Friday, 14 August 2015

Chỉ thị 05 khó siết tín dụng vào giao thông (Bài đăng trên TBKTSG, 14/8/2015)

 http://www.thesaigontimes.vn/134275/Chi-thi-05-kho-siet-tin-dung-vao-giao-thong.html

(TBKTSG) - Chỉ thị 05/CT-NHNN rất có thể không có tác động giảm thiểu rủi ro trong việc cấp tín dụng cho các dự án giao thông như mong muốn, do còn khá mơ hồ về mục tiêu và giải pháp triển khai.
Ngày 15-7-2015, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Chỉ thị 05/CT-NHNN về tăng cường kiểm soát rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng đối với các dự án BOT, BT giao thông. Theo đó, để đảm bảo tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, bền vững theo đúng mục tiêu đã đề ra, giảm thiểu rủi ro trong việc cấp tín dụng đối với các dự án BOT, BT giao thông, đặc biệt các dự án có thời gian thu hồi vốn dài, NHNN yêu cầu các đơn vị thuộc cơ quan mình và các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài triển khai các công việc liên quan định hướng này.
Chỉ thị này ra đời vì, theo NHNN, nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) đã đầu tư một nguồn vốn lớn cho các dự án hạ tầng giao thông. Xu hướng này đang gia tăng trong khi việc cấp tín dụng này còn “một số bất cập chưa đánh giá đầy đủ những rủi ro có liên quan”. Mặt khác, Chính phủ cũng đã giao NHNN thúc đẩy tăng trưởng tín dụng gắn với bảo đảm cơ cấu tín dụng phù hợp, trong đó tập trung tín dụng vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, đồng thời giám sát chặt chẽ khi cho vay các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro (bất động sản, dự án thu hồi vốn thời gian dài...).
Với sự “chỉ mặt, vạch tên” cụ thể như vậy, Chỉ thị 05 được cho là sẽ siết chặt, làm giảm dòng tín dụng cấp cho các dự án giao thông (theo hình thức BOT và BT), và nhận được sự ủng hộ của Bộ Giao thông Vận tải là nơi hoạch định và triển khai kế hoạch phát triển hạ tầng cơ sở giao thông.
Tuy vậy, trên thực tế, Chỉ thị 05 rất có thể sẽ không có tác động như ý muốn vì ít nhất hai lỗ hổng sau.
Trước tiên, chỉ thị này đã bỏ qua, bỏ sót nhiều hình thức dự án giao thông khác, ngoài BOT và BT. Nếu lấy Nghị định 15/2015/NĐ về đầu tư theo hình thức đối tác công - tư làm chuẩn thì các dự án đầu tư công - tư nói chung và vào lĩnh vực giao thông vận tải nói riêng không chỉ dưới hình thức BOT và BT, mà còn có các hình thức khác, như BTO, BOO, BTL, và BLT.
Vì Chỉ thị 05 chỉ đề cập BOT và BT (có thể vì đây là hai hình thức dự án phổ biến nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng cấp cho các dự án xây dựng giao thông) nên có thể coi NHNN không hoặc chưa có ý định hạn chế tín dụng vào các dự án dưới hình thức khác như trên. Bởi vậy, lượng tín dụng đổ vào các dự án giao thông nói chung trong thời gian tới sẽ khó mà giảm đi hoặc đỡ rủi ro hơn theo ý muốn của NHNN nếu vì một lý do nào đó các dự án giao thông dưới các hình thức này lại tăng mạnh. Đó là chưa kể đến khả năng các chủ dự án và các NHTM tìm cách “lách” Chỉ thị 05 bằng cách chuyển đổi các dự án lẽ ra mang hình thức là BOT và BT sang các hình thức dự án khác để thoát khỏi ràng buộc, nếu có, của Chỉ thị 05.
