Friday, 13 April 2012

“Đọc báo giùm bạn”

Tớ mở cái mục mới này và từ bây giờ chở đi thỉnh thoảng sẽ mang một số bài viết và nói của ai đó ra để bình luận. Tùy theo mục đích mà sẽ có những tiểu mục đại loại như “Đọc báo giùm bạn để tự nâng bi tớ”, hoặc “Đọc báo giùm bạn để đè thiên hạ” v.v... (Tự nhiên tớ học được từ “nâng bi” này của một đồng chí anonymous nào đó hôm nọ vào comment cho tớ, thấy hay quá mượn luôn!).

Hôm nay, tới bắt đầu bằng mục “Đọc báo giùm bạn để tự nâng bi tớ”, với một số bài đáng chú ý đăng trên TBKTSG tuần này.

Bài đầu tiên tớ muốn đề cập đến là bài có tiêu đề: “Những vấn đề từ đề án tái cấu trúc”. Trong bài này có đoạn mà tớ lấy làm tâm đắc nhất, đơn giản vì nó liên quan đến chuyện mà tớ với đồng chí TL đang tranh luận, cụ thể là chuyện có nên đặt ra yêu cầu vốn tối thiểu hay không. Tớ thì chủ trương cho rằng quy mô vốn không có ý nghĩa, cái cần là thực hiện các tiêu chuẩn an toàn hoạt động, trong đó có tiêu chuẩn Basel II và III.  Đồng chí TL thì tất nhiên là có quan điểm ngược lại, nhấn mạnh rằng quy mô vốn vẫn là cần thiết, nhiều nước vẫn đặt ra.

Trong bài trên, đồng chí tác giả đã lập luận rất giống tớ (trang 57, đoạn đầu), thậm chí còn đề cập cả đến Basel II (chỉ không có Basel III). Khi tự nhiên có 2 người chẳng quen biết gì nhau mà nói giống nhau đến 99% thì suy ra rằng điều họ nói là chân lý, đồng chí TL thông cảm nhé!

Bài thứ hai là bài “Hãy kiên nhẫn hơn chút nữa” của 1 đồng chí (cũng là TS, tớ chưa nghe tên bao giờ).  Đọc tiêu đề và sau đó là nội dung bài, tớ đoán đồng chí tác giả này một là đã đặt cho bài một cái tên khác nhưng bị tòa soạn đổi cho nhẹ nhàng hơn, hoặc là đồng chí tác giả đã cố gắng rất nhiều để đưa một vấn đề hết sức quan trọng và “nhạy cảm” đến được tay người cần đọc mặc dù phải dằn mình đặt một cái tiêu đề khá “cải lương”, cốt sao đạt được mục đích.

Bài viết có những lý luận cơ bản như sau. Chính sách tiền tệ thắt chặt đã phát huy tác dụng trong việc kiềm chế lạm phát. Lãi suất vọt lên cao và tổng cầu đã giảm mạnh (gây ra các hậu quả như đã và đang thấy). Nhưng điều tất yếu và tự nhiên sắp tới là lãi suất sẽ phải tự động hạ, và trong quá trình điều chỉnh này thì các doanh nghiệp phụ thuộc nặng vào tín dụng ngân hàng sẽ là doanh nghiệp hứng chịu hậu quả nhất, nhưng là điều nên làm/nên để xảy ra. Hơn nữa, (giống như tớ nói!) tăng trưởng tuy được cho là đã chậm lại nhưng vẫn là 4%, trong khi tổng cầu có xu hướng phục hồi, và diễn biến của lãi suất và tồn kho không có gì bất thường mà vẫn đúng như lộ trình dự tính. Tóm lại, chẳng có gì ghê gớm đến độ phải làm ầm ĩ như hiện nay cả, và sự thay đổi/điều chỉnh chính sách lúc này chỉ có hại. Quan trọng là câu nhận định: “Như vậy thời điểm hiện nay không phải là thời điểm tối ưu để can thiệp vào thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp. Thời điểm thích hợp là khi lãi suất cho vay về mức xung quanh 10%...”. Các đồng chí đọc câu này, bài này có thấy “quen quen”, giống với những gì tớ nói không?  Lại phải nhắc lại một lần nữa rằng tớ phục tớ quá!

Bài thứ ba thì liên quan đến câu trả lời của tớ cho một đồng chí anonymous khác trong entry “Ai bảo báo chí không cần/không nên bị kiểm duyệt?”. Tớ có nói mò, nói liều về một số rủi ro gắn với những dự báo kinh tế, như là dự báo thường là từ trên trời rơi xuống, dự báo làm cho nhiều người thấy ham nhảy vào, dự báo nhưng không lường trước được những yếu tố bất ngờ, làm thay đổi toàn bộ cán cân cung cầu, giá cả.

Nay trên TBKTSG tớ thấy bài “Điều đang tiêu!”. Càng đọc càng phục mình sao mà nói liều thành nói trúng thế, vì bài viết mô tả tình cảnh thị trường điều phải đối mặt với tất cả những gì tớ giàu trí tưởng tượng nêu ra như trên. Đồng chí nào còn “lăn tăn” về tài nói liều của tớ xin mời vào đọc để mà thêm phục tớ nhé!

Hôm nay tạm thời dừng việc tự mình nâng bi mình ở đây đã không thì bạn đọc choáng mất.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).