiếm dụng vốn của họ. Dù có cho rằng doanh nghiệp phải làm thế vì họ gặp khó khăn trong chuyện vay vốn ngân hàng, thì đây cũng không phải là lý do chính đáng để yêu cầu giúp đỡ từ phía ngân hàng. Có thể, trên danh nghĩa, nông dân là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất, cần bảo vệ, nhưng không phải trong mọi hoàn cảnh, bằng mọi giá. Nông dân cũng là một chủ thể trong nền kinh tế, nên các hoạt động kinh tế của họ cần phải được đối xử bình đẳng như mọi chủ thể khác, ví dụ như các pháp nhân doanh nghiệp, về quyền lợi và nghĩa vụ trước pháp luật và chịu sự điều chỉnh theo các quy luật thị trường. Hoạt động nuôi trồng thủy sản của họ là một hành vi kinh tế nên sẽ có lúc thành công, lúc thất bại. Nếu nhìn từ quy luật thị trường, hành vi “ép” giá của doanh nghiệp “có vốn mạnh” chẳng có gì là sai trái, vô đạo đức cả, khi mà nông dân đua nhau bán sản phẩm, làm tăng cung, làm tăng áp lực giảm giá, gây thua lỗ, nợ nần cho chính nông dân. Cho dù là nông dân thì họ vẫn phải chịu trách nhiệm hoàn toàn với quyết định tham gia nuôi trồng thủy sản, vay vốn, tổ chức sản xuất, thị trường tiêu thụ, thời điểm và giá bán sản phẩm của mình. Không ai có thể đứng ra gánh thay cho họ những hậu quả phát sinh từ hoạt động của họ.

Áp dụng cùng một logic phân tích như trên, ta có thể thấy ngay sự vô lý của Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Cần Thơ yêu cầu ngân hàng thương mại giãn nợ cho các doanh nghiệp thủy sản. Cần phải kiên quyết nói không với những lời đề nghị và kêu gọi kiểu này. Và cũng nên có những chỉ đạo từ chính quyền Trung ương nhằm hạn chế sự can thiệp hành chính của chính quyền địa phương vào các quan hệ thương mại, dân sự thuần túy.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).