Lỗ hổng thứ hai nằm ở sự khá mơ hồ về mục tiêu và giải pháp triển khai. Với cả hai nhóm đối tượng áp dụng chỉ thị này, là các đơn vị thuộc NHNN và các tổ chức tín dụng, những nội dung chỉ đạo thực hiện đều có tính chất thiên về “định tính”. Với các đơn vị trực thuộc, là những nhắc nhở về thực hiện tốt hơn các công việc và nhiệm vụ thường ngày, thường xuyên của các đơn vị này như “tham mưu cho Thống đốc”, “kiểm soát chặt chẽ”, tăng cường quản lý”, “xem xét thận trọng”... mà không đưa ra được một tiêu chí nào để làm cơ sở cho các đơn vị trực thuộc thực hiện.
Ví dụ, trong giải pháp “kiểm soát chặt chẽ tình hình tăng trưởng tín dụng và chất lượng tăng trưởng tín dụng, đặc biệt đối với các dự án BOT và BT giao thông”, như thế nào, trong phạm vi nào mới được coi là “chặt chẽ”, “thận trọng”... lại không thấy chỉ thị đề cập. Ở giác độ này, các tổ chức tín dụng sẽ có lý do để nói rằng ngay bản thân NHNN cũng còn chưa có những tiêu chí, mục tiêu cụ thể, rõ ràng gì thì sao bắt họ thực hiện tốt việc hạn chế rủi ro cho vay BOT, BT giao thông cho được?
Với các tổ chức tín dụng cũng có sự mơ hồ tương tự như vậy, chỉ thị đưa ra một loạt chỉ đạo hết sức định tính như “nghiêm chỉnh chấp hành”, “hạn chế và kiểm soát chặt chẽ”, “nâng cao năng lực đánh giá”, “thận trọng khi xem xét”, “chủ động nghiên cứu”... Cứ theo lẽ thường, đã để đến mức phải bị chỉ đạo như vậy thì có nghĩa là các NHTM đã và đang vi phạm nhiều quy định, nguyên tắc, luật lệ của hệ thống ngân hàng? Vậy sao NHNN không thẳng thắn chỉ ra ngay những vi phạm và yếu kém (ở đâu, như thế nào...) và thẳng tay áp dụng các chế tài để trừng phạt và buộc các ngân hàng vi phạm phải tuân thủ luật lệ, chứ nhắc nhở chung chung làm gì?
Tóm lại, chỉ với hai lỗ hổng nói trên có thể thấy rằng Chỉ thị 05 chỉ có ý nghĩa như là một hành động thể hiện cam kết của NHNN trước, và theo đúng chỉ đạo của Chính phủ về việc đảm bảo tín dụng phát triển lành mạnh, hơn là một chương trình hành động cụ thể, hữu hiệu với những tác động đáng kể đến công tác tín dụng (theo hướng siết chặt lại) nói chung và tín dụng cho các dự án giao thông nói riêng.
Do đó, để kiểm soát và hạn chế rủi ro tín dụng cho dự án giao thông nói chung, bao gồm cả các dự án BOT và BT, NHNN cần thiết phải áp đặt thêm các hạn chế định lượng cho lĩnh vực này cũng giống như họ đã (từng) làm cho các lĩnh vực như chứng khoán, bất động sản, trái phiếu chính phủ... Chẳng hạn, NHNN đặt giới hạn tỷ trọng tín dụng của (mỗi) NHTM cấp cho các dự án giao thông không quá x% tổng tài sản hoặc tổng dư nợ của họ (và tỷ lệ x này có thể khác nhau với mỗi ngân hàng).
Cũng cần lưu ý thêm rằng NHNN đã giao chỉ tiêu hạn mức tín dụng cho từng ngân hàng trong từng năm. Nếu phối hợp thêm với quy định giới hạn định lượng tín dụng của mỗi NHTM được cấp cho dự án giao thông như nói trên, và với điều kiện nữa là NHNN kiên quyết không cho phép các NHTM vượt chỉ tiêu hạn mức tín dụng tổng thể và hạn mức tín dụng được phép cấp cho lĩnh vực giao thông ở một nhtm, thì có thể loại bỏ được phần lớn rủi ro về việc các NHTM cho vay quá mức vào các dự án giao thông.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).